LÊ THÙY CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 165
Lê Thùy tên thật là Lê Văn Lộc, người dân tộc Tày, sinh năm 1922 ở xã Dân Chủ, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia Cách mạng từ rất sớm (1940), được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam (1941). Từ năm 1940 đến năm 1944, ông hoạt động tổ chức xây dựng cơ sở Cách mạng ở các tỉnh Bắc Kạn, Tuyên Quang, Yên Bái. Năm 1945, là Chính trị viên Giải phóng quân ở huyện Chiêm Hóa.
Từ năm 1946 đến năm 1954, giữ chức vụ trung đoàn trưởng ở nhiều đơn vị. Từ năm 1955 đến năm 1966, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 335 rồi 316, Tham mưu trưởng Quân khu Tây Bắc. 1967-1974, Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu Tây Bắc. Từ 6/1974 đến 1978, Phó Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. Năm 1976, Phó Tư lệnh Quân khu 1. Năm 1978, Phó Tư lệnh Quân khu 2.
Lê Thùy là Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn bộ binh 165. Ngày 16/5/1948, tại đồi cọ thôn Tông Áng, xã Khánh Thiện, huyện Lục Yên, Trung đoàn 165 đã ra đời. Đồng chí Lê Thùy, Trung đoàn trưởng đã đọc quyết định của Bộ tổng tư lệnh thành lập Trung đoàn 165. Và cũng từ nơi này các cán bộ, chiến sỹ của Trung đoàn đã xuất quân ra đi tiêu diệt quân thù ở khắp các chiến trường.
Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, Lê Thùy và Trung đoàn 165 của ông cùng với trung đoàn 88 của Bùi Nam Hà có nhiệm vụ tiến công đồi Độc Lập. Cụ thể, Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 đánh vào hướng Đông Bắc là hướng thứ yếu, Trung đoàn 165 Đại đoàn 312 đánh vào hướng chủ yếu là hướng Đông Nam cứ điểm. Lê Thùy đã chỉ huy Trung đoàn 165 phối hợp với Trung đoàn 88 cùng tiêu diệt địch. Binh lính tiểu đoàn Angiêri số 5 cố gắng chống cự. Pháo binh Pháp ở Mường Thanh bắn dữ dội vào ngay trong đồn hòng sát thương bộ đội, cứu vãn tình hình. Bộ đội ta giành giật với đối phương từng ụ súng, từng căn hầm, từng đoạn chiến hào. Đến 6 giờ 30 phút sáng ngày 15-3-1954, Trung đoàn 165 và trung đoàn 88 đã xóa sổ tiểu đoàn Bắc Phi, diệt 483 lính, bắt 200 tù binh.
Năm 1974, ông được phong Thiếu tướng, đến năm 1986 được phong Trung tướng.
Ông đã được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý của Nhà nước: Huân chương Độc Lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (1 hạng Nhất, 1 hạng Ba), Huân chương chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng...
Ông mất năm 1999.



