Cựu chiến binh

Lê Xuân Khảm – người lính đã được truy điệu rồi trở về sau mười năm

Từ thầy giáo Hàng hải viết đơn tình nguyện bằng máu, Lê Xuân Khảm trở thành thợ máy Tàu 69, chiến đấu ở U Minh trong cảnh gia đình tin ông đã hy sinh, rồi chỉ huy Tiểu đoàn Sông Hồng tiến vào Phnom Penh năm 1979.

Quảng Ninh26/08/2026Xã Tân An (Đoàn xã Tân An)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuộc đời Lê Xuân Khảm là một hành trình đặc biệt: từ người thầy trên bục giảng trở thành chiến sĩ Tàu Không số, từ một người đã được đơn vị làm lễ truy điệu trở thành Tiểu đoàn trưởng tham gia nhiệm vụ quốc tế. Trong gần hai mươi năm trên các chiến trường, ông nhiều lần đối mặt với cái chết nhưng vẫn trở về, tiếp tục cống hiến cho giáo dục và truyền lại tình yêu biển cho thế hệ sau.

Lê Xuân Khảm quê ở Thái Bình, nhưng Hải Phòng là quê hương thứ hai của ông. Trước khi nhập ngũ, ông là thầy giáo trẻ của Trường Hàng hải Việt Nam, nay là Trường Đại học Hàng hải Việt Nam. Năm 1964, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, ông xếp lại giáo án và tình nguyện vào chiến trường.

Khát vọng được trực tiếp chiến đấu của người thầy trẻ mạnh mẽ đến mức ông viết lá đơn tình nguyện bằng chính máu của mình. Sau đó, Lê Xuân Khảm được điều về lực lượng vận tải quân sự bí mật trên biển, khi ấy mang mật danh Đoàn 759, sau là Đoàn 125 Hải quân. Ông làm thợ máy trên những con tàu không số, đưa vũ khí từ miền Bắc vào chi viện chiến trường miền Nam.

Trong chuyến đi thứ ba, từ Tàu 121, Lê Xuân Khảm được bổ sung sang Tàu 69 để thay một thợ máy bị thương. Tàu làm nhiệm vụ đưa vũ khí vào Khu 9, địa bàn Cà Mau. Để che mắt đối phương, Tàu 69 được cải dạng thành tàu nghiên cứu khoa học biển của nước ngoài. Bề ngoài, con tàu mang dáng vẻ như được trang bị hiện đại, nhưng thực tế chỉ có một máy chính cùng vài dụng cụ hàng hải thô sơ.

Vượt qua hàng nghìn hải lý, sóng gió và sự kiểm soát của đối phương, Tàu 69 cập bến an toàn. Sau khi giao hàng, tàu bị hỏng chân vịt. Trong điều kiện không có ụ sửa tàu, lực lượng tại bến đã ghép những cây đước thành giá đỡ. Khi thủy triều lên, tàu được đưa vào vị trí; lúc nước rút, phần chân vịt lộ ra. Máy trưởng Nguyễn Văn Bé, hai thợ máy Lê Xuân Khảm, Nguyễn Minh Châu cùng lực lượng kỹ thuật Đoàn 962 nhanh chóng sửa chữa, giúp con tàu có thể hoạt động trở lại.

Cuối năm 1966, Tàu 69 tìm cách trở ra Bắc nhưng bị phát hiện và bao vây. Trận chiến diễn ra dữ dội trên vùng biển Tây Nam. Một bên là các tàu chiến và máy bay có ưu thế về lực lượng, phương tiện; bên kia là con tàu vận tải cải dạng với quân số ít và vũ khí hạn chế. Các cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên quyết bám tàu, sẵn sàng hy sinh chứ không để phương tiện cùng bí mật của tuyến vận tải rơi vào tay đối phương.

Lê Xuân Khảm vừa bảo đảm máy, vừa tham gia chiến đấu. Có lúc ông sử dụng súng máy phòng không 12,7mm đánh trả quyết liệt. Người bị thương thay vị trí người hy sinh; các thủy thủ chiến đấu liên tục trong khói lửa và sức ép của vòng vây. Đến đêm 1-1-1967, Tàu 69 rút được vào cửa sông Vàm Lũng, thoát khỏi sự truy kích. Con tàu hư hỏng nặng, không còn khả năng quay về miền Bắc.

Lê Xuân Khảm cùng những chiến sĩ còn lại gia nhập lực lượng giải phóng và tiếp tục chiến đấu tại U Minh. Giữa rừng tràm, rừng đước mênh mông, thông tin liên lạc bị chia cắt. Từ đó, ông hoàn toàn mất liên lạc với đơn vị cũ và gia đình ngoài Bắc.

Khi nghe tin Tàu 69 đã chiến đấu với lực lượng đối phương trên biển, đơn vị tin rằng Lê Xuân Khảm cùng đồng đội đã hy sinh. Một lễ truy điệu được tổ chức, tư trang của ông được gửi về quê. Người cha mở chiếc ba lô, nhìn bộ quần áo bạc màu của con và tin rằng con trai sẽ không bao giờ trở lại. Người thân, bạn bè và các học trò cũ không có một tin tức nào khác trong suốt nhiều năm.

Trong khi gia đình tưởng ông đã nằm lại, Lê Xuân Khảm vẫn tiếp tục chiến đấu và trưởng thành trong quân đội. Sau khoảng mười năm bặt tin, một buổi chiều cuối thu năm 1975, ông bất ngờ trở về quê trong bộ quân phục, trên người mang nhiều vết thương. Cha mẹ từ nỗi đau mất con chuyển sang niềm vui khó tả khi thấy người con từng được truy điệu vẫn còn sống.

Khi trở về, Lê Xuân Khảm đã là thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Sông Hồng. Ông lập gia đình trong một đám cưới giản dị, rồi lại rời mái ấm để trở về đơn vị và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia.

Đầu tháng 1-1979, Tiểu đoàn Sông Hồng do Lê Xuân Khảm chỉ huy tham gia đội hình Quân đoàn 4 tiến công trên hướng chủ yếu Tây Ninh. Đơn vị phối hợp với các lực lượng không quân, hải quân và thiết giáp, đánh bật quân Khmer Đỏ khỏi những vị trí trọng yếu dọc tỉnh lộ 13. Sau khi làm chủ sông Mekong, các lực lượng tiến thẳng vào Phnom Penh. Ngày 7-1-1979, thủ đô Campuchia được giải phóng, góp phần giúp nhân dân nước bạn thoát khỏi chế độ diệt chủng.

Hoàn thành nhiệm vụ quốc tế, Lê Xuân Khảm trở lại miền Bắc. Sau gần hai mươi năm quân ngũ, ông trở về Trường Đại học Hàng hải, làm trợ lý hiệu trưởng. Sức khỏe không cho phép tiếp tục đứng lớp thường xuyên, nhưng tình cảm của người thầy và trách nhiệm của người lính trong ông vẫn luôn hướng về sinh viên.

Những năm sau đó, ông nhiều lần trở lại Cà Mau, thăm cửa sông Vàm Lũng và nơi Tàu 69 nằm lại. Ông cùng đồng đội thả hoa, thắp hương tưởng nhớ những người đã hy sinh trên tuyến đường biển. Đến năm 2026, ông sống tại Hải Phòng và là thương binh hạng 3/4.

Hai người con trai của Lê Xuân Khảm sau này đều trở thành thuyền trưởng những con tàu hiện đại. Đó là sự tiếp nối đẹp đẽ của một gia đình gắn bó với biển: người cha từng vượt biển chở vũ khí trong chiến tranh, các con tiếp tục bám biển trong thời bình.

Câu chuyện Lê Xuân Khảm không chỉ gây xúc động bởi cuộc trở về sau một lễ truy điệu. Điều đáng nhớ hơn là sự bền bỉ của một người vừa mang phẩm chất nhà giáo, vừa có bản lĩnh người lính. Từ lá đơn viết bằng máu đến Tàu 69, từ rừng U Minh đến Phnom Penh rồi trở lại mái trường, ông đã đi qua một hành trình dài của lòng yêu nước, trách nhiệm và niềm tin.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn