Lê Thị Thu Nguyệt
Lê Thị Thu Nguyệt (bí danh Mỹ Linh) sinh năm 1944 tại Tân Định, Sài Gòn,[3][4][5] có cha là ông Lê Đình Lang – một Đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương bị lộ thân phận nên năm 1954 phải tập kết ra Bắc. Mẹ bà từng là hội viên Hội Phụ nữ cứu quốc qua đời vì bạo bệnh khi bà mới vài tuổi.[5]
Ở lại Sài Gòn, bà được cha gửi vào nhà chú ruột Lê Văn Lý. Ông Lý cũng là thành viên hoạt động cách mạng ngụy trang dưới lớp vỏ bọc thợ cắt tóc. Năm 14 tuổi, bà tham gia kháng chiến với nhiệm vụ giao liên, đưa người vào chiến khu, mang tài liệu công văn và vận chuyển vũ khí vào nội thành.[5]
Năm 1960, bà gia nhập lực lượng Biệt động Sài Gòn trùng với thời điểm Mặt trận giải phóng miền Nam ra đời.[6] Là thành viên đội 159 chuyên đánh cố vấn quân sự Mỹ, bà cùng đồng đội dùng thun, ná tẩm thuốc độc tiêu diệt bốn cố vấn Mỹ trên đường Trần Hưng Đạo.[7]
Ngày 26 tháng 10 năm 1962,[8][9] chính quyền Việt Nam Cộng hòa tổ chức trưng bày chiến lợi phẩm thu được của quân đội cộng sản. Địa điểm triển lãm bắt đầu từ Nhà hát Lớn băng qua khách sạn Continental trải dài đến đường Nguyễn Huệ, có 100 nhà báo đến dự và hàng ngàn người xem. Dưới sự chỉ huy của Lê Thanh Tùng cùng các chiến đấu viên Trần Cưỡng, Trần Tiên Cương, bà tổ chức ném lựu đạn phá hỏng một chiếc trực thăng HU-1A và gây thương vong nhiều thành viên phía đối phương, phá vỡ cuộc triển lãm dự định kéo dài trong bảy ngày.[7]
Năm 1963, Nguyệt nhận nhiệm vụ gài mìn nổ chậm vào máy bay Boeing 707 chở cố vấn quân sự Mỹ. Trước đó quân Việt Cộng đã tiến hành cài cắm người vào sân bay, sau đó đưa bà Nguyệt nhập vai người yêu của nhân vật này vào nhằm điều nghiên mục tiêu.[10][11] Tháng 3 năm 1963, một gói thuốc nổ mạnh C4 cài đồng hồ hẹn giờ được đưa lên chiếc phi cơ này. Theo kế hoạch, mìn sẽ nổ khi phương tiện cất cánh 15 phút, nhưng chiếc Boeing 707 rời Sài Gòn sang San Francisco, quá cảnh đến sân bay Honolulu được 2 phút thì mìn mới phát nổ. Báo chí Việt Nam cho biết toàn bộ chiếc máy bay mang số hiệu FHA007 hoàn toàn hư hỏng, nhiều tài liệu quan trọng bị thiêu rụi.[5][12][13] Do điều kiện kinh tế của quân cách mạng khó khăn nên khi sắm đồng hồ, Nguyệt chọn loại rẻ tiền nhất,[14] được biết sự lạc hậu của thiết bị hẹn giờ đã khiến hệ thống bị đình trệ hoạt động khi áp suất thay đổi.[12]
Nguyệt bị bắt vào cuối năm 1963 khi đang chuẩn bị báo cáo thành tích trong Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua. Sau 11 năm trải qua các nhà tù từ An ninh quân đội, Thủ Đức, Chí Hòa, Tân Hiệp đến Côn Đảo, bà được trao trả tại Lộc Ninh vào năm 1973.[12] Thời điểm kết thúc chiến tranh Việt Nam, bà công tác tại địa phương, từng là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ quận Tân Bình, sau đó nắm giữ chức vụ cửa hàng trưởng một công ty lương thực trong khu vực



