Người có công giúp đỡ cách mạng

Lê Trọng Tấn

Lê Trọng Tấn

Thái Nguyên06/03/2026Nguyễn Minh Nguyệt (Trường đại học Y Dược)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lê Trọng Tấn (1 tháng 10 năm 1914 – 5 tháng 12 năm 1986), tên thật là Lê Trọng

Tố, là một Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông từng là Viện trưởng Học

viện Quân sự Cao cấp, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ

trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam. Ông là vị Đại

tướng Việt Nam lớn tuổi nhất vào thời điểm thụ phong: 69 tuổi 352 ngày, và cũng là

vị Đại tướng giữ quân hàm hiện dịch ngắn nhất: 2 năm, 343 ngày.[1] Ông là 1 trong

4 vị danh tướng tài ba, lỗi lạc “nhất Tấn (ông) nhì An tam Đan tứ Chơn” dưới thời

Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền.

Ông sinh ngày 1 tháng 10 năm 1914, tại thôn Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài

Đức (nay là phường Yên Nghĩa), thành phố Hà Nội. Theo cuốn “Họ Trịnh & Thăng

Long” (Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, 2000) của hai nhà nghiên cứu Bỉnh Di và

Trịnh Quang Vũ ở trang 111 đã khẳng định đại tướng là hậu duệ của dòng chúa

Trịnh Căn.

Cha của ông có biệt danh là cụ Đồ Lê (hay Năng), người đã từng tham gia

phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Khi phong trào bị đàn áp, cụ về làng Thanh

Nhàn mở lớp dạy chữ Nho. Năm 1926, cụ Đồ Lê và Nhượng Tống đã tổ chức lễ

truy điệu Phan Châu Trinh tại đền Hai Bà Trưng ở làng Đồng Nhân.

Xuất thân từ một gia đình nhà giáo, thời niên thiếu, ông theo học trường Bưởi

tại Hà Nội. Vốn học giỏi, lại say mê võ nghệ và bóng đá, ông từng tham gia đội

bóng Eclair (Tia chớp) ở vị trí tiền vệ. Do thành tích bóng đá, ông được tuyển

vào đội bóng đá của không quân Pháp và nhập ngũ vào lực lượng lính khố đỏ,

phục vụ tại đơn vị đồn trú gần sân bay Tông (Sơn Tây).[2] Do ông từng đeo

đến đeo lon đội (tương đương với cấp hàm Hạ sĩ), nên dân làng Yên Nghĩa

(gần sân bay Tông), thường gọi ông là “Đội Tố”. Bà Bích Vân tức Hoàng Ngân

khi đó đang phụ trách công tác phụ vận kiêm binh vận của Xứ ủy Bắc Kỳ và

một số nhân mối khác được giao nhiệm vụ binh vận Đội Tố và đã thành công.

Tham gia Việt Minh từ năm 1944 và là ủy viên quân sự Ủy ban khởi nghĩa của

tỉnh Hà Đông từ tháng 8 năm 1945, sau Cách mạng tháng Tám, ông trở thành

đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương.

Vài nét về đại tướng Lê Trọng Tấn

Hơn ba mươi năm trước, hàng triệu người Việt khóc thương sự ra đi đột ngột

của lãnh đạo quân sự ưu tú đã gắn bó cả đời với chiến tranh vệ quốc – Đại

tướng Lê Trọng Tấn.

30 năm sau, những ký ức hào hùng dần nhường chỗ cho sự thật phũ phàng,

khi Lê Trọng Tấn trong con mắt người trẻ có lẽ chỉ còn là con phố của chính

sách biển báo kiểu mẫu đầy tranh cãi.

Ít người biết rằng tướng Tấn đã từng được mệnh danh là vị tướng đánh trận

giỏi nhất lịch sử hiện đại Việt Nam, từng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong

hai cuộc chiến tranh chống Pháp – Mỹ, trước khi tiếp tục lên đường theo tiếng

gọi núi sông trong chiến tranh biên giới Tây Nam khi đã ngoài 70 tuổi.

Ông từng chỉ huy rất nhiều trận đánh lớn, đặc biệt nhất đã có tới 2 lần lãnh

đạo đơn vị bắt sống tướng địch. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), ông

chỉ đạo Đại đoàn 312 giành được rất nhiều chiến công, đáng kể nhất là thắng

trận mở màn tiêu diệt cứ điểm Him Lam và sau đó là bắt sống tướng De

Castries. Còn trong chiến dịch giải phóng miền Nam 1975, ông chính là người

thành lập và chỉ huy cánh quân phía Đông – những người đầu tiên nổ súng,

tiến vào Dinh Độc Lập và nhanh chóng bắt tướng Dương Văn Minh – Tổng

thống Việt Nam Cộng Hòa lúc bấy giờ. Sau này, ngay chính De Castries cũng

phải thừa nhận ông ta “tự hào được làm bại tướng dưới tay Lê Trọng Tấn và

đại đoàn của ông.”

Mệnh danh là “Zhukov của Việt Nam”, tướng Tấn không chỉ có tài mà còn

được các tướng lĩnh và quân sĩ dưới quyền hết sức nể trọng vì “hội tụ đủ Trí –

Dũng – Nhân – Tín – Liêm – Trung”. Trong chiến trận, ông luôn cân nhắc cẩn

thận, lựa chọn cách đánh ít thương vong nhất và không bao giờ chấp nhận

câu “Trận này ta thiệt hại không đáng kể”. Đại tướng thương bộ đội, vậy nên

đã có hy sinh sinh mạng thì không thể coi như “không đáng kể” được. Tình

yêu thương chân thành đó kéo dài mãi về sau này cho tới ngày ông mất:

không ít lần người ta thấy Đại tướng đến thăm các chiến trường xưa và các

nghĩa trang liệt sĩ; cũng không ít lần thấy mắt ông đỏ hoe vì xúc động và

thương tiếc đồng đội đã nằm xuống.

Đại tướng Lê Trọng Tấn còn được yêu quý và tôn trọng vì là một trong số ít

tướng lĩnh thực hiện được phương châm “thắng không tranh công, thua

không đổ lỗi”. Thời kỳ chiến tranh biên giới, sau một trận đánh không thành

công, khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng rất tức giận và yêu cầu phải có người

nhận trách nhiệm, ông dù không trực tiếp chỉ huy vẫn thẳng thắn phát biểu:

“Thưa anh, trách nhiệm thuộc về tôi – Tổng Tham mưu trưởng”. Có lẽ cũng

nhờ đức tính này mà tất cả những người đã từng làm việc và tiếp xúc với Đại

tướng đều luôn dành cho ông những lời ca ngợi và sự tôn trọng rất lớn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn