Mở đầu
BẠC LIÊU VÙNG ĐẤT - CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG I. ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Bạc Liêu vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là tỉnh cực nam của Tổ quốc Việt Nam. Xóm mũi Rạch Tàu được xác định là điểm cuối cùng nằm trên vĩ tuyến 8° 30’ bắc, kinh tuyến 104° 45’ đông, là vùng đất liền cực nam của tỉnh.
Tỉnh Bạc Liêu thời ấy (cả phần đất Cà Mau ngày nay) có diện tích tự nhiên 7.700 km2 vuông lớn nhất trong các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, phía bắc giáp tình Rạch Giá, phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng, phía nam và phía tây giáp biển Đông và biển Tây với chiều dài bờ biển là 307 km hình dáng như mũi một con tàu rẽ sóng, biển Đông hướng về phía tây, nơi tiếp giáp vùng biển Thái Lan, Malaisia...
Dân số trong toàn tỉnh năm 1916 có 97.050 người, trong đó đa số là người dân tộc Kinh chiếm 78.1%, dân tộc Khơ-me có 15,8%, dân tộc Hoa có 6,1%.
Vùng đất Bạc Liêu là một trong 21 địa hạt của Nam Kỳ, được chỉnh thức đổi danh xưng thành tỉnh ngày 20 tháng 12 năm 1899 theo sắc lệnh của toàn quyền Đông Dương(1) nhưng đến ngày 1 tháng 1 năm 1990 Sắc lệnh trên mới được áp dụng toàn Nam Kỳ. Lúc đầu tỉnh có hai quận Vĩnh Lợi và Cà Mau, năm 1904 quận Vĩnh Lợi cắt một phần đất phía bắc lập thêm quận Vĩnh Châu, đến năm 1918 Pháp cắt phần đất phía nam quận Vĩnh Lợi và phía bắc quận Cà Mau lập quận Giá Rai.
Về phía địch, địa giới hành chính này tồn tại đến tháng 10 năm 1956. Ngày 25 tháng 10 năm 1956, theo sắc lệnh số 143/NV của Ngô Đình Diệm phân lại địa giới hành chính của các tỉnh miền Nam, các quận Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, sáp nhập vào tỉnh Sóc Trăng thành lập tỉnh Đa Xuyên, tách toàn bộ phần đất của quận Cà Mau cũ thành lập thành tỉnh An Xuyên,
Ngày 8 tháng 9 năm 1964, chính quyền Sài Gòn ký sắc lệnh số 254/NV tái lập tỉnh Bạc Liêu gồm: Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu và Phước Long (Rạch Giá). Địa giới nảy tồn tại đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Về phía chính quyền cách mạng, phân địa giới hành chính có khác chính quyền Sài Gòn. Năm 1947 sáp nhập hai làng Vĩnh Hưng và Vĩnh Phú của quận Hồng Dân(2) về quận Vĩnh Lợi. Đến năm 1948 giao quận Vĩnh Châu và làng Hưng Hội về tỉnh Sóc Trăng, đồng thời lập thêm quận mới là quận Ngọc Hiển. Ngày 13 tháng 11 năm 1948 cắt hai làng Vĩnh Trạch, Vĩnh Lợi để thành lập thị xã Bạc Liêu. Đến năm 1951 thành lập thêm huyện Trần Văn Thời(3). Cũng năm 1951, tỉnh Bạc Liêu tiếp nhận hai huyện An Biên, Hồng Dân của tỉnh Rạch Giá. Tháng 6 năm 1953 giải thể thị xã Bạc Liêu, thành lập huyện Châu Thành - Vĩnh Lợi. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đến năm 1955 huyện Vĩnh Châu trả về tỉnh Bạc Liêu, hai huyện An Biên, Hồng Dân trở về tỉnh Rạch Giá. Huyện Vĩnh Lợi và thị xã Bạc Liêu được tái lập. Ngày 20 tháng 6 năm 1956 thành lập thêm huyện mới Thới Bình. Năm 1957, các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, thị xã Bạc Liêu và huyện Hồng Dân được chia về cho tỉnh Sóc Tràng. Đến năm 1962, huyện Giá Rai sáp nhập về tỉnh Cà Mau.
Tháng 11 năm 1975, tái lập tỉnh Bạc Liêu lần thứ nhất gồm 4 đơn vị hành chính cấp huyện: Vĩnh Lợi, Giá Rai, Hồng Dân và thị xã Bạc Liêu. Đến năm 1976, theo quyết định của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa hợp nhất hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau thành tỉnh Minh Hải.
Ngày 1 tháng 11 năm 1996, kỳ họp lần thứ 10 Quốc hội khóa IX quyết định chia tỉnh Minh Hái thành hai tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau. Ngày 1 tháng 1 năm 1997 tỉnh Bạc Liêu được tái lập lần thứ hai, đơn vị hành chính lúc đầu có: thị xã Bạc Liêu, các huyện Vĩnh Lợi, Giá Rai, Hồng Dân. Năm 2000, tách huyện Hồng Dân thành láp lại huyện Phước Long, năm 2002 tách các xã phía nam huyện Giá Rai thành lập huyện Đông Hải. Diện tích tự nhiên 2.489km2, bở biển dài trên 56km, dân số 739.767 người.
Bạc Liêu cũ là tỉnh đồng bằng ven biển, được thiên nhiên ưu đãi hàng năm đất và rừng lấn biển từ 70 đến 80mét về phía tây. Là vùng đất có nhiều kênh rạch và nhiều cửa sông như: cửa Gành Hào, cửa Bồ Đề, cửa Bảy Háp, cửa sông Ông Đốc... và các sông lớn tự nhiên như: sông Ông Đốc, sông Gành Hào, sông Tam Giang, sông Bảy Háp và hàng chục con sông nhỏ đan nhau như mạch máu trong cơ thể con người. Ngoài ra, còn có nhiều kinh xáng do thực dân Pháp đào để khai thác tải nguyên như kinh xáng Chắc Băng, kinh xáng Cà Mau - Phụng Hiệp, kinh xáng Cạnh Đền - Giá Rai, kinh xáng Bạc Liêu - Cà Mau, kinh xáng Gành Hảo - Hộ Phòng - Chủ Chí và kinh xáng Cầu Sập - Ngang Dừa... ven bờ trên những con sông tự nhiên lớn nhỏ thưởng là những vạt dừa nước, mắm, sú, vẹt và các loại cáy tạp mọc um tùm.
Đất liền 80 với mặt biến cao từ 3 đến 0,5mét, địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc từ 0,01 đến 0,005/1km theo hướng từ đông bắc xuống tây nam. Diện tích rừng tự nhiên, đến năm 1930 có khoảng 740.000 héc-ta, rừng đước nối tiếp nhau bao quanh mũi Cà Mau từ phía nam sang phía tây, rừng tràm U Minh Hạ thuở ấy kéo dài tận huyện Hồng Dân và một phần của huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi ngày nay. Đồng ruộng và đất hoang lầy trũng chiếm phần lớn đất đai có khoảng 400.000 héc-ta.
Địa hình và sông rạch vùng đất Bạc Liêu rất thuận lợi về giao thống đường thủy, tàu bè đi lại thông thương, tiện cơ động lực lượng bằng phương tiện đường sông và dễ giấu quân cho cả ta và địch. Đặc biệt rừng đước Năm Căn và rừng tràm U Minh độ che phù dày đặc rất thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ địa cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Ngược lại, giao thông đường bộ trước và trong kháng chiến chống Pháp phát triển còn kém, quan trọng nhất là đoạn quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1A) chạy từ phía đông bắc thị xã Bạc Liêu đến Cà Mau - Năm Căn dài khoảng 128 km đoạn lộ từ thị xã Bạc Liêu đi Vĩnh Châu dài khoảng 38 km, Vĩnh Mỹ - Phước Long dài khoảng 23 km, Cà Mau - Thời Bình dài 40,2 km, và Cà Mau - Đầm Dơi dài 23km.
Về khí hậu, Bạc Liêu là vùng khí hậu cận xích đạo, nắng nóng, mưa nhiều, nhiệt độ ít thay đổi trung bình là 26°C, hàng năm có 02 mùa mưa nắng rõ rệt, lượng mưa hàng năm thấp nhất là 1.940 mm (1942), cao nhất là 2.945 mm (1979).
Bạc Liêu là một trong những vựa lúa quan trọng của cả nước và giàu về tôm cá, thủy hải sản; rừng đước và rừng tràm đã cung cấp nhiều gỗ, than cho các tỉnh và thành phố ở Nam Bộ; là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị và quân sự của đồng bằng sông Cửu Long, nơi có rừng thiên nhiên rộng, bờ biển dài, giàu lúa gạo, giàu thủy sản và muối. Người dân Bạc Liêu lại giàu lòng yêu nước nên tỉnh luôn là căn cứ địa cách mạng qua hai cuộc kháng chiến.
(1) Đổi danh xưng địa hạt thành tỉnh. (2) Năm 1947 chính quyền cách mạng đổi tên quận Phước Long thành quận Hồng Vân. Về phía địch vẫn gọt là quận Phước Long. (3) Từ đầu năm 1949 chính quyền cách mạng đổi tên “quận” thành “huyện”, “làng” thành “xã”. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)« Trả lời #4 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:22:04 am » | II. DÂN CƯ VÀ TRUYỀN THỐNG
Dân cư phân bố không đều. Từ những ngày đầu về đây mở đất, ba dân tộc Kinh, Khơ-me, Hoa sống quần cư đan xen lẫn nhau; nhân dân thường tựu cư đông đúc tại các ngả ba ngã tư sông và sống rải rác trên các trục lộ giao thông và ven những con kinh rạch, để tiện giao thương và dựa vào nhau chống chọi với thiên nhiên và thú dữ. Người dân Bạc Liêu vốn có truyền thống yêu nước căm ghét chế độ thực dân phong kiến. Từ khoảng năm 1658, dòng lưu dân người Việt đến đây khai phá vùng đất mới, đến năm 1714 vùng đất Bạc Liêu bắt đầu được ghi tên trên bản đồ Việt thời vua Lê - chúa Nguyễn trong hai huyện Long Xuyên và Trấn Di thuộc trấn Hà Tiên; dòng lưu dân người Hoa ở Triều Châu (Trung Quốc) chạy loạn Mãn Thanh được chúa Nguyễn cho vào cư trú, và người Khơ-me bị dòng họ Xi-xa-vát tàn sát nên chúa Nguyễn cho nương náu làm ăn. Đất càng lấn biển và người quần tụ càng đông.
Bạc Liêu là một vừng đất mới hình thành trên 200 năm nhưng bề dầy lịch sử văn hóa gắn liền với lịch sử đấu tranh sinh tồn của các cộng đồng dân cư sống trên vùng đất này. Người Bạc Liêu được hội tụ từ ba dòng lưu dân người Việt gốc, người Hoa, người Khơme đến khai khẩn vùng đất hoang, nên họ sống hòa nhập đoàn kết và cố kết hỗ trợ lẫn nhau để đấu tranh với thiên nhiên hoang đã khắc nghiệt và thú dữ. Cuối thế kỷ XIX, Bạc Liêu còn là một vùng đất hoang sơ ngập mặn, điều kiện làm ăn còn rất khó khăn, dân cư rải rác, đường đi lại không thuận tiện, nên các triều đại phong kiến nhà Nguyễn khó với tay đến kiểm soát thống trị vùng đất này. Cả ba dân tộc anh em sống đan xen lẫn nhau, nền văn hóa của cả ba dân tộc đều có bản sắc riêng, hàng năm thưởng có các lễ hội: Đồng bào Kinh có lễ hội cúng đình, thờ thần Hoàng Bổn Cảnh. Ngoài ra còn có đại lễ Kỳ Yên, còn gọi là lễ Thượng Điền giữa tháng 5 âm lịch, lễ Thấp Miếu còn gọi là lễ hạ điền giữa tháng 12 âm lịch. Đồng bào Khơ-me có lễ hội vào năm mới (Chol-chnam-thmây) vào giữa tháng 4 âm lịch, lễ hội chào mặt trăng (Oóc-om-boóc) ngày 15 tháng 10 âm lịch, lễ hội (Đôn-ta). Đồng bào Hoa có lễ Thanh Minh vào tháng 3 âm lịch, lễ thí giàng vào tháng 7 âm lịch... nhưng đồng thời cũng bổ trợ cho nhau thành một nét văn hóa chung của vùng đất Bạc Liêu.
Tiêu biểu cho nét văn hóa đó là tính cách gan góc, kiên cường, cần cù, sáng tạo, chung sức chung lòng để chống chọi với thiên nhiên, thú dữ và chống giặc ngoại xâm, đồng thời chinh phục khai thác những sản vật mà thiên nhiên ưu đãi để tạo lập một cuộc sống ấm no cho bản thân gia đình họ, dần tạo ra hàng hóa dồi dào giao thương với các tỉnh miền Tây. Họ sống phóng khoáng, hào hiệp, sẵn sàng giúp đỡ, tương trợ cho những ai mới đến, và rất căm ghét chế độ thực dân, phong kiến, khao khát độc lập. tự do; họ là những người chống sưu cao. thuế nặng, tránh những áp bức bất công của nhà cầm quyền phong kiến, muốn lẩn tránh sự bắt bớ. tù đày nên thích sống dọc ngang, không bị cường quyền áp chế.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược Việt Nam. Đến năm 1860 thực dân Pháp đánh chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, trong đó có phần đất thuộc tỉnh Bạc Liêu.
Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, vào những năm 1920 - 1930, địa chủ Tây và địa chủ bản xứ lợi dụng có tiền của, dựa vào thế lực của nhà cầm quyền Pháp, biết rõ luật lệ, nộp đơn, nộp tiền ở Sài Gòn xin khai khẩn vùng đất Bạc Liêu. Thực tế trên bàn đồ những phần đất này là vô chủ, vì vậy những người nông dân khai phá xong thì đất đó đã có trên sổ bộ của bọn địa chủ.
Các tên địa chủ Pháp đua nhau tới Bạc Liêu lập đồn điền như: Ê-vơ-ra (Evrad), A-ba-le (Abalain), Ar-bô-ra-ti (Arborati), Gui-da-mê (Guyamer), Cam-bô (Campot), Ham-nơ-lanh (Hamielain), Pa-tec-ni và Cút-xanh... chiếm hơn 100 ngàn héc-ta. Những tên địa chủ người Việt như: Trần Trinh Trạch chiếm 145.000 héc-ta ruộng lúa và 10.000 ha ruộng muối. Địa chủ người Hoa như Vưu Tụng chiếm 75.000 héc-ta, Châu Oai 40 000 héc-ta và nhiều địa chủ khác như Trương Đại Danh (huyện Kệ), Ngô Phong Điều, Hòa Khện, Chủ Xiệp, huyện Suôl, Chủ Đống chiếm từ 5.000 đến 20.000 héc-ta.
Người nông dân Bạc Liêu qua nhiều đời ra sức lao động khẩn hoang, phút chốc đã trở thành tá điền, gắn cả cuộc đời trong đồn điền của những tên địa chủ không thoát ra được, đời sống vô cùng cơ cực.
Nhân dân Bạc Liêu vốn căm ghét bọn thực dân phong kiến và đã từng nổi dậy đấu tranh. Năm 1861 nhân dân vùng đất Mũi đã nhận chìm xuồng ghe ở cửa Bồ Đề để ngăn tàu Pháp đi vào Cà Mau. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)« Trả lời #5 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:23:40 am » | Vào khoảng cuối năm 1867, nhân dân vùng Hưng Hội, Gia Hòa, Hòa Tú, Mỹ Thanh thuộc phía bắc Bạc Liêu hơn 1.000 người tựu nghĩa dưới quyền chỉ huy của ỏng Chưởng đã tổ chức phục kích đánh bất ngờ, gây cho quân Pháp nhiều thương vong.
Năm 1868, nhiều nghĩa quân ở vùng Đầm Chim - Đầm Dơi theo Nguyễn Trung Trực sang đánh chiếm đồn Kiên Giang - Rạch Giá.
Năm 1870, hai anh em Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự con trai cử nhân Đỗ Văn Nhâm ở Cái Tàu (U Minh Hạ) huy động trên 600 dân làng nổi dậy chống Pháp, diệt tên Pháp Ê-can-gơ (Escange) và tên tri huyện Phan Tử Long và một số lính mã tà. (Hiện nay tại Cái Tàu còn di tích hai ông hàn sông ngăn tàu tây). Cuộc nổi dậy của Đỗ Thừa Luông, Đổ Thừa Tự kéo dài được 3 năm (1870 - 1872) thì bị thực dân Pháp đàn áp dập tắt.
Đến đầu năm 1901 thực dân Pháp thực hiện công cuộc trị an và khẩn hoang ở Bạc Liêu, chúng bắt hàng nghìn người dân đi làm xâu đắp lộ Bạc Liêu - Cà Mau, lẽ ra mỗi người chỉ làm hai ngày công trong địa hạt của mình theo luật định, nhưng bọn tay sai thực dân Pháp bắt dân làm xâu đến 2 tháng mà không trả thêm tiền công. Trong khi đó mùa màng của nhân dân thất bát, việc cưỡng bức bắt dân làm xâu 2 tháng là quá khả năng chịu đựng người dân.
Có áp bức tất có đấu tranh. Ngày 25 tháng 2 năm 1902, trên 150 người dân làng Hòa Bình, Vĩnh Mỹ quận Vĩnh Lợi đấu tranh không chịu đi làm xâu, với yêu cầu đòi giảm ngày công, trả thêm tiền, cấp thuốc trị bệnh, Sau đó họ kéo lên Bạc Liêu đấu tranh với tỉnh trưởng và gởi đơn khiếu nại lên thống đốc Nam Kỳ. Cuộc đấu tranh bền bỉ kéo dài đến 2 năm, cuối cùng thực dân Pháp phải nhượng bộ, chấp nhận những yêu sách của nhân dân.
Cùng thời gian này, ở làng Tân Thành quận Cà Mau cũng có hàng nghìn người dân do ông Hương Thân Chúng dẫn đầu đấu tranh đòi yêu sách thương tự ở làng Hòa Bình, thực dân Pháp cũng phải nhượng bộ…
Qua những cuộc đấu tranh trên, ở Bạc Liêu chế độ hà khắc, bóc lột của thực dân Pháp được nới lỏng hơn, quần chúng nhân dân càng tin tưởng hơn vào sức mạnh đoàn kết của mình.
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, sau khi thực dân Pháp đã cơ bản bình định xong và thiết lập bộ máy cai trị toàn Nam Kỳ, chúng thẳng tay đàn áp các cuộc đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị. Nhưng quần chúng nhân dân ở Bạc Liêu chuyển sang hình thức đấu tranh mới, đó là thành lập các phường hội, như “Thiên địa hội”, nhằm tập hợp sức đoàn kết để đấu tranh, hạn chế sự hà khắc, bóc lột của bọn thực dân, phong kiến. Tổ chức “Thiên địa hội” của người Hòa với khẩu hiệu hành động “Phản Thanh phục Minh”, tổ chức “thiên địa hội” của người Việt lại có khẩu hiệu “Phản Pháp phục Nam”.
Thực dân Pháp cay cú, cho cảnh sát lưu động lùng sục,bắt bớ hội viên “Thiên địa hội”. Ở làng Vĩnh Mỹ - Giá Rai(1), chúng bắt anh Hứa Văn Sáu đày ra Côn Đảo.
Trong những năm diễn ra chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), thực dân Pháp trút gánh nặng chiến tranh cho nhân dân thuộc địa. Chúng bắt lính và vơ vét của cải đưa về chính quốc, gây ra bao nỗi đau buồn, đói khổ cho nhân dân ta. Ông Cao Văn Lầu đã sáng tác ra bài “Dạ cổ hoài lang” để than thương sự khổ đau chia lìa và bồi đắp tinh thần cho khác chiến.
Năm 1925, ở Bạc Liêu liên tiếp nổ ra những cuộc đấu tranh của học sinh thành Bạc Liêu đòi thả nhà yêu nước Phan Bội Châu, và cuộc đấu tranh của nhân dân làng Tân Hưng - Cà Mau chống tên điền chủ thực dân Ba-tét-xti.
Ngày 4 tháng 4 năm 1926, nhiều học sinh quê Bạc Liêu đang học ở Sài Gòn tham gia lễ tang cụ Phan Chu Trinh - một chí sĩ yêu nước nổi tiếng trong phong trào Duy Tân. Sau đó nhiều học sinh bị đuổi học, trong đó có các anh Tào Văn Tỵ (La Kim Lý), Nguyễn Khắc Cung, Nguyễn Văn Sáu. Các anh mang về cho Bạc Liêu nhiều sách báo tiến hộ, trong đó có cả báo “Việt Nam hồn” do Nguyễn Ải Quốc chủ trương, Nguyễn Thế Truyền thực hiện.
(1) Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, xã Vĩnh Mỹ lại thuộc huyện Vĩnh Lợi. |
|
|