Lê Thị Sáu – Bà mẹ Việt Nam anh hùng có gia đình ba thế hệ gắn với quân ngũ
Bà Lê Thị Sáu sinh năm 1923 ở Nghệ An, có chồng và các con tham gia quân ngũ, trong đó có hai người con trai đã hy sinh. Trải qua những năm tháng chiến tranh và thời bình, gia đình bà tiếp tục có thế hệ cháu nội phục vụ quân đội.
Ê THỊ SÁU
Năm sinh: 1923
Quê quán: vùng Bến Thủy, tỉnh Nghệ An
Lê Thị Sáu sống ở vùng Bến Thủy bên sông Lam, nơi những năm kháng chiến chống Mỹ thường xuyên phải đối mặt với các đợt đánh phá. Chồng bà, ông Lê Huy Chinh, từng tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Hai người có ba con trai. Khi các con lớn, một người làm dân quân giữ cảng Bến Thủy, một người vào quân đội rồi chiến đấu ở Quảng Trị. Trong cùng một nhà, ba thế hệ gắn với quân ngũ theo những cách khác nhau: người cha ở chiến dịch năm 1954, hai con ở chiến trường thập niên 1960–1970, còn cháu nội sau này tiếp tục phục vụ quân đội.
Năm 1965, con trai Lê Huy Trường tham gia lực lượng dân quân bảo vệ khu vực cảng Bến Thủy. Anh hy sinh khi làm nhiệm vụ cứu thương binh giữa một trận đánh phá. Người con ấy mất ngay tại địa bàn gần nhà, nơi gia đình có thể nhận ra bến cảng, đường đi và con sông mà anh đã bảo vệ. Với bà Sáu, đó là một mất mát đến khi cuộc chiến vẫn còn kéo dài, chưa có gì bảo đảm những người con khác sẽ bình yên trở về.
Con trai cả Lê Huy Minh, sinh năm 1946, trở thành đại đội trưởng trong Trung đoàn 146. Ngày 11 tháng 7 năm 1972, anh hy sinh tại mặt trận Thành cổ Quảng Trị trong chiến dịch 81 ngày đêm. Bến Thủy và Thành cổ là hai địa điểm khác nhau, và công việc của hai người con cũng khác: một người cứu thương binh ở tuyến phòng thủ quê nhà, người kia chỉ huy đơn vị giữa cuộc chiến đấu giữ thành. Kể rõ nơi và năm hy sinh giúp gia đình không bị thu gọn vào câu nói chung rằng bà có hai con là liệt sĩ.
Sau chiến tranh, bà Sáu ở lại quê cùng người con còn sống và lớp cháu. Người cháu Lê Huy Nghĩa theo nghiệp quân đội, trở thành sĩ quan. Khi các cơ quan, đoàn thể đến thăm bà trong những dịp kỷ niệm, gia đình nhắc lại tên các con, nơi họ hy sinh và sự tiếp nối của thế hệ sau. Bà được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Danh hiệu ghi nhận mất mát lớn của gia đình, còn từng kỷ niệm về Bến Thủy và Quảng Trị giữ lại hình ảnh riêng của mỗi người con.
Đến năm 2026, bà Sáu đã hơn một trăm tuổi. Thời gian đủ dài để bà chứng kiến quê hương đổi khác và các cháu trưởng thành, nhưng không làm mất đi hai mốc 1965 và 1972. Câu chuyện đời bà trải từ những ngày bến cảng bị đánh phá tới những cuộc gặp con cháu thời bình, với hai người con trai đã hy sinh ở hai nhiệm vụ cụ thể. Đó là phần lịch sử của một gia đình bên sông Lam, được gìn giữ qua lời kể của mẹ và người thân.



