Mẹ Việt Nam Anh hùng

Lê Thị Vân

Mẹ Tám Vân sinh năm 1902, từ đó coi làng này là quê hương thứ hai. Thời kháng chiến chín năm, Bình Đa là căn cứ du kích nổi tiếng của tỉnh Biên Hòa cũ, nằm trên hành lang giao liên của ta từ Chiến khu Đ nối thông xuống Long Thành, Bà Rịa. Bao đoàn cán bộ từ Bắc vào Nam hoặc từ Nam Bộ ra Trung ương đều phải qua đây. Nhiều đơn vị bộ đội từng đứng chân ở đây bảo vệ đường dây giao liên vận tải của ta, vươn ra đánh đường xe lửa, đường quốc lộ 1, quốc lộ 15...

An Giang07/04/2026ĐOÀN TRƯỜNG CĐSP KIÊN GIANG (ĐOÀN TRƯỜNG CĐSP KIÊN GIANG)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khoảng đầu những năm 30 thế kỷ XX, làng Bình Đa nhỏ bé (nay thuộc phường An Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) mới có hơn một ngàn dân, đã đón nhận cặp vợ chồng trẻ Nguyễn Văn Ký - Lê Thị Vân từ Cù Lao Phố qua làm ăn sinh sống. Mẹ Tám Vân sinh năm 1902, từ đó coi làng này là quê hương thứ hai. Thời kháng chiến chín năm, Bình Đa là căn cứ du kích nổi tiếng của tỉnh Biên Hòa cũ, nằm trên hành lang giao liên của ta từ Chiến khu Đ nối thông xuống Long Thành, Bà Rịa. Bao đoàn cán bộ từ Bắc vào Nam hoặc từ Nam Bộ ra Trung ương đều phải qua đây. Nhiều đơn vị bộ đội từng đứng chân ở đây bảo vệ đường dây giao liên vận tải của ta, vươn ra đánh đường xe lửa, đường quốc lộ 1, quốc lộ 15... Nhiều cán bộ từ Bình Đa đột vào nội ô Biên Hòa hoặc Sài Gòn công tác. Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến giữa năm 1952, căn cứ này là vùng độc lập, nhộn nhịp các hoạt động kháng chiến. Năm 1946, ông Nguyễn Văn Ký và bà Lê Thị Vân đã dắt con trai là anh Nguyễn Văn Ly (Ba Ly) trao tận tay đồng chí Lê Thoa - chỉ huy phân đội 5(1) - với mấy lời mộc mạc chân tình: - Cho nó đi với mấy ông, chừng nào độc lập hết giặc thì cho nó về. Đơn vị bộ đội này sống chan hòa với dân Bình Đa, được bà con tin yêu, quý mến. Các anh làm công tác dân vận giỏi, chiến đấu hăng hái, bảo vệ các đoàn công tác của tỉnh, huyện vượt đường 15 và đường 1. Một đêm đầu tháng 7 âm lịch năm 1948, Ba Ly cùng một tốp chiến sĩ đi đánh đoàn công voa. Ông bà hẹn mấy bữa tới mọi người về ăn rằm. Nhưng rồi tin sét đánh bay về: anh Ba Ly và đồng đội lọt ổ phục kích địch ở gần quán Chín Nếp (khu vực Trường Công an tỉnh Đồng Nai bây giờ) và đã hy sinh. Mẹ Tám Vân hối thúc ông Năm Ký đi tìm xác con; mọi người kiếm suốt ba đêm mới thấy, mang về an táng ngay đất cạnh nhà. Ông bà sau đó đồng ý cho anh Nguyễn Văn Hoa (Năm Hoa) thoát ly để trả thù cho anh ruột. Anh hăng hái công tác trong Ban Công tác thành số 7, sau đó là cán bộ của Đoàn vũ trang tuyên truyền đứng chân ở rừng Vĩnh Cửu (nay thuộc địa bàn các phường Tam Hòa, Long Bình). Đến Hiệp định Genève tháng 7/1954, anh là Thị ủy viên của Thị ủy Biên Hòa. Địch chiếm căn cứ Bình Đa sau trận lụt Nhâm Thìn (tháng 10/1952), gia đình mẹ Tám Vân tạm lánh về Cù Lao Phố. Mẹ xây ngôi miễu Bà nho nhỏ ở bờ sông Rạch Cát (Anh Ba Lễ - con rể mẹ là Bí thư Thị ủy Biên Hòa - cất giấu một số súng dưới gầm bệ thờ khi bộ đội ta đi tập kết). Giữa năm 1956, Mỹ - Diệm mở chiến dịch Trương Tấn Bửu ồ ạt đánh phá phong trào cách mạng Đông Nam Bộ. Hai giờ chiều ngày 2/8/1956, một xe cảnh sát địch về ấp Bình Xương bắt ông Năm Ký. Mẹ Tám Vân níu kéo, bị chúng đẩy luôn lên xe, chở về phòng nhì Tiểu khu Biên Hòa điều tra, xét hỏi, song không thu được lời khai nào. Hai ngày sau, mẹ được thả. Sáng 10/8/1956, chúng chở ông Năm - chồng mẹ về lò gạch bìa rừng chồi An Hảo (chân đồi nhà máy đường Biên Hòa bây giờ) để “dẫn đường cho quốc gia bắt cán bộ Việt Cộng nằm vùng”. Ông bỏ chạy, địch xả súng bắn chết. Mẹ Tám Vân tưởng có thể chết theo chồng. Mẹ nhờ người quen xin phép chính quyền chôn cất ông Năm - người đảng viên kiên cường. Bị lùng riết, anh Năm Hoa và một số cán bộ thị xã Biên Hòa được Thị ủy bố trí cho đi thoát ly, gia nhập đơn vị C.250 khu Đông Nam Bộ. Đêm 7/7/1959, anh được cử làm chỉ huy tổ đặc công tập kích Nhà Xanh(2) (khu máy cưa Tân Mai) diệt 2 cố vấn Mỹ đầu tiên ở chiến trường Việt Nam. Anh Bảy Huệ - con trai mẹ - bị địch bắt xét hỏi nhưng vì không có chứng cớ nên được tha về. Vừa đến tuổi quân dịch, anh từ biệt mẹ và vợ mới cưới, đi thoát ly đầu tháng 10/1960 trong cao trào Đồng khởi ở khắp các tỉnh miền Nam. Mẹ Tám Vân và chị Thu Hồng phao tin anh đi lính sư đoàn 7 ở Mỹ Tho, sau đó tung tin anh biệt tích để địch không làm khó dễ cho gia đình. Ở Chiến khu Đ, lúc rảnh rỗi, anh Năm Hoa kỳ cạch mài khoét làm chiếc cối ngoáy trầu bằng khúc ngà voi xin được, rồi gửi về cho mẹ. Đầu năm 1962, mẹ nhận được tin dữ: anh Năm Hoa hy sinh trong trận chống càn ở Bà Đã ngày 17/12/1961. Đau xót tưởng chừng đốn gục người mẹ mang ba cái tang: chồng và hai con. Con trai út Nguyễn Văn Báo (Tám Báo) đã lớn, mẹ thấy không thể để con sống trong vòng kìm kẹp của giặc. Mẹ gửi núm ruột cuối cùng cho Bí thư Thị ủy Ba Lễ - con rể mẹ. Tám Báo gan dạ, sẵn sàng nhận mọi công tác dù khó khăn nguy hiểm. Anh rể lại rèn em vợ rất nghiêm nên chàng thanh niên mới lớn này tiến bộ nhanh. Đêm 12/7/1962 (11 tháng 6 năm Nhâm Dần), anh và đồng đội đi công tác, lọt ổ phục kích địch tại suối Chùa (trong khu Long Bình hiện nay) và bị hy sinh. Địch thu súng, mang xác anh về quận bêu để hù dọa nhân dân. Mẹ Tám Vân nghe tin, xỉu đi, tưởng có thể chết ngay theo con. Bọn địch cho người hỏi mẹ: - Tám Báo đi theo Việt Cộng hồi nào? - Nó xin phép chính quyền đi làm ăn, bữa nó chết là bữa giấy phép gần hết hạn, chắc nó về xin tiếp. Không hiểu vì sao nó bị mấy ông bắn chết? - Con bà theo Ba Lễ, chúng tôi thu được súng tại trận mà! - Chắc nó chết vì đi ngang nơi các ông bắn nhau. Nó từ nhỏ tới giờ đi đâu mà có súng? Ít bữa sau, chính quyền quận cho gọi mẹ lên hỏi tiếp. Chiếc cối ngoáy trầu do anh Năm Hoa làm cùng với bịch trầu thuốc theo mẹ vào xà lim giặc. Lý lịch gia đình mẹ, chúng nắm rất chắc: bốn liệt sĩ, nhưng anh Bảy Huệ không biết mất hay còn, anh Ba Lễ - con rể ở mật khu Hưng Lộc, Bàu Hàm thường lui tới những cơ sở nào ở nội ô và ai hay lui tới nhà mẹ? Chúng hù dọa, dụ dỗ, vặn vẹo... chỉ cốt moi được ba điều trên. Nhưng câu trả lời chỉ là: “không biết”, “không hay tin”, “không ai léo hánh”... suốt một tuần. Cuối cùng chúng phải thả mẹ. Vào những lúc khó khăn, ngặt nghèo nhất, gia đình mẹ Tám Vân vẫn nuôi giấu anh em cán bộ về hoạt động, làm giao liên... Các con, dâu, rể, cháu nội, ngoại cả thảy chín người đi thoát ly vào các thời điểm khác nhau. Bản thân mẹ, con gái, con dâu đều bị tù; con rể bị đày đi Côn Đảo. Mẹ luôn luôn có bịch trầu thuốc, cối ngoáy và bọc quần áo chuẩn bị đi ở tù. Gia đình mẹ Tám Vân là tiêu biểu cho các gia đình chỉ đứng ở phía cách mạng. Cuối đời, mẹ kịp hưởng hạnh phúc to lớn khi đón con trai thứ bảy trong đoàn quân chiến thắng trở về. Mẹ vinh dự là mẹ của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Huệ, được tặng Huân chương Độc lập, ra Thủ đô viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và dự hội nghị những gia đình cách mạng tiêu biểu. Mẹ được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn