LÊ VĂN TUÂN – NGƯỜI TRUNG ĐỘI TRƯỞNG MƯU TRÍ TRÊN CHIẾN TRƯỜNG RẠCH GIÁ
Lê Văn Tuân, dân tộc Kinh, quê xã Hòa Thuận, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, nhập ngũ ngày 20-6-1963 khi mới 16 tuổi. Trưởng thành trong Tiểu đoàn 207, bộ đội địa phương tỉnh Rạch Giá, ông tham gia hàng trăm trận đánh, được ghi nhận diệt hơn 200 quân đối phương, thu 5 súng và bắn rơi 1 máy bay lên thẳng. Nổi bật là trận chiến đấu tại thị xã Rạch Giá trong Tết Mậu Thân 1968 và trận bảo vệ thương binh, kho tàng tại kênh xáng Tân Hội năm 1969. Ngày 5-9-1970, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng
Lê Văn Tuân sinh trưởng trong một gia đình nghèo tại xã Hòa Thuận, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Người anh ruột của ông từng tham gia bộ đội trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Từ hoàn cảnh gia đình và quê hương, Lê Văn Tuân sớm hình thành tinh thần yêu nước. Khi mới 16 tuổi, ông gia nhập quân đội và bắt đầu những năm tháng liên tục chiến đấu trên chiến trường Tây Nam Bộ.
Dù tuổi đời còn rất trẻ, Lê Văn Tuân nhanh chóng thể hiện sự gan dạ, quyết đoán và khả năng xử trí linh hoạt.
Ông tham gia hàng trăm trận đánh. Theo tài liệu tuyên dương, riêng Lê Văn Tuân đã diệt hơn 200 quân đối phương, thu 5 súng và bắn rơi 1 máy bay lên thẳng.
TẾT MẬU THÂN 1968 – MỘT TỔ CHẶN ĐÁNH CẢ TIỂU ĐOÀN
Ngày 31 tháng 1 năm 1968, trong trận mở đầu đợt tiến công Tết Mậu Thân tại thị xã Rạch Giá, Lê Văn Tuân nhận một nhiệm vụ đặc biệt khó khăn.
Ông được giao chỉ huy một tổ chiến đấu chặn lực lượng cấp tiểu đoàn đang tổ chức phản kích ban ngày trong thị xã.
Trước lực lượng đông hơn nhiều, Lê Văn Tuân không lựa chọn cách phòng thủ thụ động.
Quan sát đội hình đối phương, ông nhận ra điểm yếu và quyết định sử dụng yếu tố bất ngờ và cơ động.
Lê Văn Tuân cùng tổ chiến đấu táo bạo xông vào giữa đội hình đối phương rồi bất ngờ nổ súng.
Ngay những phút đầu tiên, hàng chục quân đối phương bị loại khỏi vòng chiến đấu. Đội hình đang phản kích rơi vào tình trạng rối loạn và phải dừng lại chờ lực lượng tăng viện.
Nhưng Lê Văn Tuân không giữ nguyên vị trí.
Ông nhanh chóng chỉ huy tổ cơ động sang một hướng khác, chiếm trước địa hình thuận lợi để chuẩn bị đánh lực lượng tiếp viện.
Khi toán quân mới đến, tổ của ông bất ngờ nổ súng phủ đầu.
Theo tài liệu tuyên dương, tình huống hỗn loạn khiến lực lượng đối phương bắn nhầm lẫn nhau.
Kết quả, tổ chiến đấu của Lê Văn Tuân được ghi nhận đã trực tiếp tiêu diệt và khiến đối phương bắn nhầm làm hơn 100 người chết, đồng thời thu 5 súng.
Riêng Lê Văn Tuân được ghi nhận diệt hơn 40 quân đối phương và thu 2 súng.
Quan trọng hơn, tổ của ông đã hoàn thành nhiệm vụ chặn lực lượng phản kích, tạo điều kiện để các đơn vị khác tiếp tục phát triển tiến công vào thị xã Rạch Giá.
BẢO VỆ THƯƠNG BINH VÀ KHO TÀNG Ở KÊNH XÁNG TÂN HỘI
Một trận đánh khác thể hiện rõ trách nhiệm của Lê Văn Tuân đối với đồng đội diễn ra ngày 16 tháng 3 năm 1969, tại kênh xáng Tân Hội.
Khi phát hiện lực lượng đối phương phục kích khu vực căn cứ của bộ phận hậu cần – nơi có một số thương binh và kho tàng – Lê Văn Tuân lập tức tổ chức đối phó.
Ông nhanh chóng chỉ huy chiến sĩ vòng ra phía sau đội hình đối phương rồi bất ngờ nổ súng.
Mục tiêu trước mắt không chỉ là tiêu diệt lực lượng phục kích.
Điều quan trọng là phải buộc đối phương quay lại đối phó, tạo thời gian để những thương binh trong căn cứ chuyển sang vị trí an toàn.
Kế hoạch phát huy tác dụng.
Nhưng khi nhận thấy lực lượng của Lê Văn Tuân không đông, đối phương tiếp tục đưa quân tăng viện với ý định bao vây.
Trước tình thế đó, ông vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị dựa vào địa hình, cơ động chiến đấu và kiên quyết giữ khu vực.
Trận đánh ngày càng quyết liệt.
Đối phương tiếp tục gọi máy bay lên thẳng đến, dự định vận chuyển số hàng đã lục soát được.
Lê Văn Tuân cùng đồng đội vừa chiến đấu với bộ binh, vừa bắn ngăn chặn máy bay, khiến trực thăng không thể hạ cánh.
Cuộc chiến kéo dài cho đến tối.
Theo tài liệu tuyên dương, lực lượng đối phương bị thiệt hại 50 người và cuối cùng phải rút khỏi khu vực.
Thương binh được bảo vệ. Kho tàng vẫn được giữ vững.
Đây là một trong những trận đánh cho thấy rõ phẩm chất của Lê Văn Tuân: trong tình thế bất lợi, ông không chỉ tập trung vào việc đối đầu trực tiếp mà biết xác định nhiệm vụ quan trọng nhất, tổ chức lực lượng cơ động để bảo vệ con người và cơ sở hậu cần của đơn vị.
NGƯỜI CÁN BỘ TRƯỞNG THÀNH TỪ CHIẾN TRƯỜNG
Từ một thanh niên nhập ngũ khi mới 16 tuổi, Lê Văn Tuân trưởng thành thành trung đội trưởng bộ binh thuộc Tiểu đoàn 207, bộ đội địa phương tỉnh Rạch Giá.
Trong chiến đấu, ông được ghi nhận bởi tinh thần tích cực tiến công, sự mưu trí và táo bạo. Trong công tác và sinh hoạt, ông nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, kỷ luật chiến trường, quan tâm đến công tác dân vận và đoàn kết, giúp đỡ đồng đội.
Với những thành tích đạt được, Lê Văn Tuân được tặng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba.
Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Lê Văn Tuân danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Câu chuyện của Lê Văn Tuân nổi bật ở khả năng xử trí tình huống trên chiến trường. Trong trận Rạch Giá năm 1968, ông sử dụng cách đánh bất ngờ và liên tục thay đổi vị trí để đối phó lực lượng đông hơn. Tại kênh xáng Tân Hội năm 1969, ông lại chủ động đánh vào phía sau đội hình đối phương nhằm tạo thời gian chuyển thương binh và bảo vệ kho tàng. Từ người lính nhập ngũ ở tuổi 16 đến trung đội trưởng Tiểu đoàn 207, Lê Văn Tuân là một trong những gương mặt tiêu biểu của lực lượng vũ trang địa phương trên chiến trường Rạch Giá.
Lâm Tương, sinh năm 1942, dân tộc Khơ Me, quê ở xã Vĩnh Châu, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, nhập ngũ tháng 6 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đội phó công binh, bộ đội địa phương tỉnh Sóc Trăng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Căm thù sâu sắc chế độ áp bức bóc lột của đế quốc, phong kiến đối với gia đình cũng như đối với đồng bào, với quê hương đất nước, Lâm Tương một lòng một dạ đi theo cách mạng, quyết tâm chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Trong chiến đấu, những lúc gay go ác liệt nhất, Lâm Tương vẫn luôn luôn nêu cao quyết tâm khắc phục khó khăn, kiên quyết hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chỉ tính trong 2 năm 1968 - 1969, đồng chí đã tham gia 28 trận, diệt 150 tên địch, phá hủy 12 xe quân sự, loại khỏi vòng chiến đấu 70 tên phòng vệ dân sự, đánh sập 2 cầu sắt, 15 cống, phá hủy 1 khẩu pháo 105 mi-li-mét. Bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, tổ công binh của Lâm Tương có 5 người được giao nhiệm vụ cắt đứt đường số 38, không cho địch chi viện lẫn nhau. Liên tục chiến đấu với địch, tổ đồng chí đã tiêu diệt 31 tên, đầy lui hàng chục đợt phản công của giặc, cắt đứt và làm chủ đoạn lộ dài 1 ki-lô-mét trong 2 tháng. Trong một trận càn, địch đưa 2 khẩu pháo 105 mi-li-mét về bắn bừa bãi vào ấp, gây nhiều tội ác đối với nhân dân. Đồng chí nghiên cứu tình hình, lập kế hoạch chu đáo, cùng tổ tiến công địch, phá hủy 1 khẩu pháo và làm hỏng khẩu kia, diệt 2 xe và 28 tên địch, làm thất bại cuộc càn quét của địch. Cầu Vĩnh Châu là một cầu lớn, nước sông chảy xiết, địch canh gác hết sức cẩn mật. Được giao nhiệm vụ đánh sập cầu, Lâm Tương điều tra nghiên cứu 15 ngày đêm, tính toán phương án đánh bằng cách đưa một quả bom 500 ki-lô-gam cách cầu 4 ki-lô-mét và khi vào cách cầu 50 mét, phải hạ bom xuống dưới mặt nước rồi lặn đẩy vào. Đồng chí còn tính chỗ đặt bom tốt nhất, sao cho đánh sập cầu mà vẫn có luồng nước chảy cho thuyền bè nhân dân đi lại được. Đúng như dự kiến, vào lúc 4 giờ sáng, bom nổ làm sập cầu về một phía, thuyền bè của nhân dân sau đó vẫn qua lại bình thường. Trận ấp Na Dong, tổ Lâm Tương chỉ có 5 người chống lại 400 tên địch đi càn. Anh em chiến đấu rất dũng cảm, diệt một số tên và tuy cả 5 người đều bị thương, song anh em đều dìu nhau mang đủ vũ khí vượt vòng vây của địch trở về căn cứ an toàn. Đơn vị đồng chí luôn luôn bám chắc địa phương, tích cực vận động nhân dân phá kế hoạch Bình Định của địch. Sau khi tổ chức diệt 8 tên ác ôn, Lâm Tương vận động quần chúng đi vạch rõ tội ác của bọn ác ôn này và tuyên truyền chính sách của Mặt trận giải phóng, làm tan rã đơn vị phòng vệ dân sự gồm 70 tên, thu toàn bộ súng đạn. Lâm Tương chỉ huy 1 phân đội nhỏ mà lập được thành tích lớn, hỗ trợ đắc lực cho phong trào kháng chiến ở địa phương. Biết dựa vào dân, vào tập thể, đồng chí có nhiều sáng kiến, không ngừng nâng cao hiệu suất tiêu diệt địch, được bà con và anh em yêu mến, tin cậy. Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba. Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Lâm Tương được Chính phù cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.


