Lê Thiết Hùng: "Cây gỗ mun" kiên cường và vị tướng đầu tiên của cách mạng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Trang

Trong lịch sử hào hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam, có những cuộc đời hoạt động thầm lặng nhưng đầy oanh liệt nơi đất khách quê người để rồi trở thành những viên gạch nền móng đầu tiên cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Một trong những huyền thoại đó chính là Thiếu tướng Lê Thiết Hùng – người chiến sĩ kiên trung mang biệt danh đầy kiêu hãnh do chính Bác Hồ đặt: “Cây gỗ mun”.
Người con xứ Nghệ và hành trình vạn dặm tìm lý tưởng
Lê Thiết Hùng tên thật là Lê Văn Nghiệm, sinh năm 1908 tại xã Thông Lạng (nay là xã Hưng Thông), huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An – mảnh đất giàu truyền thống yêu nước. Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, mùa thu năm 1923, khi mới tròn 15 tuổi, người thiếu niên trẻ tuổi đã quyết định rời xa quê hương. Ông cùng người anh em chú bác ruột là Lê Hồng Phong và nhà cách mạng Phạm Hồng Thái thực hiện hành trình gian khổ băng rừng lội suối qua Lào để sang Xiêm (Thái Lan). Tại Trại Cày của nhà yêu nước Đặng Thúc Hứa, những người thanh niên trẻ vừa lao động vừa học tiếng để chờ thời cơ sang Quảng Châu (Trung Quốc) hoạt động.
Cơ duyên lớn nhất cuộc đời đã đến khi ông đặt chân tới Quảng Châu và được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (khi đó mang tên Lý Thụy). Nhận thấy phẩm chất đặc biệt của người thanh niên xứ Nghệ, Bác đã đặt cho ông tên Lê Quốc Vọng với ý nghĩa luôn hướng về Tổ quốc, và sau này là Lê Thiết Hùng. Năm 1925, ông cùng Lê Hồng Phong thi tuyển và trở thành một trong những học viên xuất sắc học tập tại Trường Quân sự Hoàng Phố – ngôi trường quân chính danh tiếng do Tưởng Giới Thạch làm Hiệu trưởng và các cố vấn quân sự Liên Xô huấn luyện. Cứ mỗi tháng, Lê Thiết Hùng cùng các đồng chí người Việt lại dành ra hai ngày chèo thuyền từ đảo Hoàng Phố ngược dòng về Quảng Châu để nghe Bác giảng dạy lý luận chính trị.
Người chiến sĩ tình báo sắc bén trong hàng ngũ đối phương
Tốt nghiệp khóa học bộ binh tại Hoàng Phố, theo sự phân công và yêu cầu của tổ chức cách mạng, Lê Thiết Hùng gia nhập quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc. Nhờ năng lực quân sự xuất sắc, ông thăng dần lên đến quân hàm Đại hiệu (Đại tá) và đảm nhận các chức vụ chỉ huy quan trọng. Tuy nhiên, dưới vỏ bọc một sĩ quan cấp cao của quân đội Tưởng, ông thực chất là một chiến sĩ tình báo xuất sắc của Đảng Cộng sản.
Sát cánh cùng người đồng hương và cũng là bố vợ tương lai của mình – cụ Hồ Học Lãm, Lê Thiết Hùng đã thiết lập một đường dây thu thập tin tức tình báo quân sự vô giá. Ban ngày, cụ Hồ Học Lãm đọc kỹ và nhập tâm các kế hoạch tác chiến tối mật của quân đội Tưởng; ban đêm trở về nhà, cụ chép lại để Lê Thiết Hùng bí mật chuyển giao cho Hồng quân Trung Quốc. Ông thậm chí đã dùng cả tiền vàng cá nhân để mua chuộc các sĩ quan khác nhằm khai thác thông tin. Nhờ những tài liệu mật về hướng di chuyển lực lượng, lệnh cấm vận hay kế hoạch tấn công cơ quan đầu não do ông cung cấp, các đợt vây quét quy mô lớn của quân đội Tưởng vào căn cứ Xô viết của Đảng Cộng sản Trung Quốc đều bị bẻ gãy. Không dừng lại ở đó, trên cương vị chỉ huy một tiểu đoàn vận tải và sau đó là Hiệu trưởng trường huấn luyện kỹ thuật, ông đã khéo léo vận chuyển thành công hơn 30 tấn vũ khí, trang bị y tế viện trợ cho Bát Lộ quân, đồng thời tiến hành các kế hoạch đánh tráo để giải thoát cho nhiều tù chính trị cách mạng.
Người đặt nền móng cho đội du kích đầu tiên và vị tướng đầu tiên
Mùa hè năm 1940, trước những chuyển biến mới của cách mạng trong nước, Lê Thiết Hùng nhận được thư của Bác Hồ và đồng chí Phùng Chí Kiên yêu cầu rời bỏ hàng ngũ quân đội Tưởng để trở về Tổ quốc. Tại đầu nguồn Pắc Bó (Cao Bằng), ông mang bí danh mới là Đinh (Lê Đinh). Là cán bộ duy nhất lúc bấy giờ được đào tạo quân sự chính quy và bài bản, ông được Bác Hồ giao trọng trách cùng đồng chí Lê Quảng Ba tuyển chọn những hạt nhân ưu tú nhất để thành lập đội vũ trang cách mạng đầu tiên.
Dưới sự chỉ đạo sát sao của Bác, Đội du kích Pắc Bó gồm 12 chiến sĩ chính thức ra đời, do Lê Quảng Ba làm Đội trưởng và Lê Thiết Hùng làm Chính trị viên. Từ đây, ông trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang hoạt động oanh liệt tại vùng biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn, lãnh đạo giành chính quyền thành công tại Thất Khê, Đồng Đăng, Na Sầm vào tháng 3 năm 1945.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được cử làm Chiến khu trưởng Chiến khu 4. Vào tháng 9 năm 1946, trước yêu cầu đối ngoại lịch sử nhằm đối thoại bình đẳng với các sĩ quan Pháp khi thực hiện Hiệp định Sơ bộ, Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng đã ký Sắc lệnh cử ông giữ chức vụ Tổng Chỉ huy Tiếp phòng quân và mặc nhiên mang cấp bậc Thiếu tướng. Ông chính là người đầu tiên được Chính phủ lâm thời phong hàm tướng trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam. Đến ngày 7 tháng 7 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức ký Sắc lệnh số 203-SL phong quân hàm Thiếu tướng cho ông trong đợt phong tướng chính thức đầu tiên của nước nhà.
"Thiếu tướng – Trung đội trưởng" sâu sát và tấm gương đức độ
Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, Thiếu tướng Lê Thiết Hùng đã trải qua rất nhiều cương vị then chốt: Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Lục quân Việt Nam (1948-1954), Tư lệnh kiêm Hiệu trưởng đầu tiên của Binh chủng Pháo binh (1956-1963). Trong ký ức của các học viên và tướng lĩnh cấp dưới, ông luôn là một người thầy mẫu mực, tác phong chính quy, nghiêm cẩn nhưng vô cùng giản dị và sâu sát.
Một câu chuyện nổi tiếng trong Binh chủng Pháo binh vẫn thường được truyền tụng: Trong một lần đi kiểm tra thực địa, thấy một trung đội trưởng lúng túng khi chỉ huy đài quan sát, vị Thiếu tướng Tư lệnh đã không ngần ngại vai khoác súng AK, lưng đeo lá ngụy trang, trực tiếp nhận bàn đạc dụng cụ để thực hiện động tác mẫu một cách thành thạo trước sự thán phục của toàn binh chủng. Hình ảnh "Thiếu tướng – Trung đội trưởng" ấy đã trở thành bài học sâu sắc về sự tận tụy, am hiểu chuyên môn từ những việc nhỏ nhất.
Sau nhiều năm cống hiến cho quân đội, năm 1963, ông chuyển sang lĩnh vực đối ngoại và giữ chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Triều Tiên cho đến năm 1970, trước khi giữ chức Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng.
Năm 1986, "Cây gỗ mun" của cách mạng Việt Nam đã trút hơi thở cuối cùng tại Hà Nội ở tuổi 78, để lại niềm tiếc thương vô hạn cùng một tấm gương sáng ngời về lòng trung thành và đức độ. Với những công lao to lớn đó, ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều phần thưởng cao quý khác, mãi mãi khắc sâu trong trái tim của các thế hệ chiến sĩ Việt Nam.


