LÊ TRỌNG TẤN - “Người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết."
Đại tướng Lê Trọng Tấn (1 tháng 10 năm 1914-5 tháng 12 năm 1986), tên thật là Lê Trọng Tổ, là một Đại tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ như Viện trưởng Học viện Quân sự Cao cấp, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam. Ông là vị Đại tướng Việt Nam lớn tuổi nhất vào thời điểm được phong quân hàm, khi đã 69 tuổi 352 ngày, đồng thời cũng là vị Đại tướng có thời gian giữ quân hàm tại ngũ ngắn nhất: 2 năm 343 ngày. Ông được xem là một trong bốn vị danh tướng xuất sắc dưới thời Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, được dân gian nhắc đến qua câu: “Nhất Tấn, nhì An, tam Đan, tứ Chơn".


Lê Trọng Tấn sinh ngày 1 tháng 10 năm 1914 tại thôn Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức (nay là phường Yên Nghĩa), thành phố Hà Nội. Theo cuốn Họ Trịnh & Thăng Long của hai nhà nghiên cứu Bỉnh Di và Trịnh Quang Vũ, ông là hậu duệ của dòng chúa Trịnh Căn.
Sinh ra trong một gia đình nhà giáo, thời niên thiếu ông học tại trường Bưởi ở Hà Nội. Ông học giỏi, say mê võ thuật và bóng đá.
Vào thời điểm đó, bà Hoàng Ngân (tên thật Bích Vân), phụ trách công tác phụ vận và binh vận của Xứ ủy Bắc Kỳ, đã vận động ông tham gia cách mạng. Ông gia nhập Việt Minh năm 1944 và trở thành ủy viên quân sự của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Hà Đông vào tháng 8 năm 1945. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông chính thức trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương.
Khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ năm 1946, ông tham gia quân đội. Từ năm 1945 đến 1950, ông lần lượt giữ các chức vụ trung đoàn phó, trung đoàn trưởng các trung đoàn Sơn La, Sơn Tây, quyền khu trưởng Khu XIV và khu phó Liên khu X.
Khi Quân đội nhân dân Việt Nam thành lập các đại đoàn chủ lực, ông trở thành Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn 312 – còn gọi là "Đại đoàn Chiến thắng" – khi mới 36 tuổi.
Trong Chiến dịch Điệp Biên Phủ, Đại đoàn 312 do ông chỉ huy đã mở màn chiến dịch bằng trận đánh cứ điểm Him Lam ngày 13 tháng 3 năm 1954 và kết thúc chiến dịch ngày 7 tháng 5 năm 1954 bằng việc bắt sống tướng Christian de Castries cùng bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm.
Từ tháng 12 năm 1954 đến năm 1960, ông là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân. Năm 1959, ông được phong quân hàm Đại tá.
Từ tháng 3 năm 1961 đến năm 1969, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1964, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn được cử làm Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Ủy viên Quân ủy Miền với bí danh "Ba Long”. Ông là một trong những người tham gia tổ chức cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 cùng với tướng Hoàng Văn Thái.
Từ năm 1970 đến 1979, ông tiếp tục là Phó Tổng Tham mưu trưởng đồng thời giữ chức Tư lệnh Mặt trận Đường 9 và đặc phái viên của Bộ Tổng Tư lệnh bên cạnh Quân giải phóng nhân dân Lào. Ông tham gia chỉ đạo chiến dịch Cánh Đồng Chum. Sau khi nghe báo cáo tình hình chiến sự, ông từng nói nổi tiếng:
"Đánh trận này, ba đời sau Thái Lan còn sợ!"
Năm 1972, ông được cử làm Tư lệnh Chiến dịch Trị Thiên. Chỉ sau một tháng, phòng tuyến của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa tại đây bị đánh tan, quân Việt Nam Cộng hòa chịu tổn thất nặng nề. Sau thất bại này, tướng Mỹ Creighton Abrams đã nổi giận với các tướng Việt Nam Cộng hòa vì đổ lỗi cho việc thiếu vũ khí, cho rằng họ bỏ lại xe tăng và pháo binh do sợ hãi.
Năm 1973, ông giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tư lệnh Quân đoàn | Quyết Thắng quân đoàn đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 3 năm 1975, ông làm Tư lệnh Chiến dịch Huế Đà Nẵng.
Tháng 4 năm 1975, trong Ho Chi Minh Campaign, ông được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông gồm Quân đoàn 2, Quân đoàn 4 và Sư đoàn 3. Lữ đoàn xe tăng 203 thuộc Quân đoàn 2 dưới quyền ông là đơn vị đầu tiên tiến vào Dinh Độc Lập.
Từ năm 1976 đến tháng 2 năm 1977, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Viện trưởng Học viện Quân sự Cao cấp.
Từ tháng 12 năm 1978 đến tháng 2 năm 1979, ông chỉ huy lực lượng vũ trang Việt Nam trong cuộc chiến chống Khmer Đỏ của Pol Pot tại Campuchia.
Từ năm 1980 đến năm 1986, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1984, Bộ Chính trị chỉ định ông làm Ủy viên Hội đồng Quân sự Bộ Quốc phòng.
Theo kết quả bầu chọn tại Đại hội toàn quân để chọn đại biểu tham dự Đại hội Đảng lần thứ VI, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông là hai người nhận được sự tín nhiệm cao nhất trong số 77 đại biểu của Bộ Quốc phòng.
Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV và V (1976-1986), đồng thời là đại biểu Quốc hội khóa VII.
Đại tướng Lê Trọng Tấn qua đời ngày 5 tháng 12 năm 1986 do nhồi máu cơ tim, chỉ nửa tháng trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI – Đại hội mở đầu công cuộc Đổi mới. Báo Grama của Đảng Cộng sản Cuba đã đăng tin buồn trên trang nhất và khẳng định:
“Việt Nam đã mất đi một người anh hùng."
Ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội.


