Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Lên đường chinh chiến.

Đoạn văn kể về phong trào Nam tiến sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Nam Bộ năm 1945. Trước lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, thanh niên và bộ đội khắp nơi tình nguyện lên đường vào Nam chiến đấu. Tại Ninh Bình, lực lượng Vệ quốc đoàn được tổ chức, huấn luyện, thu vũ khí và thành lập Chi đội Độc lập 1 để tham gia đoàn quân Nam tiến. Trên đường hành quân vào Nam, đoàn quân nhận được sự ủng hộ và tiễn đưa nhiệt tình của nhân dân nhiều địa phương. Sau đó, đơn vị được triển khai chiến đấu ở khu vực

Lai Châu10/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mới ba tuần sau lễ Tuyên ngôn độc lập, giặc Pháp đã nổ súng xâm lăng giữa Sài Gòn.

Chính phủ, Hồ Chủ tịch hiệu triệu đồng bào cả nước tăng cường lực lượng, ủng hộ mọi mặt cho cuộc đấu tranh oanh liệt của đồng bào Nam Bộ. Người tuyên bố: "... Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ!".


Cả nước căm phẫn, quyết tâm theo Chính phủ kháng chiến. Khí thế xung phong đầu quân bùng lên khâp nơi. Khẩu hiệu "Nam tiến giết giặc ngoại xâm" kích động hồn người, nhiều học sinh, sinh viên nghe hai từ "Nam tiến" liền bỏ lớp về đăng ký tình nguyện lên đường. Các tỉnh nhanh chóng thành lập những đội quân bừng bừng tinh thần "Sát Thát". Chính phủ quyết định đổi tên "Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân" là vệ quốc đoàn, phát triển thêm hơn chục chi đội mới. Đại đội Thanh Cao nhận lệnh vào Ninh Bình tuyển binh bổ sung lực lượng. Ban chỉ huy đặt trụ sở tại Nho Quan, phái cán bộ đi các huyện tuyển thanh niên đầu quân.


Ủy ban mặt trận huyện xã tận tình giúp đỡ mọi mặt. Các mẹ các chị sốt sắng lo việc tiếp tế cấp dưỡng cho bộ đội. Chỉ hơn một tháng đại đội đã tuyển được 36 phân đội (số quân tương đương 3 tiểu đoàn).


Quân đã đủ nhưng thiếu súng. Bộ chỉ huy Khu 2 nghe các tỉnh báo cáo tình hình quân Pháp trốn chạy trước đây đã giao nhiều vũ khí cho các lang đạo. Khi Nhật đầu hàng Đồng minh, bọn sĩ quan ở Hòa Bình, Lạng Sơn đã giấu súng ở vùng này. Khu trưởng Hoàng Sâm chỉ thị cho đại đội Thanh Cao tổ chức lực lượng thu hồi bằng ba cách: thuyết phục quan lang ủng hộ, mua bằng bạc trắng, đổi súng săn để lấy súng trận. Đại đội điều một trung đội về Chi Nê nhận súng săn, điều một trung đội lên ngay Vụ Bản - Hòa Bình thực hiện việc thu hồi súng. Tuy đã được Ủy ban Việt Minh tỉnh, huyện nhiệt tình giúp đỡ mọi mặt, nhất là công tác vận động lang đạo, cán bộ chiến sĩ toàn trung đội hơn trăm người ráng hết sức trong hơn một tháng chỉ thu được gần 400 súng trường. Nguyên do chính là địa bàn quá rộng, lang đạo ở phân tán, thiếu lực lượng đi tiếp nhận, số bạc trắng không được giải quyết kịp thời. Khu trưởng đã khiển trách ban chỉ huy đại đội. Ít ngày sau có lệnh triệu hồi Thanh Cao về Hà Nội.


Khoảng giữa tháng 10 năm 1945, anh Ngô Thế Sơn (tức Kiểm) xuống Ninh Bình, triệu tập các cán bộ giải phóng quân nghe phản ánh tình hình, trực tiếp xem xét cụ thể mọi việc. Hai hôm sau anh kết luận:

- Phải phiên chế lực lượng theo tổ chức thống nhất của Bộ quyết định. Cấp tiểu đội có hai cán bộ trưởng, phó. Cấp phân đội lên trung đội có chính trị viên thành ban chỉ huy ba người. Đại đội có các tiểu ban chính trị, tham mưu, cung cấp. Chi đội có các ban chính trị, tham mưu, cung cấp. Tổ chức quân y theo hệ thống điều khiển chuyên môn từ chi đội xuống cứu thương phân đội. Chính trị viên ngang quyền với chỉ huy trưởng đơn vị. Sắp xếp tổ chức hai ngày xong, phải bắt tay vào huấn luyện theo chương trình đã định mới kịp tình hình. Ban chỉ huy đơn vị trực tiếp điều khiển...


