Lê Thị Trọng
Sinh năm 1913 tại ấp Rạch Bẩy, xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch, má Lê Thị Trọng đã sống tròn tám mươi năm trên mảnh đất ghi dấu biết bao kỳ tích lịch sử. Gia đình má vốn là nông dân, bản thân má và chồng má - ông Trần Văn Kiết cũng là nông dân. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vùng quê Phú Hữu - Nhơn Trạch của má luôn là địa bàn mà địch tập trung xây dựng hệ thống đồn bót, tích cực gom dân vào ấp chiến lược.
Sinh năm 1913 tại ấp Rạch Bẩy, xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch, má Lê Thị Trọng đã sống tròn tám mươi năm trên mảnh đất ghi dấu biết bao kỳ tích lịch sử. Gia đình má vốn là nông dân, bản thân má và chồng má - ông Trần Văn Kiết cũng là nông dân. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vùng quê Phú Hữu - Nhơn Trạch của má luôn là địa bàn mà địch tập trung xây dựng hệ thống đồn bót, tích cực gom dân vào ấp chiến lược. Gia đình má Trọng với bảy người con (sáu trai, một gái) sống nhờ ruộng rẫy, bởi vậy vợ chồng má quyết liệt bám đất, bám làng, không chịu vào ấp chiến lược sống cảnh “cá chậu chim lồng”. Hàng ngày liên đội 6 biệt động quân và sư đoàn 18 bộ binh địch xua quân đi càn quét đều qua nhà má, chúng dụ dỗ, hăm dọa, bắt cả nhà má phải làm tay sai chỉ điểm cho chúng. Sợ các con lớn lên phải đi lính làm bia đỡ đạn cho địch, má Trọng tìm cách liên lạc với cơ sở để đưa các con đi tham gia cách mạng. Năm 1961, má tiễn hai con trai là Trần Văn Chanh sinh 1940) và Trần Văn Chua (sinh 1942) lên đường vào căn cứ. Biết má cho con theo “Việt Cộng”, địch bắt má lên nhốt ở xã, buộc má phải gọi con về hoặc chỉ điểm cho chúng bắt các cơ sở cách mạng. Không khuất phục được má, chúng đành thả má ra và liệt gia đình má vào diện “sổ bìa đen”. Năm 1964, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta bước vào giai đoạn ác liệt. Má Trọng tiếp tục đưa người con thứ tư của mình là anh Trần Văn Sơn, lúc ấy mới 16 tuổi đi tham gia cách mạng. Anh được nhận vào đơn vị bộ đội huyện Long Thành. Mấy năm sau, hai người con trai nữa của má Trọng lại lần lượt theo nhau lên đường. Có năm trong số sáu đứa con trai cầm súng bảo vệ Tổ quốc, má Trọng tự hào vì gia đình má đã góp phần trong cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ của dân tộc. Niềm tin vào cách mạng và tình yêu đối với các con đã giúp má có thêm sức mạnh để vượt qua cảnh kềm kẹp, tra khảo đêm ngày của địch. Tháng 7/1968, anh Trần Văn Chua trên đường về căn cứ Cẩm Đường công tác đã rơi vào ổ phục kích của địch. Chúng dụ dỗ anh nếu đầu hàng sẽ được “khoan hồng”, nhưng người cán bộ của Mặt trận Biên Hòa đã chiến đấu ngoan cường tới hơi thở cuối cùng. Nỗi đau mất con không quật ngã được má Trọng, chỉ nung nấu thêm lòng căm thù giặc của má. Năm 1974, má lại đau đớn đón nhận cái tin khủng khiếp thứ hai: anh Trần Văn Chanh - cán bộ tổ chức Huyện ủy Long Thành kiêm Bí thư xã trên đường công tác đã bị địch bắn trọng thương và bị bắt. Bọn địch đánh đòn tâm lý dụ dỗ anh nếu chịu chỉ các cơ sở cách mạng, chúng sẽ đưa anh đi bệnh viện chữa trị vết thương và sẽ được hưởng cuộc sống sang giàu. Không lay chuyển được Trần Văn Chanh, chúng tức giận bắn chết anh và cho xe kéo thi thể anh khắp xã Long Tân để uy hiếp tinh thần quần chúng. Cái chết oanh liệt của con trai khắc sâu trong tâm khảm má Trọng lòng căm thù giặc, gắn chặt hơn số phận của gia đình má vào vận mệnh của dân tộc. Hòa bình lập lại, những người con của má Trọng lần lượt trở về. Ngoài hai anh Chanh và Chua, vẫn thiếu bóng dáng người con thứ ba là Trần Văn Sơn. Anh sinh năm 1943, nhập ngũ tháng 5/1964, là chiến sĩ đại đội 245, huyện đội Long Thành. Má Trọng đêm ngày phấp phỏng chờ đợi anh trở về đoàn tụ với gia đình thì nhận được tin đau đớn: anh Sơn đã hy sinh ngày 18/4/1971 trong lúc đang chiến đấu tại xã Tam An (Long Thành). Khi hy sinh anh là thượng sĩ tiểu đội trưởng đại đội 245 Long Thành. Anh được Nhà nước truy tặng huân chương Giải phóng hạng Hai, hạng Ba và hạng Nhất. Má và gia đình được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba năm 1985. Năm 1993, má Lê Thị Trọng đã vĩnh viễn yên nghỉ trên mảnh đất quê nhà. Với những đóng góp to lớn trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, má đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994.



