Lê Thị Lầu
Mẹ Lê Thị Lầu sinh năm 1924 và lớn lên ở một làng quê nghèo của nông thôn Nam bộ nhưng giàu truyền thống cách mạng - xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Mẹ Lê Thị Lầu sinh năm 1924 và lớn lên ở một làng quê nghèo của nông thôn Nam bộ nhưng giàu truyền thống cách mạng - xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Cả hai người cha ruột và cha chồng đều là những chiến sĩ cách mạng, hy sinh vào thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Truyền thống quê hương và gia đình đã sớm hun đúc ở người phụ nữ Nam Bộ bình dị này một tình cảm lớn đối với cách mạng và một sự hy sinh cao cả vì cách mạng. Năm 1954, tiễn chồng tập kết ra Bắc, mẹ ở nhà tần tảo nuôi hai con là Nguyễn Văn Ửng (sinh năm 1943) và Nguyễn Văn Hồng (sinh năm 1946). Mẹ cứ nghĩ hai năm sau chồng mình trở về, nào ngờ 21 năm trời đằng đẵng cách xa. Và trong những năm tháng ấy, mẹ đã sống với bao nỗi đau chung của dân tộc và nỗi đau riêng của gia đình. Mỹ - Diệm tiến hành những đợt khủng bố, đàn áp cách mạng miền Nam, mẹ cũng như bao người có người thân đi làm cách mạng, trở thành đối tượng đặc biệt bị chúng theo dõi, o ép. Máy chém của chúng lê đi khắp miền Nam, nhưng phong trào cách mạng vẫn luôn phát triển, lớn mạnh với khí thế sục sôi. Mẹ Lầu là cơ sở và căn nhà của mẹ là nơi nuôi giấu nhiều cán bộ cách mạng. Mẹ tham gia công tác phụ nữ, làm công tác binh vận, tuyên truyền vận động bà con đứng lên đấu tranh diệt ác, phá kềm. Mẹ là người luôn có mặt và tiên phong trong đội quân “tóc dài” của phong trào Đồng khởi Bến Tre. Mấy lần bị địch bắt, đánh đập, khảo tra là bao lần đối diện với cái chết nhưng mẹ vẫn luôn giữ được một lòng kiên trung với cách mạng. Hai người con lớn lên, mẹ lần lượt bố trí cho tham gia Quân Giải phóng miền Nam. Mỗi lần tiễn con đi là lòng mẹ giằng xé, nhưng mẹ cố nén để động viên con mình. Ngày ngày, mẹ dõi theo tin tức chiến trường, trông mong tin con canh cánh trong lòng. Nhưng rồi trong cùng một năm (năm 1969), hai người con của mẹ lần lượt ngã xuống. Nguyễn Văn Ửng hy sinh tháng 1/1969 tại xã nhà. Còn Nguyễn Văn Hồng đơn vị báo hy sinh tháng 9/1969 nhưng ở đâu mẹ chẳng biết được. Hai người con mất đi là nỗi đau lớn của đời mẹ, nhưng cao đẹp thay, mẹ vẫn hăng hái với nhiệm vụ mà cách mạng giao cho đến ngày cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc giành được thắng lợi trọn vẹn. Miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, mẹ vui chung với niềm vui của cả dân tộc, nhưng nỗi buồn là trong đoàn quân chiến thắng trở về mãi mãi không có hai người con của mẹ. Niềm an ủi còn lại là gặp mặt người chồng sau bao nhiêu năm cách xa. Năm 1978, từ miền Bắc trở về, chồng mẹ công tác ở một nhà máy thuộc Khu công nghiệp Biên Hòa, ông đã đón mẹ lên chung sống. Tuy nhiên, đó lại là những năm gian khổ, khó khăn của đất nước, cho nên, mẹ cũng đã phải sống những tháng ngày chật vật, thiếu thốn. Mẹ và gia đình được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba năm 1987. Biên Hòa là quê mới, mẹ cũng chẳng kể công, cũng vì vậy mà địa phương không hề biết để có chính sách quan tâm, đãi ngộ đối với mẹ. Chỉ những năm gần đây, và đặc biệt từ khi được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Viêt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày



