Lê Văn Giạng – người sinh viên giúp chuẩn bị “Kháng chiến nhất định thắng lợi”
Giỏi cả khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và ngoại ngữ, sinh viên Lê Văn Giạng được lựa chọn giúp Tổng Bí thư Trường Chinh nghiên cứu, chuẩn bị tư liệu cho tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi”. Sau này, ông dành hơn sáu thập kỷ xây dựng, quản lý và nghiên cứu nền giáo dục Việt Nam.
Cuối năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bắt đầu. Đất nước cần một văn kiện có khả năng phân tích bản chất cuộc chiến, củng cố niềm tin và chỉ ra con đường kháng chiến lâu dài.
Để chuẩn bị cho công việc quan trọng ấy, Tổng Bí thư Trường Chinh cần một cán bộ trẻ có kiến thức rộng, giỏi ngoại ngữ, có năng lực nghiên cứu và tuyệt đối giữ bí mật. Tổng hội Sinh viên đã giới thiệu Lê Văn Giạng.
Người sinh viên ấy góp phần sưu tầm, hệ thống và chuẩn bị tư liệu để Tổng Bí thư Trường Chinh viết Kháng chiến nhất định thắng lợi — tác phẩm lý luận quan trọng được hoàn thành trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến.
Lê Văn Giạng sinh ngày 14 tháng 6 năm 1919 tại xã Thiệu Thịnh, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, trong một gia đình nhà nho. Ngay từ thời thanh niên, ông đã thể hiện năng lực học tập trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Ông thi đỗ hai bằng tú tài: Tú tài Triết học và Tú tài Toán học, lần lượt học tại Huế và Hà Nội. Sau đó, Lê Văn Giạng đồng thời theo học tại Đại học Nông Lâm và Đại học Khoa học ở Hà Nội.
Việc học của ông bị gián đoạn khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945. Trong bối cảnh đất nước chuyển biến nhanh chóng, nhiều học sinh, sinh viên rời giảng đường để tham gia phong trào yêu nước và chuẩn bị giành chính quyền.
Vốn kiến thức rộng từ toán học, khoa học tự nhiên tới triết học, cùng năng lực ngoại ngữ và tư duy nghiên cứu, giúp Lê Văn Giạng được tổ chức sinh viên đánh giá cao. Khi Tổng Bí thư Trường Chinh yêu cầu cử một cán bộ trẻ làm công việc cơ mật, Tổng hội Sinh viên đã lựa chọn ông.
Nhiệm vụ không đơn thuần là sao chép tài liệu. Người giúp việc phải tìm kiếm thông tin, đọc, chọn lọc và hệ thống hóa những vấn đề về tình hình trong nước, tương quan lực lượng, kinh nghiệm chiến tranh và đường lối kháng chiến.
Từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1947, Tổng Bí thư Trường Chinh viết một loạt bài đăng trên báo Sự Thật, sau đó tập hợp thành tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi. Công trình giải thích đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là chính.
Theo tư liệu của nhà báo Thép Mới được Báo Giáo dục và Thời đại dẫn lại, Lê Văn Giạng đã góp phần quan trọng trong việc chuẩn bị tài liệu cho tác phẩm. Đây là công việc ít được biết đến nhưng đòi hỏi cả trình độ, sự cẩn trọng và tinh thần trách nhiệm trong hoàn cảnh chiến tranh.
Sau giai đoạn phục vụ công tác nghiên cứu của lãnh đạo Đảng, Lê Văn Giạng gắn bó lâu dài với ngành giáo dục. Ông trải qua nhiều cương vị chuyên môn và quản lý, trong đó có chức Thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp.
Trên cương vị quản lý vĩ mô, ông tham gia xây dựng hệ thống giáo dục đại học, trung học chuyên nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Đây là thời kỳ Việt Nam vừa phải đáp ứng nhiệm vụ chiến đấu, vừa xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật và giáo viên.
Điều đáng chú ý là Lê Văn Giạng không chỉ làm công tác hành chính. Ông luôn xem quản lý giáo dục là một lĩnh vực khoa học, cần xuất phát từ thực tiễn, được phân tích bằng lý luận và phải có khả năng dự báo nhu cầu phát triển của đất nước.
Sau khi nghỉ hưu, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và viết về giáo dục trong gần ba thập kỷ. Gia đình đã tập hợp được 56 bài báo và bài trả lời phỏng vấn của ông trong một bản thảo dày gần 400 trang, tạm đặt tên Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục Việt Nam hơn 60 năm qua.
Khối lượng tư liệu này phản ánh sự theo dõi bền bỉ của Lê Văn Giạng đối với nền giáo dục ngay cả khi không còn giữ chức vụ quản lý. Ông phân tích nhiều vấn đề như mục tiêu đào tạo, chất lượng đại học, đội ngũ giảng viên, cơ chế quản lý và mối quan hệ giữa giáo dục với nhu cầu nhân lực quốc gia.
Một trong những công trình đáng chú ý của ông là Những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học giáo dục. Cuốn sách hệ thống hóa những khái niệm, quy luật và phương pháp nghiên cứu giáo dục, phục vụ cả người hoạch định chính sách lẫn cán bộ giảng dạy và quản lý.
Ông còn biên soạn Lịch sử giản lược hơn 1.000 năm nền giáo dục Việt Nam. Công trình khảo sát tiến trình giáo dục từ truyền thống khoa cử tới nền giáo dục hiện đại, giúp người đọc nhìn hoạt động dạy và học trong mối liên hệ với lịch sử dân tộc.
Trong các bài viết cuối đời, Lê Văn Giạng vẫn thẳng thắn đánh giá thực trạng giáo dục. Ông cho rằng việc mở rộng quy mô phải đi cùng chất lượng; muốn sử dụng hiệu quả nguồn lực, cơ quan quản lý cần biết rõ hệ thống đang có gì, thiếu gì và cần ưu tiên ở đâu.
Đối với giáo dục đại học, ông đặc biệt nhấn mạnh chất lượng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý. Theo ông, giáo viên là người trực tiếp quyết định kết quả đào tạo, nhưng người điều hành chính sách cũng phải đủ năng lực để tổ chức và sử dụng đúng các nguồn lực.
Dù thị lực suy giảm nghiêm trọng trong những tháng cuối đời, Lê Văn Giạng vẫn tiếp tục trao đổi về giáo dục. Một cuộc phỏng vấn của ông được đăng trên báo Tiền Phong ngày 30 tháng 12 năm 2008, chỉ khoảng 45 ngày trước khi ông qua đời.
Cuộc đời Lê Văn Giạng đi qua hai công việc tưởng như khác nhau nhưng thực chất có cùng một nền tảng: nghiên cứu để phục vụ đất nước. Khi còn trẻ, ông chuẩn bị tư liệu cho một tác phẩm lý luận về kháng chiến; về sau, ông nghiên cứu đường đi của nền giáo dục trong công cuộc kiến quốc.
Ông không nổi tiếng rộng rãi như tác giả của Kháng chiến nhất định thắng lợi, nhưng đóng góp thầm lặng của người cán bộ trẻ giúp chuẩn bị tư liệu cũng là một phần của lịch sử ra đời tác phẩm.
Hơn sáu mươi năm sau, Lê Văn Giạng vẫn giữ tinh thần của người nghiên cứu năm xưa: đọc kỹ thực tế, phát hiện vấn đề, nói thẳng điều cần nói và đặt lợi ích lâu dài của đất nước lên trước.
Câu chuyện của ông nhắc thế hệ trẻ rằng tri thức cũng là một mặt trận. Một công trình lớn không chỉ có người đứng tên tác giả mà còn được tạo nên bởi công sức âm thầm của những người tìm tài liệu, kiểm chứng thông tin và xây dựng nền tảng cho tư tưởng được hình thành.



