Lê Xuân Thư
Chiến tranh đã lùi xa, những trang sử hào hùng của ngày 30/4/1975 đã trở thành một phần tâm khảm của dân tộc. Để làm nên ngày chiến thắng toàn thắng, ngoài những hy sinh xương máu của các chiến sĩ, còn có một nguồn sức mạnh vĩ đại khác: lòng dân — đặc biệt là sự che chở, đùm bọc của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đối với Bộ đội Cụ Hồ.
Nhân kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đại tá Lê Xuân Thư (nguyên Sĩ quan Bộ Tư lệnh Tây Nguyên, Thư ký Đại tướng Chu Huy Mân) đã bồi hồi kể lại những ký ức không bao giờ phai mờ về một thời gian lao nhưng đầy vinh quang trên mảnh đất đại ngàn.
1. Vượt qua gian khổ: "Chiến trường thiếu gạo, thiếu muối, thừa sốt rét"
Sau chiến thắng Mậu Thân 1968, do đường chi viện từ miền Bắc gặp nhiều khó khăn, chiến trường Tây Nguyên lâm vào cảnh thiếu thốn lương thực trầm trọng. Trong một cuộc họp hậu cần, khi kho gạo chỉ còn đủ dùng trong một tuần, Bộ Tư lệnh đã đưa ra quyết định lịch sử: tất cả các đơn vị, cơ quan phải tự tăng gia sản xuất, phát rẫy trồng sắn để tự túc; còn rau, ngô, đậu phải ưu tiên tuyệt đối cho thương bệnh binh.
Củ sắn bấy giờ trở thành "ân nhân" của bộ đội. Sắn được mài ra để đồ, gói bánh chưng, và thậm chí được các y bác sĩ khéo léo tráng thành bánh cuốn để nuôi bệnh binh. Đại tá Thư nhớ lại:
"Năm đó vào dịp Tết Độc lập 2/9, tôi bị sốt rét ác tính lên tới 41 độ phải nằm viện. Không có cơm, các anh em y bác sĩ đã tráng một đĩa bánh cuốn bằng sắn và chuẩn bị một bát lạc tự trồng để anh em cùng ăn Tết. Đó là bữa tiệc đặc biệt nhất đời tôi."
Cái thiếu không chỉ là gạo mà còn là muối. Nhiều đơn vị phải lấy lọ hứng từng giọt nước rỉ ra từ các sàn kho muối cũ, hoặc đốt cỏ tranh rồi hòa lấy nước lọc để tận dụng chút vị mặn chát.
Nhưng rào cản khủng khiếp nhất ở đại ngàn chính là sốt rét bộc phát. Những thanh niên tuổi mười chín, đôi mươi cường tráng, sau vài trận sốt rét đã phải chống gậy đi lụ khụ như ông già. Khốc liệt hơn, có những đồng chí khát nước, cố bò xuống suối uống ngụm nước rồi mãi mãi nằm lại nơi bờ suối. Mưa rừng Tây Nguyên dữ dội, nhiều ngôi mộ chiến sĩ vội vã chỉ kịp ghi lại sơ đồ theo hướng cây rừng, sau vài trận mưa lớn đã bị san phẳng, khiến hành trình tìm kiếm hài cốt sau này gặp muôn vàn khó khăn.
2. Tình quân dân như cá với nước
Giữa lằn ranh cái chết và sự gian khổ, tình cảm của đồng bào Tây Nguyên chính là điểm tựa vững chắc nhất để bộ đội bám trụ. Gom góp từng hạt gạo, củ khoai, bà con dân bản đồng lòng bảo nhau: "Bộ đội không sợ đói, bộ đội cứ đánh thắng thằng giặc Mỹ ác như thú rừng là núi rừng lại có tất cả". Bà con lập ra những nương rẫy riêng, trồng sẵn mướp, ngô, rau rồi dặn: "Đây là rẫy cho bộ đội, anh em đi qua cứ lấy mà ăn".
Dù dân thương là thế, nhưng kỷ luật nghiêm minh của quân đội không cho phép chiến sĩ tự ý lấy của dân. Đại tá Thư xúc động kể về một kỷ niệm:
"Có lần, một chiến sĩ đi qua rẫy hái mấy quả mướp. Khi biết chuyện, chỉ huy đơn vị lập tức dẫn chiến sĩ đó đến tận bản để xin lỗi gia đình chủ rẫy và trưởng bản. Nghe bộ đội nhận lỗi, bà cụ chủ rẫy bật khóc: 'Chính chúng tôi mới là người có lỗi, vì đồng bào không có đủ đồ ăn cho bộ đội'.”
3. Bản hùng ca từ sức mạnh lòng dân
Khi Chiến dịch Tây Nguyên chính thức mở màn, cả buôn làng đều được huy động ra mặt trận để gùi đạn, chuyển gạo, dẫn đường cho bộ đội. Sức mạnh lòng dân được thể hiện qua những hình ảnh phi thường và lay động lòng người: Một bà mẹ Tây Nguyên, vai gùi hai quả đạn B40, tay phải dắt đứa con lớn 4 tuổi, phía trước ngực dìu đứa nhỏ hơn 1 tuổi, kiên cường bước đi trên đường ra trận.
Sau khi bàn giao đạn dược, bà con không chịu ra về mà ngồi lại bìa rừng. Khi được hỏi, họ bảo: "Đồng bào ngồi đây để đợi bộ đội đánh nhau, nếu có anh em nào bị thương thì đồng bào khênh cán về hậu cứ ngay".
Chính tình yêu thương bao la và sự hy sinh thầm lặng của đồng bào đã tiếp thêm ý chí kiên cường, giúp quân và dân ta làm nên chiến thắng Buôn Ma Thuột vang dội, làm rung chuyển và suy sụp toàn bộ hệ thống phòng thủ của ngụy quân, ngụy quyền.
Mở màn thắng lợi từ chiến trường Tây Nguyên đã tạo nên thế chẻ tre, mở đường cho các cánh quân đồng loạt tiến về giải phóng Sài Gòn, đưa Chiến dịch Hồ Chí Minh đến ngày toàn thắng, non sông thu về một mối vào mùa Xuân năm 1975.