Thật rõ ràng dứt khoát, không như trước chẳng hiểu cương vị trách nhiệm thế nào. Ngô Thế Sơn đưa mắt nhìn khắp lượt, từ tốn nói:

- Từ nay không lấy tên người chỉ huy đặt cho đơn vị như trước, mà gọi theo số. Tên chi đội, tôi đã thảo luận với các đồng chí lãnh đạo tỉnh đặt là chi đội Hoa Lư.


Trong thời kỳ tổ chức lại lực lượng có bao nhiêu chuyện giấy tờ sự vụ. Anh Sơn vốn biết tôi từ ngày ở chiến khu nên bảo tôi giúp việc.

Một hôm, sau cuộc họp, tiện miệng tôi hỏi:

- Nhiều chi đội đã Nam tiến đều mang tên chỉ huy, sao đơn vị mình lại đặt tên Hoa Lư?

- Úi! Cậu không nhớ một kỳ tích lịch sử ư? - Thế Sơn cười thú vị - Đinh Bộ Lĩnh cờ lau khởi nghĩa chính tại Hoa Lư đó. Cái tên ấy có ý nghĩa với quân cách mạng lắm chứ.

- Tên đơn vị chiến đấu nghe thế có thơ mộng quá không?

Thế Sơn suy nghĩ một chút, khe khẽ gật:

- Cái tên Hoa Lư nhiều ý nghĩa đấy, nhưng cũng hơi yếu thực. Mình có lúc chợt nghĩ thay đổi là Phòng Sơn hay Thành Sơn?


A! Ra anh cũng là người ham sử (!). Quả núi đứng mép sông Đáy thời xa xưa mang cái tên dân dã "Hòn Non Nước". Đinh Bộ Lĩnh sau khi đánh tan đạo quân cát cứ Phạm Phòng Ấp trên sông, ông thấy hòn Non Nước cách Hoa Lư khoảng 321 (Dặm ta bằng 444,4 mét, 32 dặm = 14km) dặm như một vị trí tiền tiêu trọng yếu của kinh đô thời ấy nên đặt tên Ngự Trấn Phòng Sơn. Khi Lê Hoàn nối ngôi vua Đinh đổi tên là Hộ Thành Sơn cho gọn... Có lẽ từ những sự tích đó mà anh Sơn muốn chọn tên gắn liền lịch sử chiến đấu cho đội quân được xây dựng trên đất này. Nhưng rồi mãi chẳng thấy đổi, tôi hỏi. Anh bảo:

- Tên mình cũng là Sơn, e bị hiểu lầm.

Tôi quý anh ở điểm ấy. Dù sau này anh đổi đi đơn vị khác, tôi vẫn mang mãi tình cảm đẹp về anh.


Tháng 11, anh Văn Tiến Dũng giao nhiệm vụ cho anh Nguyễn Quyết xuống Ninh Bình phụ trách chính trị viên, Ngô Thế Sơn chi đội trưởng, Kim Bảo chi đội phó. Vừa bắt tay vào chương trình tổ chức, huấn luyện thì Thế Sơn được giao nhiệm vụ đi chiến trường Khe Sanh, tây Quảng Trị. Anh Thịnh về thay.


Đầu tháng 1 năm 1946, chi đội đã được trang bị đủ súng. Bộ lại điều một phân đội của đại đội Việt - Mỹ được trang bị vũ khí Mỹ có cả tôm-sơn, ba-zô-ca, một phân đội quân giải phóng đã đánh Tam Đảo, trung đội Na Lương Thái Nguyên cũng trang bị khá mạnh, hai đơn vị thuộc đại đội Kiến Hải đủ vũ khí gia nhập đoàn quân Nam tiến. Các đơn vị này phân tán làm nòng cốt cho các trung, đại đội mới xây dựng. Ngẫu nhiên tôi được xếp trong một ban chỉ huy đều là giải phóng quân Việt Bắc.


Giữa tháng 1 năm 1946, toàn chi đội được Bộ cấp đủ quân trang, thống nhất ka ki vàng, mũ ca lô, giày da. Các trung đội, đại đội có cờ hiệu nghiêm chỉnh. Ban chỉ huy thống nhất với tỉnh cho hội quân về thị xã Ninh Bình làm lễ chính thức thành lập đoàn quân Nam tiến. Bộ Quốc phòng cho đổi tên là chi đội Độc lập 1 - mang ý nghĩa công khai đơn vị chính quy số 1 của quân đội Vệ quốc Việt Nam vào làm nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ đã độc lập.

Thực ra thì trước đó đã có nhiều chi đội vào Nam chiến đấu như chi đội Thu Sơn, Nam Long, Vi Dân, Bắc Bắc, v.v... Nhưng quân Tưởng mang danh lực lượng Đồng minh, đặt trạm kiểm soát ở các tỉnh vào đến vĩ tuyến 16, luôn cản trở ta. Các chi đội Nam tiến trước đều đi tay không như dân thường, vũ khí đóng gói chở bí mật theo đường biển, mất nhiều thời gian chờ đợi trong khi chiến sự ngày càng cấp bách. Chính phủ ta đã phải làm công tác "ngoại vụ" rất "tế nhị" với Bộ tư lệnh quân Tưởng, vì cũng có lợi nên họ chấp thuận để các đơn vị vệ quốc đoàn "di chuyển" mang theo vũ khí nhẹ. Cuối tháng 1 năm 1946 tức gần hết tháng chạp năm Dậu, chi đội nhận lệnh xuất quân. Bộ Giao thông công chính điều đoàn xe lửa đến ga Ghềnh đón.


Lần đầu tiên một đơn vị lớn, phần lớn là con em tỉnh nhà trang phục thống nhất tề chỉnh, mang đủ vũ khí hùng dũng vào Nam đánh giặc khiến nhân dân rất phấn khởi. Tỉnh ủy, mặt trận, ủy ban, các đoàn thể Ninh Bình tưng bừng đưa tiễn đến tận sân ga. Nhiều ông bố, bà mẹ ở các huyện xa cúng về chúc con em mình lên đường cứu nước. Một cụ ông khăn đóng áo đoạn, râu tóc như bông bước lên trước hàng quân vẫy chào, trang trọng nói to:

- Xưa nay vì nước vì dân tráng sĩ đâu có vương thê nhi! Lão thay mặt các cụ kính chúc đoàn hùng binh mã đáo công thành - Cụ cao giọng đọc câu thơ chứ Hán: "Nhất nhung đại định hà thần tốc. Giáp tẩy cung nang lạc thái bình".

Tiếng vỗ tay rào rào đáp lễ. Có anh biết chữ nho gật gù khen:

- Ông cụ khéo chọn thơ Nguyễn Trãi chúc ta đấy.

- Dịch nghe thử!

- A! Đại ý "Động binh dẹp loạn nhanh như lốc. Cởi giáp treo cung hưởng thái bình".


Nghe hay, tôi ghi để nhớ. Đến phút chót, một người cao lớn đi như chạy tới xin gặp ban chỉ huy hành quân. Anh vọt lên tàu chạy vào toa giữa, rập chân giơ tay chào:

- Báo cáo đồng chí! Tôi là Nguyễn Ngọc Trân cùng hai đồng chí nhận nhiệm vụ của tỉnh Hà Nam đưa đơn vị gia nhập đoàn quân Nam tiến.

Ban chỉ huy chi đội hết sức ngỡ ngàng, nhưng qua nét mặt, phong độ của người cán bộ không có gì đáng hoài nghi. Anh Nguyễn Quyết bắt tay Ngọc Trân:

- Hoan nghênh tinh thần xung phong chiến đấu của các đồng chí. Tuy hơi chậm nhưng còn kịp. Các đồng chí có đem giấy của tỉnh không?

- Báo cáo đủ ạ! Ngọc Trân mở sà cột rút kẹp giấy.

Nguyễn Quyết mở xem lướt chữ ký và dấu rồi gấp lại.

- Được rồi, chúng tôi sẽ xem - Anh quay sang người ngồi bên. - Đồng chí Kim Bảo sẽ chỉ toa để anh em lên.


Sắp đặt cho đơn vị yên chỗ, Ngọc Trân cùng Lê Ninh, Xuân Đài đến trình diện và chuyển thư của các đồng chí lãnh đạo tỉnh.

Đoàn tàu chuyển bánh, tăng dần tốc độ, tiến nhanh xuống phía Nam. Dù không đỗ ở các ga lẻ, nhưng cũng không sao tránh khỏi các cuộc đón tiễn của chính quyền đoàn thể nhân dân Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. Mỗi nơi, nhanh gọn nhất cũng phải dừng lại hơn 3 tiếng, vì ở đâu chi đội cũng phải khuyên giải, ngăn giữ khá đông thanh niên đòi lên tàu vào Nam giết giặc. Một số nam nữ học sinh cứ ngồi giữa đường tàu đòi giải quyết... Mấy viên sĩ quan Tưởng đi theo chi đội thấy cảnh đó, bất giác thở dài: "Ở bên tôi lúc này phải lùng bắt lính mà cũng không được trai tráng đâu".


Do những chuyện dọc đường như thế, nên đúng chiều hôm tất niên, con tàu mới đến ga Thuận Hóa. Bà con đã túc trực từ khi được thông báo chi đội rời ga Quảng Trị. Tàu vừa dừng hẳn, đại biểu các đoàn thể liền lên tàu thăm hỏi úy lạo bộ đội. Ngọc Trân trực ban hành quân vội đón đoàn đến gặp chỉ huy, rồi xuống tàu gặp trưởng ga báo cáo lộ trình tiếp theo: "Tạm dừng ở Huế 2 tiếng, rồi đi Đà Nẵng thay đầu máy vào Quảng Ngãi kịp làm việc...". Nghe xong người trưởng ga cười to:

- Đồng chí vệ quốc đoàn ơi! Ông chủ tịch và chủ nhiệm Việt Minh vừa thông tri chưa làm kế hoạch vận hành cho "công-voa" ni. Đợi hội ý xong đã...

Ngọc Trân ngớ người. Thì ra đoàn đại biểu nào củng muốn lưu bộ đội qua đêm. Các mẹ nói thuyết phục lắm:

- Truyền thống tổ tiên mô có chuyện con cái cáo biệt ba mạ giữa đêm giao thừa...

Chẳng thể chối từ, ban chỉ huy phải điện báo cáo ra Hà Nội rồi thông tri cho chi đội dừng lại ăn tết Thuận Hóa đêm 30 và sáng mồng một, chiều đi.


Đến Quảng Ngãi, tin chiến sự ở Tây Nguyên hết sức khẩn trương. Pháp đang tấn công Buôn Ma Thuột... Chi đội nhận lệnh đi gấp vào Bình Định, xuống ga Tuy Phước hành quân bộ lên An Khê. Chi đội đóng quân theo kế hoạch bố phòng tuyến 2, sẵn sàng hỗ trợ hai mặt trận Buôn Hồ và Buôn Ma Thuột.


Sau ít ngày nghỉ hồi sức, chi đội tổ chức tập luyện tác chiến rừng núi; phối hợp với bộ đội Hùng Việt đánh địch ở Buôn Hồ, cùng chi đội 5 Gia Lai bố phòng chặn địch vượt đèo An Khê xuống Phú Phong... Không khí chuẩn bị chiến đấu đang khẩn trương, bỗng nghe tin Cụ Hồ đã ký Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3. Không có đài, mãi mới được tờ Cứu Quốc đăng tóm tắt nội dung chính. Nhiều từ ngữ khó hiểu: "Một nước tự do... trong khối liên hiệp Pháp...", "... trưng cầu dân ý về sự thống nhất ba kỳ...", "... quân đội Pháp vào Bắc Việt Nam thay thế quân đội Trung Hoa...". Mọi người xôn xao bàn cãi. Chính trị viên chi đội họp cán bộ giải thích nhưng vẫn cứ vướng mắc. Một hôm được lệnh tập trung đón "thượng cấp". Nghe tôn nghiêm quá, cả chi đội háo hức chờ đợi.

Đúng giờ. Một người dỏng cao, da ngăm đen chắc nịch bước lên bục. Chi đội trưởng Thịnh hô bồng súng chào. Chính trị viên Quyết giới thiệu:

- Đồng chí Nguyễn Sơn, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung Bộ đến thăm và nói chuyện với chi đội ta...


