Lê Toàn Thắng
rinh sát kỹ thuật thám không – “Tai mắt” của Đảng ở chiến trường
Cũng chi viện cho chiến trường miền nam khi đang ở tuổi đôi mươi, độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời, Thượng tá Nguyễn Đức Viện lại có những kỷ niệm rất đặc biệt khi được là “tai, mắt” của Đảng ở chiến trường.Theo Thượng tá Viện, ông vào ngành công an từ lúc mới 16 tuổi, với chuyên ngành trinh sát thám không. Năm 1972, cùng với 500 cán bộ kỹ thuật chi viện cho miền nam, ông được phân vào Tiểu ban Bảo vệ chính trị, Ban An ninh Trung ương Cục. Ông được giao nhiệm vụ khai thác tin tức của ngụy quyền Sài Gòn và thu mạng đài cảnh sát quốc gia, mạng đài của gián điệp, biệt kích, đặc biệt là "Tình báo quân đội Việt Nam Cộng hòa"... Bằng nghiệp vụ đặc biệt, ông đã cùng với đồng đội thu giữ dịch mã hàng nghìn bức điện, cung cấp nhiều thông tin quan trọng của địch cho cách mạng. Trong đó có nhiều thông tin được báo cáo lên tận Trung ương Đảng.
Nhớ lại những ngày gian khổ vượt núi, băng rừng chi viện cho “miền nam ruột thịt”, Thượng tá Nguyễn Đức Viện cho biết: "Cuối tháng 4/1972, đoàn chi viện chúng tôi gồm 21 người và máy móc được đi trên 5 xe com-măng-ca bắt đầu nam tiến. Đến Hà Tĩnh, đoàn gặp ngay một trận bom, song may mắn không thiệt hại về người. Tối hôm sau, đoàn đến Quảng Bình thì lại trúng trận pháo kích của địch, thế là kế hoạch nghỉ ngơi đành hủy bỏ khi giao liên yêu cầu phải đi ngay. Đoàn phải băng rừng, lầm lũi đi trong đêm, trong đó có khoảng 20km trong lòng suối cạn.
Đến khu vực đường 9 giáp Lào, phải đi mất hơn 2 tuần nữa mới đến Stung Treng (Campuchia), đoàn mới dừng lại nghỉ chờ cán bộ của Ban An ninh Trung ương Cục ra đón. Trên đường đi, anh em hoàn toàn khỏe mạnh, vậy mà đến lúc nghỉ chờ thì 4-5 đồng chí sốt rét, nằm võng rên từng cơn".
Căn cứ Ban An ninh Trung ương Cục lúc bấy giờ nằm trong một cánh rừng ở Campuchia, được dựng lên bằng những thân cây rừng rồi lợp mái ni-lông. Đến ngày 19/5/1972, tròn một tháng kể từ ngày nam tiến, đơn vị mới bắt đầu dựng máy thu tin, chủ yếu từ các mạng "Cảnh sát quốc gia" ở Tây Ninh và "Tình báo quân đội" của ngụy, hay còn gọi là "Biệt đội sưu tập". Đây là tổ chức thường xuyên tung các toán gián điệp, xây dựng cơ sở trà trộn trong vai những người buôn bán để điều tra căn cứ cách mạng của ta, chỉ điểm cho địch tập kích, ném bom rải thảm...
Không trực tiếp chiến đấu như nhiều đồng đội khác, nhưng các cán bộ chiến sĩ trong đơn vị vừa phải thu bắt tín hiệu, vừa phải tự đi kiếm củ rừng, hay đi săn, đi kiếm rau, măng rừng để cải thiện bữa ăn. Không những thế, những ngày trong rừng thiêng nước độc, 100% cán bộ đều bị sốt rét. “Hết tháng này sang tháng khác, lúc nào căn cứ cũng có người bệnh, mỗi lần kéo dài 5 ngày đến 1 tuần, có những người phải nằm trạm xá đến 2-3 tháng”, ông Viện cho biết.
Cả đội còn phải đối phó với những cơn “mưa bom” của địch. "Tôi nhớ rõ lần ấy khoảng 13h, Mỹ rải thảm B52 ở căn cứ. Người ngồi làm việc, người nằm võng thì nghe thấy ào ào, ầm ầm như trận giông bão cực lớn. Trời đất tối tăm, cây cối gãy đổ, mảnh bom đạn vương vãi khắp nơi... Ba người trong căn cứ đã hy sinh", Thượng tá Viện xúc động nhớ lại.
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, đơn vị ông được lệnh di chuyển về căn cứ ở Tây Ninh. Nơi đây cũng được mệnh danh là “rừng thiêng nước độc” không kém. Do sốt rét nhiều, ăn uống kém nên thi thoảng ông bị ngất, có khi tháng bị 1-2 lần. Đến tháng 2/1975, trong một đợt đổi quân, ông được trở ra bắc.



