Mẹ Việt Nam Anh hùng

Lê Thị Cơ

Má Lê Thị Cơ sinh năm 1929, quê quán ở ấp Hố Bò, xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Má dời về thị trấn Trảng Bom (nay thuộc huyện Trảng Bom) xin vào làm công nhân cạo mủ trong đồn điền từ năm 1967.

An Giang21/05/2026ĐOÀN TRƯỜNG CĐSP KIÊN GIANG (ĐOÀN TRƯỜNG CĐSP KIÊN GIANG)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Má Lê Thị Cơ sinh năm 1929, quê quán ở ấp Hố Bò, xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Má dời về thị trấn Trảng Bom (nay thuộc huyện Trảng Bom) xin vào làm công nhân cạo mủ trong đồn điền từ năm 1967. Mảnh đất Củ Chi những năm chống Mỹ cực kỳ ác liệt, là nơi chà xát, đánh phá dữ dội của quân thù, cũng là nơi lập nên bao kỳ tích anh hùng của quân và dân ta. Có chồng, có con trực tiếp chiến đấu với quân thù, má Lê Thị Cơ còn tham gia các công việc được cách mạng giao: tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men cho bộ đội, tham gia phá ấp chiến lược, tập hợp chị em đấu tranh chính trị với giặc. Lần má bị tù, rồi sinh con trong tù là sau một đợt tập hợp chị em đấu tranh chính trị đầu năm 1961, má kể là “đợt nhì” (tính từ sau Đồng khởi 1960) mấy lần giặc xúc về ấp chiến lược là mấy lần má bỏ trở về làng cũ. Chuyển về Trảng Bom, má vẫn vừa đi cạo mủ, làm rẫy nuôi ba con thơ dại, vừa tham gia công tác cách mạng. Cái chất “Củ Chi đất thép kiên cường” có ở trong mỗi người dân đất này vẫn chảy trong con người má. Má Lê Thị Cơ có ba người thân hy sinh cho cách mạng. Ông Lục Văn Đon (chồng má), sinh năm 1922, nhập ngũ tháng 9/1945, chức vụ: Đoàn phó Đoàn 83 Cục Hậu cần, hy sinh ngày 15/11/1965. Hai người con: anh Lục Văn Quân, sinh năm 1949, nhập ngũ 15/1/1962, cấp bậc trung sĩ Đoàn 83 Cục Hậu cần, hy sinh ngày 20/5/1966. Chị Lục Cẩm Vân, sinh năm 1953, nhập ngũ ngày 15/6/1966. Trong một chuyến đi công tác, chị bị địch bắt. Sau khi tra tấn, không khai thác được ở chị một lời nào, kẻ địch đày chị ra nhà tù Côn Đảo. Ngày 30/3/1969, chị đã hy sinh anh dũng sau một đợt tra tấn dã man của kẻ thù. Trong vòng bốn năm, má Cơ mất đi ba người thân yêu nhất. Chồng má hy sinh đang ở tuổi 33 tràn đầy sức sống. Khi ấy, má Cơ mới 27, 28 tuổi, một nách ba con nhỏ dại, đứa lớn nhất mới 11, 12 tuổi, nhỏ nhất mới được vài tháng tuổi. Hai người con nhập ngũ khi mới mười ba tuổi, hy sinh ở tuổi 16, còn rất trẻ, mới chớm bước vào tuổi thanh niên. Khó có thể nói hết nỗi đau, nỗi gian truân má đã phải chịu đựng, đã trải qua những năm tháng ấy. Má kể: bữa ông Đon chỉ huy bộ đội tham gia đánh trận Tua Hai, tôi đã nghe đồn ông ấy hy sinh, tôi vội đi theo đường công khai dẫn theo cả mấy đứa nhỏ lên, tới đó mới biết là không phải và nhờ cơ sở móc ông ấy ra. Chờ hoài cả tuần không gặp vì ông ấy còn bận đi họp xa. Tôi tức quá phải về. Ít lâu sau có đợt đi theo đường dây, đi bộ 7 ngày, 7 đêm mới tới trển. Lúc đó ông ấy đi họp mới vừa về. Tôi ở chơi 20 ngày, có thai thằng nhỏ (sinh năm 1961) là bác sĩ ở bệnh viện tỉnh Sông Bé bây giờ. Sau đó về tập hợp chị em đấu tranh chính trị đợt nhì, tôi bị chúng bắt giam gần cả năm, phải đẻ con trong tù. Tôi đi hoạt động, bà già chồng không biết, bà “rên” dữ. Có bữa đi đêm về, bà cho mấy đứa nhỏ ràng cửa không cho vô. Tôi đẻ con nhỏ út được có tháng mấy thì ổng về. Bữa đó, tôi gửi con ở nhà, dẫn theo 8 chị em đi mua hàng tiếp tế tận Trảng Bàng (Tây Ninh) cho bệnh xá bộ đội mình. Ông về nằm võng, ẵm nựng con rồi mệt quá ngủ. Con nhỏ vẫn nằm trong lòng ổng. Tôi về, đi mua nửa ký thịt, mua bánh tráng, bún, kiếm rau càng cua về làm bữa. Ăn xong thì ông ấy đi. Ông ấy còn qua nhà con em. Nó mần con gà nấu cháo cho ông ấy ăn. Ông ấy bảo: anh đi đợt này, lâu mới được về. Ai ngờ đấy là lần gặp gỡ cuối cùng của ông ấy với những người thân. Nghe tin ông ấy hy sinh, tôi ẵm con nhỏ gởi ở nhà cô nó, vội vã lên Tây Ninh. Đơn vị ông ấy hồi đó đóng ở Cổ Tránh, Xóm Chùa, đường đi Dầu Tiếng. Tìm được tới nơi thì họ vừa lấp đất kín quan tài. Ông ấy hy sinh cùng 6 người khác. Thằng Quân con tôi lúc đó cũng đã đi bộ đội. Các ảnh ở đơn vị về nói với tôi để cho nó ra Bắc học. Tôi nói, tôi có nó là con trai lớn, nó đi xa, tôi biết đâu kiếm. Năm sau, đơn vị lại cho người về nói nữa, tôi vẫn không chịu. Sau các ảnh cho nó đi học văn hóa ở căn cứ trên núi Bà Đen. Bữa ba nó hy sinh, các ảnh không cho nó biết vì nó đang thi. Thi xong, về nhà nó mới biết. Thằng ấy gan lắm. Nó bị sốt rét, về nhà lên cơn sốt, nằm run “xạch xạch” trên võng mà không rên một tiếng. Tôi kiếm thuốc cho uống, khi bớt mới trở lại đơn vị. Lần tôi đi thăm bà nội nó ở Bình Dương, nó về thăm không gặp. Tôi về hỏi mấy đứa em nó, chúng nói anh Hai về căng võng ngủ một đêm rồi đi. Anh nói tính về thăm má, thăm mấy em rồi xin má mấy nghìn. “Anh xin tiền má mua bông tặng cô nào?” - Mấy đứa em trêu - “Anh xin để mua chiếc xe đạp làm chân đi” - Nó phải nói thật. Mấy đứa nói, má cho anh chiếc xe đạp, anh cứ lấy xe của má mà đi. Nó nói: “Không được, xe này là của má, anh lấy đi, má không có xe làm sao mua đồ, làm sao nuôi được tụi em”. Đấy cũng là chuyến về thăm cuối cùng của nó. Nó hy sinh cùng 4 đồng chí ở Rừng Láng (Hố Bò) bị bom dội trúng hầm. Con Ba Vân đi “mật thành” (biệt động thành). Mấy lần tôi bị xúc vô ấp chiến lược, con Vân về thăm kiếm lòng vòng ở ngoài không được lại trở lại đơn vị. Có bữa, tôi vừa mới thoát ra, hên sao lại gặp nó. Tôi nói, lần sau con cứ về trên quê, từ nay đến Tết không ra được, má cũng đạp rào mà ra. Nó về báo cáo đơn vị hoàn cảnh tôi bị xúc vô ấp chiến lược, các em nhỏ bị bệnh tật. Đơn vị cho nó về phụ giúp tôi ít ngày. Nó mua quần áo, mua đồ chơi về cho mấy đứa em. Được nửa tháng, đơn vị cho người về rước nó. Ngày đó, đơn vị nó đóng ở Bến Súc. Nó về đơn vị được ít ngày thì có tin địch bố càn ở trên đó. Và không bao giờ con tôi trở về nữa. Cũng còn một chút may mắn là ngoài chồng và hai người con đầu hy sinh, má Cơ còn 3 người con nhỏ nữa. Bây giờ các anh chị đã trưởng thành. Phần nào tuổi già của má cũng còn chút an ủi, đền đáp. Má được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn