Lê Thị Năm
Má Lê Thị Năm, thường gọi là bà Năm, sinh năm 1917 tại xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai trong một gia đình nông dân nghèo có truyền thống cách mạng.
Má Lê Thị Năm, thường gọi là bà Năm, sinh năm 1917 tại xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai trong một gia đình nông dân nghèo có truyền thống cách mạng. Mảnh đất quê hương mà trong những năm chiến tranh là căn cứ cách mạng với những địa danh nổi tiếng như: Rừng Bàu Hàm, núi Sóc Lu… Ngày 6/11/1978, quê hương Hưng Lộc của má vinh dự được Quốc hội và Chính phủ tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Một buổi sáng mùa hè, khi tiếng ve kêu inh ỏi trên những nhánh phượng trổ bông đỏ ối hai bên đường, chúng tôi tới căn nhà số 30A, khu phố 5, phường Tam Hiệp, TP.Biên Hòa thăm má Năm - người mẹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/ KTCTN ngày 17/12/1994. Thấy người lạ vào nhà, má bỡ ngỡ, nhưng khi biết mục đích của chuyến viếng thăm, má nở nụ cười thật tươi rồi nói: “Tôi mà anh hùng cái gì! Đất nước này còn nhiều bà mẹ anh hùng hơn tôi!” Câu nói thật mộc mạc nhưng chứa đựng cả một tấm lòng của một người mẹ, đã cống hiến cuộc đời của mình và ba đứa con trai cho quê hương đất nước mà vẫn thấy nhỏ nhoi. Xin phép má, chúng tôi thắp ba nén nhang trên bàn thờ để tưởng nhớ về những liệt sĩ anh hùng. Má nhìn lên bàn thờ như cố tìm lại hình ảnh những đứa con thân yêu ruột thịt của mình. Má mới cười đấy thôi, vậy mà khi thấy chúng tôi mặc niệm trước bàn thờ thì nơi khóe mắt, những giọt nước mắt cứ lăn dài. Chúng tôi hiểu má đang thương nhớ các con. Má Năm lấy chồng từ năm 19 tuổi, ông để lại cho má bốn người con là Lê Văn Khuê (còn gọi là Huê) sinh năm 1938; Lê Văn Khiêm sinh năm 1940, Lê Văn Khái sinh năm 1942 và Lê Thị Mọ sinh năm 1944, rồi ông ra đi vĩnh viễn do mắc căn bệnh hiểm nghèo. Một nách bốn con thơ, má sống trong cảnh bần hàn, đói khát. Ít năm sau, má đi thêm bước nữa với một cán bộ cách mạng. Được sự dìu dắt của chồng và các cơ sở tại địa phương, năm 1962, má Năm tham gia hoạt động cách mạng, làm công tác phong trào. Động viên con em trong địa phương lên đường nhập ngũ, vận động bà con trong xã đóng góp tiền của nuôi quân. Má được cấp trên giao nhiệm vụ làm giao liên, nhận và chuyển tin đi các xã trong huyện và vào căn cứ, phụ trách phong trào phụ nữ, rải truyền đơn kêu gọi binh lính đảo ngũ. Má xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng trong xã, huyện như: quán cơm Hưng Long, nhà may Tinh Hoa, nhà may Bích Thủy... Vận động được nhiều gia đình có con, em, chồng đi lính cho địch đảo ngũ hoặc làm nội tuyến cho cách mạng. Với tài giáo dục khéo léo, má đã giác ngộ được ông Sáu Bình (tức Chín Bình Dương) là cha ruột của trưởng đồn Mến tại xã Hưng Lộc, bà Ba Bi vợ lính, Đức lùn - trung đội trưởng trung đội bảo an, Ba Chay - trưởng ấp, trung sĩ Mến... chấp nhận làm nội tuyến, cung cấp tin tức cho cách mạng. Việc làm của má đã giúp cho việc chuyển tin tức đi các xã trong huyện và vào căn cứ dễ dàng. Má đươc bà con tin yêu, cấp trên tín nhiệm. Bà Trần Thị Thương (Hai Điểm) - nguyên là Phó Bí thư chi bộ B (hoạt động trong lòng địch) - đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, người trực tiếp giao nhiệm vụ và cùng ở tù với má Năm, nhận xét về má: “Được giao nhiệm vụ dù khó khăn đến mấy, bà Năm cũng hoàn thành. Bà có tính gan lì, thẳng thắn, không sợ hy sinh, chỉ mong làm được nhiều việc cho cách mạng... Chúng tôi tin tưởng tuyệt đối về bà...” Khi được hỏi các con má tự nguyện lên đường nhập ngũ hay do gia đình giáo dục, động viên? Má có bị địch bắt tra tấn lần nào không? Má Năm đưa mắt nhìn lên ba tấm bằng Tổ quốc ghi công được xếp ngay ngắn trên bàn thờ và nhìn xuống chân trái đã bị liệt của mình, rồi nhìn vào khoảng không trước mặt để cố nhớ lại những kỷ niệm vui buồn của má và các con trong thời kỳ hoạt động cách mạng đã qua. Má có ba người con trai thì chỉ có người con cả Lê Huê là đã lập gia đình. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, được sự động viên của gia đình, năm 1965, Lê Khiêm lên đường nhập ngũ. Anh là chiến sĩ Huyện đội Xuân Lộc. Tháng 9/1967, trong một lần cùng đơn vị vô Bảo Chánh tải gạo, anh bị địch phục kích và đã anh dũng hy sinh trong độ tuổi thanh xuân. Khi hay tin anh mình bị địch giết, Lê Khái - đứa em út rất uất hận nên chỉ ít ngày sau anh đã lên đường chiến đấu để trả thù cho người anh thân yêu của mình. Lê Khái là chiến sĩ bảo vệ - cơ quan Tỉnh ủy Biên Hoà (cũ). Lê Khái thông minh, nhanh nhẹn, được đồng đội tin yêu, cấp trên tín nhiệm. Đầu năm 1972, chỉ trước ngày cưới vợ một ngày, trong khi làm nhiệm vụ anh đã lấy thân mình che đạn cho đoàn cán bộ và đã anh dũng hy sinh tại Gia Kiệm. Tiếp bước cha và các em, noi gương người mẹ anh hùng, Lê Huê - người con trai còn lại duy nhất của gia đình, năm 1968 cũng xung phong lên đường nhập ngũ. Anh là cán bộ công an huyện Thống Nhất. Tháng 5/1975, trong khi làm nhiệm vụ thu gom chiến trường anh đã vướng mìn và hy sinh. Kể đến đây, má Năm kéo vạt áo lau những giọt nước mắt đang lăn dài trên hai gò má nhăn nheo. Uống hết ly nước lạnh để nén cơn xúc động đang trào dâng trong lòng, mà rưng rưng kể tiếp: Gia đình là một trong những kho chứa lương thực của cách mạng. Vậy mà gia đình má thường phải nhịn ăn trưa để dành gạo nuôi quân. Năm 1969, má bị địch bắt giam ở Trảng Bom, về “tội” gia đình có con đi bộ đội. Địch tra tấn má bằng đủ kiểu, nhưng không có đủ chứng cớ đành phải thả má ra trong nỗi tức tối. Vừa được tha, má lại tiếp tế lương thực cho bộ đội, rải truyền đơn kêu gọi binh lính đảo ngũ. Ngày 6/7/1972, bộ đội về đánh ở Hưng Lộc quyết liệt. Để trả thù, địch bắt giam những gia đình mà chúng nghi ngờ có liên lạc với cách mạng và có con em đi bộ đội. Má cũng bị địch bắt giam ở Ty cảnh sát Long Khánh cùng với nhiều cơ sở cách mạng khác. Tại đây, địch tra tấn má bằng những đòn roi dã man, chúng dùng cả điện để khảo tra, nhưng trước sau, má vẫn một mực trả lời: “Không biết”. Má nhớ như in một lần, sau khi tra tấn má bằng điện đến ngất xỉu và liệt bên chân trái, vừa tỉnh dậy, tên hỏi cung nói với má: - Đây là bản khai của những người cùng tham gia hoạt động với bà. Họ khai, bà thường đem đường, gạo, sữa, cà phê vào rừng tiếp tế cho bộ đội. Má thừa biết đây là đòn tâm lý của địch nên tỉnh táo trả lời: - Người ta ghét tôi nên khai bậy cho tôi, chứ tôi không tiếp tế cho ai và cũng không biết bộ đội là gì! - Thế mấy hôm nay, con bà về giết chúng tôi, bà không biết sao? Má Năm nhìn thẳng vào mặt tên hỏi cung trả lời: - Một mình con tôi thì làm sao giết nổi các ông. Nghe má Năm trả lời cứng cỏi, tên hỏi cung bèn xuống giọng: - Bây giờ chỉ cần bà khai: con bà cao hay thấp? Da trắng hay đen, tóc dài hay ngắn, mắt có lé không? Răng có rụng cái nào không? Bà nói đi, tôi sẽ thả bà về liền. Má cười: - Cảm ơn thầy, con tôi có nước da và tướng tá giống hệt như thầy! Tên hỏi cung nghe vậy tức muốn hộc máu. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cứ mỗi độ xuân về, má lại lê đôi chân tật nguyền đến với các con trong nghĩa trang liệt sĩ huyện. Má nhổ cỏ, thắp nhang, khấn vái và ngồi bất động bên mộ hàng giờ. Đó là những giờ phút thiêng liêng nhất má đã được cùng ngồi tâm sự với các con. Nguyện vọng cuối cùng của má Năm thật giản đơn: “Khi tôi chết, chỉ xin nhà nước cho phép được chôn cất bên cạnh các con trong nghĩa trang liệt sĩ. Nếu được toại nguyện thì tôi không còn gì hối tiếc nữa”. Má Lê Thị Năm được phong tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994.