Cả đoàn quân rộ lên hoan nghênh kéo dài. Chủ tịch Sơn giơ hai tay đáp lễ. Ông đưa mắt nhìn đoàn quân khỏe mạnh, súng ống đầy đủ. Cán bộ chỉ huy đứng đầu hàng đi giày da, mang ghệt, súng ngắn, một số đeo cả kiếm Nhật lủng lẳng... Ông khẽ gật đầu, mỉm cười: - Chi đội các đồng chí trông vẻ hùng dũng lắm. Đế quốc Pháp đã nổ súng xâm lăng Nam Bộ, đánh ra Trung Bộ. Các đồng chí rõ âm mưu của nó rồi chứ?

Nhiều tiếng đáp:

- Chúng tôi biết nên mới xung phong Nam tiến.

Nghe cách trả lời không điều lệnh của cán bộ, ông cười hà hà:

- Rất hoan nghênh tinh thần xung phong. Trải thời loạn mà! Nhưng còn phải học quân phong quân kỷ nữa đấy. Chuyện đó nói sau, bây giờ tôi muốn nói với các đồng chí một vấn đề hệ trọng...

Chúng tôi cảm nhận ngay ở ông phong thái nghiêm túc mà khoáng đạt. Ông cất tiếng sang sảng:

- Trước các đồng chí đã có ba chi đội Nam tiến rồi, nhưng không được mang súng. Các đồng chí có hiểu vì sao không?

- Vì quân Tưởng ngăn cản.

- Đúng đó! Hoa quân nhập Việt để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, nhưng chúng càn rỡ ngang nhiên cản trở ta để hậu thuẫn cho giặc Pháp dễ bề hành động. Ta buộc phải thương lượng cho nó chút ít, chi đội các đồng chí mới có thể mang theo súng.

Đoàn quân thoắt ào lên:

- Phải đuổi chúng nó cút khỏi nước ta...

Chủ tịch Sơn đưa hai tay vẫy vẫy ra hiệu trật tự:

- Đuổi chúng ra khỏi nước ta là đúng, nhưng làm như các đồng chí nghĩ lại sai. Vì quân Tưởng vào Việt Nam theo kế hoạch của phe Đồng minh, nếu ta nổi nóng thô bạo thì mình tự hóa thành người chống lại Đồng minh diệt phát xít, sẽ bị cô lập. Các đồng chí cần hiểu rõ điều đó.

Có tiếng hỏi to:

- Vậy làm sao lại ký tạm ước thuận cho quân Pháp ra Bắc? Khác nào chuyện rước cọp đuổi sói (?!).

Chủ tịch Sơn nhìn người vừa nói:

- Đồng chí tỏ ra nhớ cổ tích dân gian đấy nhỉ. Song các đồng chí có biết những ba con cọp với một con sói cùng lăm le vồ ta không?... Là Mỹ, Anh, Pháp và Tưởng đấy! Lại thêm Nguyễn Hải Thân, Vũ Hồng Khanh trùm phản động Việt quốc, Việt cách rất nguy hiểm đang dựa vào Tưởng ra sức phá ta từ bên trong để tiếp tay cho địch... - Ông nhìn khắp đoàn quân, rồi cao giọng. - Các đồng chí thử nghĩ một người vừa ốm khỏi, cùng lúc chọi với bốn năm kẻ dữ được không?... Cụ Hồ quyết tâm giành độc lập, cả nước đồng lòng, nhưng đánh tên địch nào? Đây là nghệ thuật chọn đối thủ dễ thắng và gạt bớt kẻ đánh hôi. Hiệp định 6 tháng 3 là cái "quyết bắt tà" tuyệt luân đấy. Mười tám vạn quân Tưởng phải ra đi, thay vào đó chỉ có một vạn rưỡi quân Pháp phối hợp với một vạn quân Việt Nam lam nhiệm vụ tiếp phòng... Thế là bọn phản động thân Tưởng mất chỗ dựa đành cuốn xéo. Ta đã ở trong khối liên bang Đông Dương thì Anh, Mỹ hết cớ nhảy vào xâu xé Việt Nam. Một đòn gạt bốn tên. Các đồng chí thấy sao?


Cả đoàn quân bừng lên hào hứng: "Hay lắm! Giỏi vô cùng". Chợt có tiếng hỏi to:

- Cụ Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, dựng nền dân chủ cộng hòa. Nhưng vì sao trong Hiệp định sơ bộ chỉ ghi nhận là "một nước tự do"?

- Một câu hỏi thời sự nóng hổi đấy! - Chủ tịch Sơn gật đầu: - Mục tiêu của cách mạng Việt Nam đúng như bản Tuyên ngôn 2 tháng 9, không thể khác được. Nhưng đấu tranh để tới đích là một quá trình gay go phức tạp. Kẻ địch đông, hùng mạnh hằm hè nuốt chửng ta, song chúng tham lam nên còn mắc dàn xếp với nhau. Ta thì đơn lẻ, sức còn yếu, phải có thời gian để phát triển lực lượng đủ mạnh. Nếu không tỉnh táo, bị khiêu khích thì cách mạng sẽ bị địch xúm lại dìm trong biển máu. Cụ Hồ là bậc đại cách mạng, chí thánh, nhà tư tưởng chiến lược vượt lên mọi tầm cao trí tuệ đương thời. Trong phút lâm nguy ngàn cân treo sợi tóc, Người quyết định "Hòa để tiến"... một truyền thống dân tộc "lấy chí nhân thay cường bạo", chứ không phải như các hòa ước 1883-1884 của nhà Nguyễn chịu sự đô hộ hoàn toàn... Xưa kia, Pháp chỉ có mấy cỗ đại bác mà làm được thế. Nay chúng đủ cả máy bay, xe tăng, tàu chiến mà phải nhận Việt Nam là một nước tự do, có chính quyền, quân đội, tài chính riêng... Đó là một thỏa ước pháp lý công bố toàn thế giới thì quả là thắng lợi ngoại giao chưa từng có trong thời thuộc Pháp... - Chủ tịch Sơn mỉm cười hỏi to: Các đồng chí còn gì chưa rõ?

Lê Ninh trung đội trưởng giơ tay:

- Xin hỏi: Thực dân Pháp rất xảo trá lật lọng, làm sao có thể tin được lời hứa của nó.

- Có nhiều anh em nghĩ thế không?

- Tất cả! Tất cả nghĩ vậy! - Đoàn quân ồn lên.

- Các đồng chí nghĩ đúng. Cụ Hồ đã dự kiến Pháp sẽ phản bội lời hứa, vì vậy chúng ta mới phải Nam tiến... Toàn dân đồng lòng ủng hộ hòa đàm và sẵn sàng tiến lên bằng cuộc kháng chiến trường kỳ. Chúng ta là quân nhân cũng đồng tâm chứ?

Một rừng tay vung cao:

- Sẵn sàng!

- Hòa để tiến!

- Quyết tâm kháng chiến trường kỳ!


Sau buổi nghe ông Sơn diễn giải, tôi cứ nghiền ngẫm mãi phương châm "Hòa để tiến", quả đã ứng nghiệm. Đến trước ngày bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc, thì công cuộc xây dựng vùng tự do các tỉnh miền Trung làm căn cứ và chuẩn bị kháng chiến đã vào nền nếp. Số lượng quân chủ lực tăng lên gấp 3-4 lần, tổ chức được các công xưởng chế tạo sửa chữa vũ khí, sản xuất quân trang. Thôn xã nào cũng có 1-2 trung đội dân quân du kích. Chi đội 5 Gia Lai và chi đội Độc lập 1 được chỉ thị phân tán làm nòng cốt cho 5 trung đoàn mới xây dựng của Khu 5 và Khu 15. Một số xung vào đội quân tình nguyện Việt - Lào, có đơn vị đươc điều gọn vào chiến trường Cực Nam, Nam Bộ. Riêng đại đội tôi bị phân tán đi nhiều nơi. Đại đội trưởng Phi Hùng nhận lệnh ra Bắc về đại đoàn 312, Triệu Đức Quang chính trị viên cùng mấy đồng chí đi trung đoàn 120 Bắc Tây Nguyên, tôi đại đội phó chuyển sang công tác chính trị vào chiến trường địch hậu Quảng Đà. Các anh Thịnh, Nguyễn Quyết, Kim Bảo cũng được, điều đi đơn vị khác...


Kể từ đấy, chi đội Độc lập 1 không còn nữa. Nó được hòa nhập vào các trung đoàn vệ quốc chiến đấu khắp mọi miền Tổ quốc. Một số tương đối đông qua được kháng chiến chống Pháp, lại tiếp tục vào cuộc trường chinh kháng Mỹ tới thắng lợi.


Đến nay đoàn quân gần hai nghìn người từ biệt đất Hoa Lư năm ấy, chỉ còn lại khoảng hơn nửa trăm người. Tất cả đều già yếu với nhiều thương tật. Nhưng so với bao đồng đội đã ngã xuống vì độc lập, chúng tôi được thấy cái đích phấn đấu lúc lên đường Nam tiến: độc lập, tự do.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn