Chương một SINH RA TỪ TÂY NGUYÊN BẤT KHUẤT
1. Tây Nguyên: vùng đất, con người, địa bàn chiến lược, truyền thống lịch sử.
Tây Nguyên - nơi ra đời Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 là vùng cao nguyên rộng lớn ở miền tây Nam Trung Bộ, bắt đầu từ vĩ độ 15o 27' 15'' (huyện Đắc Glei, tỉnh Kon Tum) đến 11o vĩ độ bắc (huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng), chiều rộng từ 107o đến 109o kinh Đông. Phía bắc giáp với tỉnh Quảng Nam, phía nam nối liền với các tỉnh miền Đông Nam Bộ, phía Đông giáp các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ, phía tây giáp hai nước Lào và Cam-pu-chia với một đường biên giới chung khoảng 700km. Hiện nay, Tây Nguyên gồm năm tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng; có diện tích 55.568,9 km2, dân số 4.445.403 người 1. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Tây Nguyên có các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Lâm Đồng, Tuyên Đức và Quảng Đức. Phạm vi chiến trường Tây Nguyên gồm ba tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc (kể cả Phú Bổn) có diện tích khỏang 36.000 km2.
Địa hình Tây Nguyên chủ yếu là rừng núi và cao Nguyên, xen kẽ là những thung lũng. Núi ở Tây Nguyên không phải là một dải liên tục liền nhau, mà tạo thành những khối phân cắt. Phần bắc Tây Nguyên thuộc tỉnh Kon Tum có nhiều núi cao rừng rậm, phân bổ tập trung ở phía bắc và Đông bắc, chiếm hai phần năm diện tích toàn tỉnh. Cao nhất là núi Ngọc Linh (2.598m), thấp dần về hai phía Tây nam (có các dãy Ngọc Kring 2.025m, Ngọc Rinh Rua, Chư Mom Ray) và Đông nam (Ngọc Ni Ay: 2259m). Từ phía bắc tỉnh Gia Lai chỉ còn một số dãy núi cao trên 1.000m như: Kon Ka Kinh (1.761m), He Reng (1.045m), Chư Nâm (1.484m), Chư Jor (1.402m) ở bắc và Đông bắc; Kông Mroui (1.251m), Kông Kbang (1.046m) ở phía Đông và Chư Gol (1.465m), Chư Ta Kom (1.262m) ở phía Tây bắc. Vùng trung Tây Nguyên từ nam tỉnh Gia Lai đến phía bắc tỉnh Đắc Lắc không có ngọn núi nào cao đáng kể. Vùng phía nam Tây Nguyên, từ nam tỉnh Đắc Lắc đến Lâm Đồng lại có nhiều dãy núi lớn vĩ độ cao trên dưới 2.000m như Chư Yang Sin (2.442m), Chư Năng Ộp (1.821m), Chư Yên Du (2.075m), Ri Đúp (2.287m), Lang BLan (2.167m), Be Nom Đan Se Na (1.931m) rồi thấp dần về cao nguyên Lâm Viên, Lâm Đồng.
Chiếm một phần lớn diện tích của Tây Nguyên là các cao nguyên, có độ cao từ 400m đến trên 1.000m, trải ra như những bậc thềm cao thấp kề nhau, sườn phía Đông dốc đứng, sườn phía tây nghiêng thoai thỏai về phía sông Mê Kông. Thứ tự từ bắc vào nam là: cao nguyên Kon Plong (nằm giữa hai dãy núi An Khê và Ngọc Lĩnh, có độ cao 1.100m - 1.300m), cao nguyên Kon Tum (cao trung bình 500 - 600m), cao nguyên Plei Ku (rộng 4.500 km2), cao nguyên Đắc Lắc (cao trung bình 500m - 600m), cao nguyên Lang Bi Ang (Lâm Viên, rộng 1.500 km2, cao trung bình 1.500m), cao nguyên Di Linh (cao trung bình 500m - 600m). Trên mặt đất tương đối bằng và xiên dốc của các cao nguyên, đột xuất nổi lên một số núi có giá trị khống chế các khu vực xung quanh như Chư He Peng (1.045m) ở Kon Tum, Chư Hơ Drông (Hàm Rồng, 1.028m) ở tây nam Plei Ku, Chư Đlếc (803m) ở Buôn Hồ, Chư Pao Chư Minh ở Bản Đôn. Che phủ cao nguyên là rừng thưa, rừng khoọc, rừng le, rừng cao su, các nương cà phê, chè, hồ tiêu. Đan xen các vùng núi và cao nguyên là những thung lũng dọc lưu vực sông Đắc Bla, Pô Kô, Sa Thầy (Kon Tum), sông Ba, Ayun (Gia Lai), Krông Ana (Đắc Lắc). Ngoài thung lũng Ayun Pa có diện tích 4.000 km2, hầu hết các thung lũng sông thường nhỏ hẹp, nhưng có phù sa bồi hàng năm, có nguồn nước tưới thuận tiện cho phát triển nông nghiệp và đời sống nhân dân.
Đất đai Tây Nguyên có nhiều loại: đất phù sa bồi lắng dọc các thung lũng sông (Ayun, Đắc Bla, Ea Krông), đất xám bạc màu (thung lũng Ayun Pa, tây sông Ea Hleo, Ea Krông, vùng hồ Lắc), đất vàng đỏ trên mác ma xít (bắc Kon Tum), nam Buôn Ma Thuột, bắc cao nguyên Lâm Đồng)...; nhưng nhiều nhất vẫn là đất đỏ bazan (đất feralít trên đá bazan và đá mác ma), trải rộng từ tây Kon Tum đến các cao nguyên Plei Ku, Đắc Lắc, Lâm Đồng. Đây là loại đất rất thích hợp với việc trồng cây công nghiệp như cao su, cà phê, hồ tiêu, bông, mía, đậu, lạc, cây ăn quả và phát triển gia súc 2. Bao phủ phần lớn mặt đất Tây Nguyên là rừng; nhiều nơi có diện tích rừng nhiệt đới nguyên sinh khá lớn 3. Do khí hậu nhiệt đới gió mùa khá ôn hòa, đất đai màu mỡ nên hệ động, thực vật rừng Tây Nguyên rất phong phú đa dạng về chủng loại. Theo kết quả điều tra bước đầu, Tây Nguyên có khỏang hơn 400 loài thuộc 180 chi và 75 họ thực vật bậc cao. Trong đó có nhiều hoại cây gỗ và dược liệu quý hiếm như: trắc, gụ, cẩm lai, pơ mu, giáng hương, kiền kiền, săng lẻ, sâm Ngọc Linh, đẳng sâm, sa nhân, quế, hà thủ ô, mã tiền... Tập trung tại Đắc Glei, Kon Rẫy, Kon Plong, Sa Thầy (Kon Tum), K Bang (Gia Lai), Ea Súp (Đắc Lắc), Gia Nghĩa (Đắc Nông). Những vùng núi cao ở Lâm Đồng, Đắc Lắc, Kon Tum chủ yếu là rừng thông. Dưới tán lá rừng, dưới sông suối hồ nước có gần 525 loài động vật có xương sống trên cạn (hơn 100 loài thú, 220 loài chim thường trú, 100 loài chim di cư, 90 loài bò sát...) và 70 loài cá nước ngọt; trong đó có hàng chục loài quý hiếm, 32 loài có tên trong sách đỏ của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên quốc tế. tê giác một sừng, nai đỏ, voi, trâu rừng, ngựa rừng, bò rừng, hổ, báo, gấu, hoẵng, sóc bay, công, trĩ sao, gà tiền mặt đỏ... Với diện tích rất lớn, có hệ động, thực vật phong phú, rừng Tây Nguyên không những là nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia và quốc tế, mà còn là nơi bảo đảm nguồn gien đa dạng phục vụ đời sống con người hiện tại và lâu dài. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, rừng Tây Nguyên không những là nơi che chở, góp phần nuôi dưỡng bộ đội và nhân dân để duy trì lực lượng, bám giữ chiến trường, chiến đấu giải phóng địa bàn; mà còn là căn cứ bàn đạp của những Đoàn quân lớn tiến xuống vùng duyên hải miền Trung Trung Bộ, vào Đông Nam Bộ, sang Hạ Lào và Đông bắc Cam-pu-chia.
Tiềm ẩn trong lòng đất Tây Nguyên có nhiều tài nguyên khóang sản. Than nâu, than bùn, crôm có ở Đắc Lắc, Gia Lai; quặng sắt ở Kon Tum; vàng ở Kon Tum, Gia Lai; đá hoa, đá vôi ở Chư Sê, Plei Ku, Đắc Mil... Song đáng kể nhất là quặng bô xít có trữ lượng lớn (3 tỷ tấn) ở Kon Hà Nừng, Kon Bay, Kon Plong, Di Linh, Bảo Lộc, trọng điểm là vùng Đắc Nông.
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, lại có độ cao từ 400m đến hơn 2.000m so với mực nước biển, có núi, cao nguyên và vùng trũng nên khí hậu Tây Nguyên vừa có những điếm chung của vùng, vừa có những nét riêng, đan xen, phức tạp. Nhiệt độ không khí trung bình trong năm từ 21oC đến 23oC (riêng Đà Lạt 16,2oC), biên độ chênh lệch từ 6oC đến 8oC trong một ngày đêm; độ ẩm từ 81% đến 91%; số giờ nắng từ 2.300 giờ đến 3.000 giờ, lượng mưa trung bình từ 1.800mm đến 2.800mm. Một năm, Tây Nguyên có hai mùa rệt: mưa và nắng. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 (ở Đắc Lắc, Lâm Đồng kết thúc vào tháng 11). Mưa thường liên miên, có trận kéo dài nhiều ngày, mặt đất ướt sũng, sông suối nước lũ dâng cao gây ngập lụt, xuất hiện đồng bão, trời đầy mây đen u ám... gây khó khăn về giao thông, cơ động lực lượng. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, đất đai se cứng, trời xanh cao đầy nắng, nhiều nơi khô hạn thiếu nước, nhưng cơ bản rất thuận tiện cho các hoạt động giao thông và quân sự.
Với địa hình rộng lớn, lượng mưa tập trung vào sáu tháng trong năm, đã tạo cho Tây Nguyên có những sắc thái riêng về thủy văn. Đây là nơi bắt nguồn của 28 sông thuộc ba hệ thống sông: sông Đồng Nai, sông Mê Kông và sông Ba. Trong đó có ba sông Chính là Sê San, Sê Rê Pôk và sông Ba. Sông Sê San là hợp lưu của hai nhánh sông Pô Kô (bắt nguồn từ vùng núi Đakgrugok tỉnh Quảng Nam và Ngọc Linh tỉnh Kon Tum) và Đakk Bla (bắt nguồn từ bắc Kon Plong) chảy theo hướng Đông bắc - tây nam, từ Kon Tum qua Gia Lai đổ về sông Mê Kông ở địa phận thị xã Stung Treng nước bạn Cam-pu-chia. Sông có chiều dài 231km, rộng từ 100m đến 200m, sâu 4m đến 6m, lưu tốc dòng 2m đến 3mlgiây, độ dốc trung bình 2,9%, chảy quanh co, có nhiều thác ghềnh, có trữ lượng thủy điện cao. Hiện nay có nhà máy thủy điện Ya Ly lớn thứ hai trong nước và đang xây dựng các công trình thủy điện khác. Sông Sê Rê Pôk là hợp lưu của các sông nhỏ ở cao nguyên Pleiku và Đắc Lắc như: Ia Đrăng, Ia Lốp, EaHleo, Krông Nô, Krông Ana, Krông Pack, Krông Puk chảy về phía tây bắc qua Bản Đôn sang thị xã Lom Phát tỉnh Rattanakiri nước Cam-pu-chia gặp sông Sê San và cùng chảy ra sông Mê Kông. Sơng Ba bắt nguồn từ núi Ngọc Rô, chảy qua 5 huyện phía Đông nam tỉnh Gia Lai, hợp lưu với sông Ayun tại Cheo Reo, với sông Krông Năng ở Đông nam Krông Pa rồi đổ ra Biển Đông qua cửa Đà Rằng (Phú Yên). Sông dài 300km, rộng 80m đến 120m, sâu từ 5m đến 7m, thường gây lũ lụt. Đây là con sông đổ về phía Đông lớn nhất của Tây Nguyên.
Nhìn chung sông, suối ở Tây Nguyên thường dốc, bắt nguồn từ các vùng núi cao đổ về hai hướng Đông và tây; mùa mưa nước dâng cao chảy xiết gây cản trở giao thông, mùa khô ít nước; tạo nhiều thác nước vừa có tiềm năng thủy điện lớn, vừa là những cảnh đẹp như Ya Ly, Đa Nhim, Đrây H'Linh, Liên Khương, Đrayanna,...
Ngoài hệ thống sông suối, Tây Nguyên còn có nhiều hồ nước lớn và nguồn nước ngầm phong phú. Bên cạnh những hồ nước lớn tự nhiên như hồ Tơ Nưng (Biển Hồ, rộng 230 ha), Hồ Plei Nông (46ha) ở Gia Lai, hồ Lắc ở Đắc Lắc, hồ Xuân Hương (Đà Lạt), ngày nay có thêm nhiều hồ lớn nhân tạo như lòng hồ Ya Ly, Ayun Hạ, Ia Hrung, Hoàng Ân (Gia Lai)... vừa có giá trị về thủy lợi, điều hòa khí hậu tạo môi trường trong lành, vừa là những thắng cảnh nổi tiếng. Với núi cao, sông dài, hồ rộng và nguồn nước khóang phong phú 4 đã tạo cho Tây Nguyên cảnh quan kỳ vĩ, một tiềm năng du lịch lớn không chỉ hiện tại mà cả mai sau. Trong hoạt động quân sự, hệ thống sông suối, hồ nước rộng khắp bảo đảm nguồn nước cho bộ đội và vận chuyển đường sông, đồng thời là những chiến hào thiên nhiên khổng lồ ngăn cản đối phương cơ động đường bộ và triển khai lực lượng.
Nằm vào khoảng giữa vùng nam bán đảo Đông Dương, nơi có chung biên giới của ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, Tây Nguyên sớm có mạng lưới giao thông đi các hướng: ra Bắc, vào Nam, xuống đồng bằng ven biển và sang hai nước bạn. Giữa những năm sáu mươi của thế kỷ XX, hệ thống đường bộ ở Tây Nguyên đã khá phát triển với trục đường 14 chạy dọc Bắc - Nam như ''xương sống'' và các đường nhánh nôí ra hai phía đông - tây: 19, 7, 21, 5, 18, 5a, 5b, 20 như những ''xương sườn''. Cùng với hệ thống đường bộ, đường không cũng được thiết lập rộng khắp với hàng chục sân bay lớn nhỏ, chủ yếu phục vụ cho các hoạt động quân sự của Mỹ, ngụy. Đáng kể là các sân bay Kon Tum, Aréa, Cù Hanh (Pleiku), Hòa Bình (Buôn Ma Thuột). Tại các cứ điểm quân sự lớn thường có sân bay dã chiến hoặc bãi đỗ trực thăng. Ngoài hệ thống đường giao thông thuộc khu vực địch kiểm soát, trong những năm chống Mỹ, ta làm thêm một số tuyến đường phục vụ cho các hoạt động quân sự, vận chuyển, tập trung ở phía tây như đường 128 (Đường Hồ Chí Minh) chạy dọc biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Phía Đông bắc có đường 220 nối đường 14 ở Võ Định (Kon Tum) chạy sang phía Đông tỉnh Gia Lai. Nhiều đường nhánh, đường ngang xuyên rừng (chủ yếu từ phía tây sang phía đông) gắn liền bền với các chiến dịch của bộ đội chủ lực ta ở khắp Tây Nguyên. Đường sông cũng được ta khai thác đưa vào sử dụng, nhưng chủ yếu là sông Sê San dùng để vận chuyển hàng hóa, khối lượng hạn chế.
Hiện nay, các quốc lộ 14, 19, 20, 25 (đường 7 cũ), 27, 26 (đường 21 cũ), 28, 24 (đường 5 cũ), 18 được tu bổ nâng cấp bảo đảm giao thông thông suốt. Các tỉnh lộ: 666, 661, Đắc Tô - Ngọc Lây tỉnh Kon Tum; 662, 669, 670, 671, 664, 663, 661 tỉnh Gia Lai; 653b, 681, 684, 686, 687, 688, 689, 693 tỉnh Đắc Lắc và Đắc Nông; 721, 722, 723, 724, 725 tỉnh Lâm Đồng được tu bổ làm mới, có thể cơ động lực lượng dễ dàng. Ngoài ra, tuyến Đường Hồ Chí Minh đang được mở rộng nâng cấp qua Tây Nguyên có ý nghĩa lớn về kinh tế dân sinh và quân sự.
----------------------------------------------------------------- 1. Theo số liệu thống kê năm 2002. 2. Theo thống kê năm 2002 Tây Nguyên có: 178.575 ha lúa, 496.438 ha cây công nghiệp, 17.606 ha cây ăn quả và đàn gia súc: 9.468.024 con. 3. Hiện nay rừng tự nhiên Tây Nguyên còn khỏang 2,7 triệu ha và hàng trăm nghìn ha rừng trồng (năm 2002 có 101.247 ha rừng cao su, 27.728 ha điều, 17.606 ha cây ăn quả), có vườn quốc gia Yok Đôn (Đắc Lắc), khu bảo tồn thiên nhiên Chư Mom Ray (Kon Tum), Kông Cha Rang - Kon Ka Kinh (Gia Lai)... 4. Hiện nay nguồn nước khóang ở Tây Nguyên đã tìm thấy 5 vị trí ở Kon Tum, 3 vị trí ở Lâm Đồng... | |
Logged
|
|
|
|
hoi_ls Thượng tá  Bài viết: 5149  | 
| Re: Lịch sử Bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên - Quân Đoàn 3 (1964-2005)« Trả lời #3 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2021, 03:55:32 pm » |
Sống trên vùng đất Tây Nguyên rộng lớn và giàu đẹp có gần 30 dân tộc anh em. Theo số liệu thống kê, đầu những năm sáu mươi của thế kỷ XX, dân số khỏang 75 vạn người 1, gồm các dân tộc Gia Rai, Ba Na, Ê Đê, Xê Đăng, Cơ Ho, Ra Lai, Mơ Nông, Mạ, Giẻ Triêng, Chu Ru, Brâu, Rơ Mâm, Vân Kiều... chiếm 64%, dân tộc Kinh chiếm 36%. Năm 2002, dân số 4 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc 2, Lâm Đồng là gần 4,5 triệu người. Trong đó dân tộc kinh khỏang 3,5 triệu người; tiếp đến là dân tộc: Gia Rai (355.432 người), Ê Đê (233.626 người), Ba Na (174.134 người), Kơ Ho (113.089 người), Tày (92.293 người), Xê Đăng (86.910 người), Nùng (84.864 người), Mơ Nông (82.824 người), Mạ (33.164 người), Giẻ Triêng (27.584 người). Người Kinh sống tập trung ở các đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế mới (sau 1975); các dân tộc Xê Đăn, Giẻ Triêng, H'rê, Rơ Mâm và một số lớn dân tộc Ba Na... ở tỉnh Kon Tum; các dân tộc Gia Rai, Ba Na tập trung ở tỉnh Gia Lai; các dân tộc Mơ Nông, Ê Đê và phần lớn dân tộc Tày, Nùng, Mường... ở phía Bắc di cư vào (sau 1975) tập trung ở tỉnh Đắc Lắc và Đắc Nông; các dân tộc Kơ Ho, Mạ, Chu Ru... và một số lớn dân tộc ít người phía Bắc di cư đến ở tỉnh Lâm Đồng.
Theo các nhà nghiên cứu về dân tộc, nhân chủng, khảo cổ khẳng định từ xa xưa đã có người nguyên thủy sinh sống trên đất Tây Nguyên. Đặc biệt, những kết quả khai quật các di chỉ ở Lung Leng (Sa Thày, Kon Tum), Biển Hồ, Trà Dôm (Pleku), Mê Van (Đắc Lắc) có niên đại thuộc thời kỳ đồ đá mới đến giai đoạn đầu thời ký kim khí cho thấy Tây Nguyên là một trong những cái nôi của loài người trên đất nước ta. Từ giữa thế kỷ XVII người Kinh đã có mặt ở Tây Nguyên do quân nhà Nguyễn đánh ra Nghệ An bắt dân đưa vào sống ở vùng Tây Sơn.
Giữa thế kỷ XIX trở đi người Kinh lên cao nguyên ngày một tăng. Lúc đầu là những giáo dân Thiên Chúa giáo từ Huế, Bình Định, Quảng Ngãi tránh sự truy nã của triều đình Huế; tiếp đến là các cuộc chuyển cư gắn với sự khai thác bóc lột mở mang Tây Nguyên của thực dân Pháp và sau này của Mỹ - ngụy. Riêng các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên muộn hơn, chủ yếu là sau năm 1954 và nhất là từ năm 1975 đến nay.
Trong cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất, bền bỉ hàng nghìn năm với thiên nhiên, thú dữ và kẻ thù xâm lược để sinh tồn, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã sáng tạo nên những giá trị vật chất và văn hóa tinh thần vô cùng phong phú, mang đậm dấu ấn của vùng cao nguyên. Về thiết chế xã hội, cho đến cuối thiên niên kỷ thứ hai, các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên còn ở một trình độ xã hội rất thấp, vào giai đoạn đầu của xã hội có giai cấp với nhiều tàn tích của xã hội Nguyên thủy. Ngoài những gốc tích có truyền thuyết về Hỏa Xá (Vua Lửa), Thủy Xá (Vua Nước) của người Gia Rai hoặc các ''Tơ Ring'' (một sự 1iên minh giữa các làng do tù trưởng cầm đầu), thì tổ chức xã hội duy nhất là làng (Plei, Kon - cách gọi của người Ba Na, Plơi -cách gọi của người Xê Đăng, Bôn - cách gọi của người Gia Rai, Plei Tum hay Plei - cách gọi của người Giẻ Triêng, Đê - cách gọi của người Brâu và Srúp - cách gọi của người Rơ Mâm), đứng đầu là chủ làng (già làng). Làng và một tổ chức xã hội có kết cấu chặt chẽ, là một khối cộng đồng thống nhất, một đơn vị tụ cư mang dấu ấn ''công xã nông thôn'', có hệ thống tự quản với phương thức vận hành xã hội theo luật tục.Từ khi thực dân Pháp và sau đó và đế quốc Mỹ chiếm đóng Tây Nguyên, đã tạo ra một tầng lớp mới như binh lính, công chức, người buôn bán và công nhân trong các đồn điền; đồng thời cũng tạo ra một tầng lớp tay sai trong bộ máy cai trị làng xã như chánh tổng, chủ làng. Về kinh tế, đồng bào Tây Nguyên mang nặng tính tự cung tự cấp, khai thác tự nhiên (săn bắn, hái lượm); song canh tác nương rẫy có vị trí hàng đầu, trồng nhiều thứ như lúa, ngô (bắp), dưa, bí, sắn, khoai, thuốc lá... Chăn nuôi trâu, bò, gà lợn (heo) dệt vải, rèn, đồ gốm, đan lát phổ biến ở nhiều dân tộc thiểu số. Nhưng nhìn chung, sản xuất còn ở trình độ thấp, nên thường bị thiếu đói.
Đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên sống đơn sơ, giản dị, chất phác, dũng cảm, tâm hồn lạc quan phóng khóang, từ lâu đã tạo nên một nền văn hóa phong phú. Về văn học có những bản trường ca độc đáo có vần điệu, giàu tính chiến đấu, trữ tình và giáo dục hướng thiện như "Đam San ", "Xinh Nhã:, "Đăm Di''. Nhạc cụ có cồng, chiêng, đàn Trưng, Klông pút, Đinh túk... trầm bổng, giéo giắt như tiếng suối xa, thủ thỉ của gió ngàn. Nghệ Thuật múa (Soang) gắn liền với lễ hội đem lại niềm hứng khởi say sưa, hòa đồng cộng cảm sâu sắc. Nghệ Thuật tạo hình trang trí dân gian tinh tế, sáng tạo, có khiếu thẩm mỹ cao được thể hiện trên vải, đồ đan, nhà mồ và đặc sắc là nhà rông, vựa tạo môi trường không gian hoành tráng, nhân văn, nhưng cũng đầy huyền ảo, siêu thực và ấn tượng. Tài sản văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên không những động viên cộng đồng lao động sản xuất, đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật, giặc giã, hướng con người tới chân - thiện - mỹ và tự do, mà còn là tài sản vô giá đóng góp xứng đáng vào kho tàng văn hóa nước nhà.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đã sáng tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần phong phú và quý giá, đồng thời hun đúc nên truyền thống đấu tranh bất khuất, yêu chuộng hòa bình... mang đậm phong cách cao nguyên.
Với đất đai rộng lớn, tài nguyên phong phú, nhân dân cần cù lao động, Tây Nguyên không chỉ là một địa bàn có ý nghĩa rất quan trọng về kinh tế - xã hội đối với cả nước, mà đây còn là một khu vực có tầm chiến lược quân sự của Tổ quốc và đối với vùng Nam Đông Dương, được thể hiện sinh động trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Nằm ở ngã ba, nơi có đường biên giới chung ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, Tây Nguyên được ví như ''nóc nhà'' của bán đảo Đông Dương. Từ thế đất rất cao, thế đứng vô cùng lơi hại, Tây Nguyên có giá trị khống chế rộng các khu vực Xung quanh. Về phía bắc, do tiếp giáp với vùng rừng núi trùng điệp của tỉnh Quảng Nam và Lào, là một hướng cơ động lực lương lớn của ta. Hệ thống Đường Hồ Chí Minh và con đường 14, là những huyết mạch giao thông chi viện sức người, sức của cho các chiến trường. Phía nam, Tây Nguyên nối với Đông Nam Bộ bằng đường 14, với Sài Gòn bằng đường 20 và đi Phan Rang bằng đường 11; các binh Đoàn cơ động binh chủng hợp thành nhanh chóng tiến xuống Đông Nam Bộ, giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Đối với vùng duyên hải miền Trung Trung Bộ, Tây Nguyên có giá trị khống chế hầu như toàn bộ. Những đơn vị cơ giới nhanh chóng theo đường 19 xuống Bình Định, đường số 7 (nay là đường 25) xuống Phú Yên, đường 21 (nay là đường 26) xuống Khánh Hòa, đường 11(nay là đường 20) xuống Ninh Thuận, hoặc theo đường số 5 (nay là đường 24) xuống Quảng Ngãi. Bộ binh còn cơ động bằng nhiều đường mòn, đường xuyên rừng xuống đồng bằng. Về phía tây, Tây Nguyên nối liền với Hạ Lào và Đông bắc Cam-pu-chia; có đường số 18 từ Tân Cảnh qua PLei Kần sang A Tô Pơ, cao nguyên Bô Lô Ven, Pắc Xế (nước Lào) và đường số 19 kéo dài từ Pleiku qua Đức Cơ sang thị xã STung Treng (Cam-pu-chia). Bên cạnh hai con đường trên, địa hình biên giới rất thuận tiện cho những đơn vị bộ binh lớn qua lại, tác chiến.Tây Nguyên là một địa bàn rộng, có dung lượng chiến trường lớn; vừa có thế liên tục, vừa có chiều sâu kín đáo; vừa có thế công vừa có thế thủ. Địa hình rừng núi, cao nguyên là nơi đứng chân vững chắc và tác chiến thuận lợi của những binh đoàn lớn, đánh những đòn tiêu diệt, giải quyết những nhiệm vụ chiến dịch, chiến lược. Khi tiến công, có thể triển khai lực lương binh chủng hợp thành với quy mô khác nhau, sử dụng cơ giới, không quân; cũng có thể đánh bao vây chia cắt trong từng khu vực hoặc toàn vùng; có thể đánh những đòn lớn vào khu vực trọng điểm, đồng thời cơ động lực lượng tiêu diệt, ngăn chặn tăng viện phản kích của đối phương; có thể phối hợp chặt chẽ giữa đòn tiêu diệt Chính của bộ đội chủ lực với tiến công rộng khắp của lực lượng vũ trang địa phương trong thế trận chiến tranh nhân dân thống nhất. Từ căn cứ Tây Nguyên có thể phát triển tiến công xuống các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ cắt đôi miền Nam, tiến công về Đông Nam Bộ và Sài Gòn, phát triển sang Hạ Lào và Đông bắc Cam-pu-chia. Lúc tiến công gặp khó khăn, có thể tạm dừng để củng cố, chuyển thế, thay phiên. Trong phòng ngự, có thể lợi dụng địa hình từng khu vực hoặc toàn vùng tổ chức thế trận phòng ngự vững chắc, lâu dài, vừa có chiều rộng vừa có chiều sâu; kết hợp giữa các cụm điểm tựa, khu vực phòng thủ then chốt với thế trận bố phòng thiên la địa võng của chiến tranh nhân dân. Thế trận Tây Nguyên vững chắc như bức tường thành bảo vệ các vùng duyên hải phía Đông, Đông Nam Bộ và các vùng kế cận khác.
Bên cạnh những đặc điểm trên, Tây Nguyên còn là một chiến trường có tiềm năng lớn về bảo đảm hậu cần chiến lược tại chỗ. Với khỏang một triệu héc-ta đất trồng trọt, nhiều đồi rừng, sườn núi, tráng cỏ, sông suối, hồ nước có thể sản xuất một lượng lớn lương thực, thực phẩm... cho nhu cầu thường xuyên và cơ bản lâu dài. Cùng với trồng trọt, chăn nuôi, có thể tận dụng một lượng sản phẩm đáng kể từ khai thác tự nhiên làm thực phẩm, dược liệu, chất đốt, vật liệu Những dãy núi cao, rừng rậm là nơi thuận lợi để bố trí kho tàng, căn cứ hậu cần chiến dịch và chiến lược. Với hệ thống đường bộ, đường không và đường sông Tây Nguyên có thể cùng một lúc tiếp nhận lượng vật chất, lực lượng lớn chi viện từ các hướng, theo các phương thức đa dạng.
Với những đặc điểm về địa lý, kinh tế, xã hội nhân văn và các mối liên quan với các chiến trường, khu vực Xung quanh, Tây Nguyên đã trở thành một địa bàn chiến lược quân sự, một vùng đất vô cùng trọng yếu trong các cuộc chiến tranh giải phóng trước đây và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thấy rõ giá trị của Tây Nguyên, trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, thực dân Pháp cũng như đế quốc Mỹ đều rất chú trọng và tìm mọi cách giành giật địa bàn chiến lược có tính chất sống còn này. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược của Quân và dân Tây Nguyên trải qua muôn vàn gian khổ, quyết liệt hy sinh, lập nên bao chiến công hiển hách. |
|
|