Khác

LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954-1975)

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc thắng lợi, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, song nhiệm vụ giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam chưa hoàn thành trọn vẹn. Đất nước ta tạm chia làm hai miền. Khu 4 là địa bàn trực tiếp chịu sự chia cắt đó.

Lai Châu12/02/2026Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 (Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
CỦNG CỐ HÒA BÌNH, XÂY DỰNG THỰC LỰC,
KỊP THỜI CHUYỂN HƯỚNG ĐẤU TRANH
(1954 - 1960)

I - ĐẤU TRANH ĐÒI THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GIƠ-NE-VƠ, XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TUYẾN ĐẦU

Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Theo những điều khoản của Hiệp định, thực dân Pháp phải rút quân và tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào.

Là một nước trực tiếp giúp Pháp trong chiến tranh xâm lược Đông Dương và là thành viên của Hội nghị Giơ-ne-vơ, nhưng đế quốc Mỹ không ký vào bản tuyên bố chung của Hiệp định. Với ý đồ chia cắt lâu dài nước ta, nên Hiệp định Giơ-ne-vơ vừa có hiệu lực, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam làm thủ tướng bù nhìn. Ngày 8 tháng 9 năm 1957, Mỹ lôi kéo các nước Anh, Pháp, Úc, Thái Lan, Phi-líp-pin, Pa-ki-xtan lập khối quân sự Đông Nam Á (gọi tắt là SEATO) và đặt miền Nam Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia dưới sự bảo hộ của khối này. Cùng trong tháng 9, chính phủ Mỹ quyết định viện trợ trực tiếp cho Diệm không qua Pháp, nhằm xây dựng một chính quyền tay sai thân Mỹ ở miền Nam.

Tháng 11 năm 1954, chính phủ Mỹ cử tuớng Cô-lin sang làm đại sứ ở Sài Gòn với kế hoạch sáu điểm nhằm tập trung củng cố chính quyền Diệm, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam. Trước sức ép của Mỹ, lại ở thế yếu, thực dân Pháp nhanh chóng nhượng bộ và bỏ trách nhiệm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Ngay sau khi sang miền Nam Việt Nam, Cô-lin ra Quảng Trị nghiên cứu tình hình, vạch cho Diệm kế hoạch phòng thủ khu vực giới tuyến, ngăn chặn sự tiến công của ta từ miền Bắc.

Được Mỹ nuôi dưỡng, trợ giúp, Ngô Đình Diệm tổ chức xây dựng đội quân ngụy tay sai gồm 10 sư đoàn chính quy, đồng thời cho giải ngũ những sĩ quan thân Pháp, gạt bỏ những người không ăn cánh. Mỹ - Diệm điều ba trung đoàn Âu - Phi, sáu tiểu đoàn ngụy từ các nơi về Thừa Thiên, Quảng Trị, tập trung đánh phá phong trào cách mạng. Chúng tổ chức thêm 31 đại đội “nghĩa dũng đoàn", "bảo chính đoàn", mở rộng các sân bay Đông Hà, Phú Bài, xây dựng hệ thống hầm hào, công sự phòng thủ nam giới tuyến và vùng đường số 9, tung các toán gián điệp, biệt kích ra Vĩnh Linh, Quảng Bình móc nối với các ổ, nhóm phản động nằm vùng, phá hoại hậu phương ta.

Với mưu đồ sâu xa và những hoạt động trực tiếp của Mỹ - Diệm, vĩ tuyến 17 - giới tuyến quân sự tạm thời đã cắt đôi địa bàn Khu 4. Các tỉnh nam và bắc vĩ tuyến từ đây trở thành nơi đụng đầu trực tiếp giữa lực lượng cách mạng và thế lực phản cách mạng.

Cùng với cả nước bước vào cuộc đấu tranh mới, quân và dân Liên khu 4 đồng thời phải thực hiện cả hai nhiệm vụ mà Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung uang Đảng đã đề ra trong Nghị quyết tháng 9 năm 1954 là: "Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến để củng cố hòa bình; ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và phát triển sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam nhằm củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc". Quán triệt nhiệm vụ Đảng đã đề ra, căn cứ tình hình thực tế địa bàn, Liên khu ủy chỉ đạo các tỉnh khẩn trương ổn định đời sống nhân dân, củng cố thế đấu tranh chính trị ở Quảng Trị, Thừa Thiên, kiên quyết đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Vừa lo khôi phục kinh tế, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, Liên khu 4 còn được Trung ương giao nhiệm vụ đón tiếp cán bộ, bộ đội và đồng bào miền Nam tập kết với phương châm "tận tình, chu đáo". Tuy công việc bề bộn, nhưng Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh liên khu đã tổ chức, chỉ đạo chặt chẽ việc đón tiếp, sắp xếp việc làm cho cán bộ, đồng bào miền Nam, coi đó là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của Liên khu trong những ngày đầu hòa bình. Liên khu thành lập ban chỉ đạo, ở các tỉnh có "Phòng miền Nam" và các bộ phận quân nhu, vận tải thường trực ở cửa Hội, Sầm Sơn cùng phối hợp với lực lượng của Bộ đón tiếp chu đáo cán bộ và nhân dân miền Nam tập kết. Đồng bào Vĩnh Linh và các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa đã coi cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết như anh em một nhà, đã "nhường áo, sẻ cơm" giúp đỡ trâu, bò, dụng cụ sản xuất..., để đồng bào nhanh chóng ổn định đời sống. Đồng bào miền Nam tập kết hết sức thông cảm với khó khăn của nhân dân Liên khu 4, đã đồng cam cộng khổ trong mọi công việc, góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định trật tự an ninh. Liên khu đã thành lập 51 tập đoàn sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp cho cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết. Riêng Vĩnh Linh và Hà Tĩnh tiếp nhận 5.157 nhân khẩu về làm ăn, sinh sống ở địa phương. Trong thời gian ngắn, đã có hơn một phần ba số cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết ở địa phận liên khu có một cuộc sống ổn định.

Hậu quả chiến tranh chưa khắc phục được, sản xuất nông nghiệp lại bị thiên tai cuối năm 1954 tàn phá đã làm cho toàn liên khu có hơn 600.000 người bị đói, nghiêm trọng nhất là nhân dân các huyện Kỳ Anh, Can Lộc, Hương Khê (Hà Tĩnh), Nông Cống, Tĩnh Gia (Thanh Hóa), Quảng Trạch (Quảng Bình).

Nhân lúc ta gặp khó khăn, Mỹ - Diệm cấu kết với bọn phản động ở Vương quốc Lào phá hoại ta từ phía tây. Tháng 10 năm 1956, Trần Văn Đôn phó tổng tham mưu trưởng ngụy cùng với Thủ Quang Hoàng quân khu trưởng quân khu 2 bàn mưu với bọn phản động Vương quốc Lào phá hoại miền Bắc, chủ yếu là dọc biên giới Lào - Việt từ vĩ tuyến 17 đến Thanh Hóa.

Lúc này, các tổ chức phản động Việt Nam trước đây ở Lào theo chân Mỹ ngóc đầu dậy hoạt động. Một nhóm phỉ do tên Giáo Lê cầm đầu đóng tại vùng Mường Xải, Mường Pao, Sầm Tớ và tổ chức “Liên bang Thái tự trị" do Lò Khăm Thi cầm đầu, được Mỹ trực tiếp chỉ đạo (trụ sở của chúng đặt ở Bản Ban, gần biên giới Lào - Việt), có nhiệm vụ đào tạo biệt kích, tập hợp phỉ, gián điệp, lôi kéo dân di cư sang Lào. Vùng biên giới từ Thanh Hóa đến Quảng Bình luôn bị chúng phá hoại.

Tháng 9 năm 1955, hai toán gián điệp, biệt kích thâm nhập vào vùng núi Thanh Hóa, Nghệ An, móc nối với bọn phản động cũ, tuyên truyền kích động một số đồng bào vùng Kỳ Sơn (Nghệ An), Quan Hóa (Thanh Hóa) xuyên tạc đường lối của Đảng, dụ dỗ, lôi kéo họ di cư.

Cùng lúc này, bọn phản động nội địa, nổi lên phá hoại. Ở Quảng Bình có "đảng Việt Hưng" do tên Lễ cầm đầu. Huyện Hướng Hóa có "đảng Cù Xuân" gồm những tên phản động thuộc tầng lớp trên của dân tộc Vân Kiều ra đời từ năm 1949 do hai tên Bót Ót, Nhung Nhưa cầm đầu. Các đảng phái phản động này lợi dụng giáo lý, mê hoặc quần chúng, nói xấu chế độ, nói xấu Đảng ta, kích động hằn thù dân tộc.

Đặc biệt, địch ra sức lôi kéo, cưỡng ép đồng bào theo đạo Thiên chúa di cư vào Nam, với ý đồ tạo ra những cuộc bạo loạn chính trị, bổ sung lực lượng cho Diệm, "biến miền Bắc thành một bãi sa mạc để lại cho Việt Minh". Chúng lôi kéo hàng nghìn giáo dân di cư vào Nam và liên tiếp gây ra những vụ bạo loạn ở Nghệ An, Thanh Hóa.

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)« Trả lời #2 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2024, 10:41:09 pm »

Tháng 4 năm 1955, địch gây ra vụ bạo loạn ở Diễn Tiến (Diễn Châu, Nghệ An). Đây là vị trí quan trọng có đường quốc lộ số 1 chạy qua, nơi xuất phát đường số 7, lại nằm sát cửa biển và là tụ điểm của bọn phản động ba huyện: Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu. Địch hy vọng ngọn lửa bạo loạn mà chúng nhen lên nơi này sẽ nhanh chóng lan sang vùng khác. Lực lượng nòng cốt là 17 tên phản động từ miền Nam ra. Bọn này tổ chức một đội vũ trang với 100 tên được trang bị giáo mác, kết hợp với bọn phản động ở địa phương tuyên truyền, lôi kéo giáo dân vào Nam. Địch tung luận điệu "chúa sắp hiện hình", "đến đây gặp chúa", "đi Nam để làm ăn, ở miền Bắc sẽ bị ném bom nguyên tử"... Bị chúng lừa bịp, cưỡng ép, hơn hai chục nghìn giáo dân các vùng Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu kéo đến tập trung xung quanh nhà thờ Diễn Tiến.

Trước khi bạo loạn nổ ra, Bộ Tư lệnh liên khu điều một tiểu đoàn của trung đoàn 269 gấp rút từ Vinh ra Diễn Châu. Đồng chí Lê Nam Thắng, Tư lệnh liên khu và đồng chí Nguyễn Hữu Phúc tỉnh đội trưởng Nghệ An trực tiếp chỉ đạo, phối hợp thống nhất lực lượng giữa ba huyện Diễn - Yên - Quỳnh để tiến hành dập tắt bạo loạn... Ta tổ chức một lực lượng quần chúng cách mạng khoảng một nghìn người (cả lương và giáo) gặp gỡ số giáo dân bị dụ dỗ lôi kéo, giải thích, nói rõ âm mưu kẻ thù, khuyên bà con trở về quê làm ăn. Tiếp đó, một đội vũ trang được lệnh vào nhà thờ Diễn Tiến, bắt năm tên đầu sỏ phản động đội lốt cha cố, đưa ra trước đông đảo quần chúng, buộc bọn này phải nói rõ mưu đồ của chúng. Được nhân dân hỗ trợ, 18 tên phản động khác lần lượt bị bắt. Trước những lời thú tội của chúng, nhân dân dần dần thấy rõ âm mưu thâm độc của địch và tự động giải tán.

Sau gần tám ngày đấu tranh liên tục, vừa vận động quần chúng vừa trấn áp bọn đầu sỏ, ta đã dập tắt hành động cưỡng ép di cư của địch ở khu vực Diễn Châu - Nghệ An.

Cùng thời gian này, tại Thanh Hóa, bọn phản động lôi kéo giáo dân gây ra vụ bạo loạn ở Ba Làng. Chúng lập ra đội vũ trang, tiến hành chém giết cán bộ, nói xấu chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước. Cán bộ, chiến sĩ sư đoàn 305 kết hợp cùng chính quyền và nhân dân địa phương, tiến hành tước vũ khí, bắt toàn bộ bọn phản động, dập tắt vụ bạo loạn.

Vừa phá hoại ở đồng bằng, địch vừa đẩy mạnh hoạt động ở các vùng núi dọc biên giới Việt - Lào. Lợi dụng mê tín của đồng bào Mẹo vùng Pù Nhi sát biên giới thuộc huyện Quan Hóa, bọn phản động bày trò cúng bái, đón "vua Mẹo". Chúng tập hợp hơn ba trăm người trang bị súng, gậy, dao; lôi kéo dân sang Lào. Cán bộ địa phương cùng với bộ đội đồn biên phòng 923 đến thuyết phục, chúng nổ súng làm 19 người bị thương và tiếp tục cưỡng ép dân. Bộ đội cùng với một số đồng chí cán bộ người Mẹo kiên trì giải thích chính sách của Đảng, Bác Hồ cho đồng bào và nghiêm trị những tên tay sai, làm cho bà con thấy rõ âm mưu kẻ thù. Hơn 700 người ra đi, đã có 600 người trở về.

Vừa bước ra khỏi chiến tranh, trong một bối cảnh đầy khó khăn, nhưng với lòng tin vào chế độ mới, tin ở Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân liên khu vừa truy quét địch, dập tắt các cuộc bạo loạn, vừa hăng hái hưởng ứng phong trào thi đua sản xuất, khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh, từng bước ổn định đời sống. Nhiều địa phương ở Thanh Hóa, Nghệ An đã chủ động san sẻ thóc giống, giúp đỡ những nơi khó khăn để đảm bảo thời vụ. Đang thời gian tập huấn chính trị, bộ đội các sư đoàn 324, 325, trung đoàn 270, 271 cũng tạm ngừng cùng nhân dân chống hạn, chống đói. Các đơn vị bộ đội đã đào đắp 3.000 mét khối đất đá, xây dựng các công trình thủy lợi ở Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Bình. Cán bộ, chiến sĩ nhiều đơn vị quyết định giảm bớt khẩu phần ăn hàng ngày, dành ra hơn 14 tấn gạo giúp đỡ đồng bào các vùng đói trầm trọng ở Nghệ An, Thanh Hóa.

Thời gian này, các địa phương liên khu đang thực hiện thắng lợi cải cách ruộng đất. Hơn 200 nghìn héc-ta ruộng đất được chia cho nông dân. Chế độ bóc lột bị xóa bỏ, nông dân trở thành người chủ ở nông thôn. Tháng 5 năm 1956, sư đoàn 324 được huy động cùng chính quyền các cấp sửa sai trong cải cách ruộng đất ở Nghệ An. Ở Quảng Bình, Hà Tĩnh, cán bộ, chiến sĩ các trung đoàn 269, 271 cùng với chính quyền địa phương giúp đỡ nhân lực, phương tiện cho những gia đình bị quy sai, nhanh chóng bước vào ổn định sản xuất. Qua thắng lợi của cải cách ruộng đất và sửa sai, sản xuất nông nghiệp có nhiều tiến bộ. Đến tháng 12 năm 1957, có 98 phần trăm số hộ nông dân vào tổ đổi công, tăng 30 phần trăm so với năm 1956. Cùng với thành tựu sản xuất nông nghiệp, các mặt văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến. 98 phần trăm nhân dân được xóa nạn mù chữ, hơn 30.000 học sinh phổ thông đến trường, hàng chục bệnh viện được xây dựng với 35 000 cán bộ y tế.

Đối với các tỉnh phía nam vĩ tuyến 17, các chi bộ Đảng chuyển vào hoạt động bí mật. Thành ủy Huế có năm đồng chí. Các huyện ủy, quận ủy có từ bốn đến năm đồng chí. Chi bộ nông thôn nhiều nhất là chín đồng chí, chi bộ ở thành phố nhiều nhất bảy đồng chí, bám sát quần chúng phát động sản xuất và đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Ở Quảng Trị, ta đã tổ chức sửa chữa cho bà con nghèo mỗi xã từ 100 đến 200 nhà mới. Ở Thừa Thiên, cách mạng chia cho dân hàng nghìn mẫu ruộng và đất vườn. Nhờ có gắng khắc phục khó khăn của các địa phương, nạn đói bị đẩy lùi. Hơn hai nghìn hèc-ta ruộng đất hoang hóa được phục hồi.

Về phía địch, vừa nắm được chính quyền, Ngô Đình Diệm tiến hành gạt các phe phái đối lập như Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt, Bình Xuyên... Tháng 3 năm 1955, Diệm đưa bốn tiểu đoàn lên đánh lực lượng Đại Việt ở miền tây Quảng Trị. Lính Đại Việt bỏ chạy, một thời gian sau bị các lực lượng vũ trang và nhân dân miền núi Quảng Trị tiêu diệt.

Cùng lúc Diệm hô hào “đả thực, bài phong, diệt cộng", Quảng Trị, Thừa Thiên được Mỹ - Diệm coi là "tiền đồn chống cộng”. Đầu năm 1955, Ngô Đình Diệm đã bố trí ở đấy một sư đoàn chủ lực (sư đoàn "Bắc tiến") và 10 đại đội bảo an, 50 trung đội dân vệ, ba đại đội cảnh sát, hình thành hệ thống phòng thủ dọc biên giới Việt - Lào và giới tuyến quân sự tạm thời.

Tại biên giới Việt - Lào, địch chiếm đóng các vị trí quan trọng như Lao Bảo, Tà Rụt, A So, A Lưới, Nam Đông, Khe Tre và đóng 18 đồn trên đường số 14, đường số 12, ở Truồi, Cầu Hai… Mỹ - Diệm đàn áp đẫm máu nhân dân hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, hòng uy hiếp tinh thần nhân dân, dập tắt phong trào đấu tranh ở đây. Tháng 9 năm 1954, chúng xả súng vào đoàn đấu tranh của bà con Kim Đôi (Quảng Điền, Thừa Thiên) đòi cải thiện đời sáng, chống khủng bố, làm 57 người chết. Tháng 10 năm 1954, địch lại đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng ở Đồng Lộc (Thừa Thiên) làm chết ba người. Mỹ - Diệm lập ra những đội "biệt kích áo đen" ngày đêm săn lùng cộng sản. Ngày 20 tháng 7 năm 1955, địch bắt 100 cán bộ, đảng viên về Sịa để "học tập". Thực chất các lớp học này là trại tra tấn, truy bức dài ngày để phát hiện tổ chức Đảng và khủng bố tinh thần quần chúng. Phần lớn cán bộ, đảng viên bị chúng sát hại.

Diệm ban hành chính sách "tố cộng, diệt cộng", lập "khu trù mật", "khu dinh điền". Chúng lập ra bộ máy "tố cộng, diệt cộng" từ trung ương đến cơ sở. Ở Quảng Trị, Thừa Thiên, chúng chia huyện thãnh quận; xã cũ thành hai đến ba xã mới; lập ủy ban "tố cộng” ở quận. Mỗi quận có một đội "tố cộng”, các đội xuống từng xã để tổ chức “tố cộng". Chúng chọn Thừa Thiên - Huế là một trong những trọng điểm "tố cộng, diệt cộng" và liên tiếp mở các chiến dịch đánh phá cách mạng nơi đây. Tháng 4 năm 1955, chúng tiến hành chiến dịch "Phan Chu Trinh"1, tập trung hơn 1.000 quân cùng với các đoàn "công dân vụ”, “đội biệt kích áo đen", bọn gián điệp, ác ôn đánh phá vùng Hải Lăng, Phong Điền. Hơn hai trăm ngôi nhà của dân bị đốt phá, hàng trăm người bị bắt, trong đó có 40 cán bộ, đảng viên. Tiếp đó, chúng đưa quân chiếm đóng các khu sát miền tây Quảng Trị...
______________________________________________
1. Chiến dịch này, địch đánh phá các tỉnh Trung Bộ, trọng điểm là Quảng Nam.

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)« Trả lời #3 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2024, 10:42:40 pm »

Tháng 5 năm 1955, địch mở chiến dịch "Trịnh Minh Thế". Mặc dầu trọng điểm của chiến dịch này là đánh phá các tỉnh thuộc Khu 5, song địch đã huy động bốn tiểu đoàn, năm đoàn "công dân vụ" và hàng chục đội "biệt kích áo đen" càn quét các vùng đồng bằng Thừa Thiên, nhằm củng cố và đánh chiếm các xã, ấp chưa nắm được. Với phương châm "tát cạn nước để bắt cá", "giết oan một trăm còn hơn bỏ sót một cộng sản", Mỹ - Diệm đã giết hại, tra tấn dã man những người yêu nước, những người kháng chiến cũ. Tại Thừa Thiên, chúng tập trung đánh mạnh vào các trọng điểm: Sư Lỗ, Chợ Sam, Phong Bình, Phong Hòa, Quảng Thái, Khánh Mỹ... Càn quét đến đâu, chúng triệt hạ nhà cửa, bắt tra tấn những người có con em đi tập kết. Các tổ chức đảng bị tổn thất nặng.

Từ tháng 1 năm 1955, Liên khu ủy 4 chủ trương phát động toàn dân đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, giữ vững đấu tranh chính trị ở Quảng Trị, Thừa Thiên; các tỉnh bắc liên khu đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư, dập tắt các cuộc bạo loạn và hậu thuẫn cho đồng bào nam vĩ tuyến đấu tranh.

Tháng 3 năm 1955, Thường vụ đảng ủy Vĩnh Linh họp quán triệt chủ trương của liên khu đối với khu vực giới tuyến. Hội nghị nhấn mạnh: thực hiện đấu tranh chính trị, dựa vào pháp lý hiệp định, tạo ra nhiều hình thức đấu tranh phong phú. Hội nghị cũng đề ra biện pháp phối hợp hành động với lực lượng vũ trang - tiểu đoàn 57, trung đoàn 270.

Tháng 4 năm 1955, địch tung nhiều toán gián điệp qua giới tuyến khống chế chặt chẽ sự đi lại giữa hai miền, cưỡng bức hơn 200 người chuẩn bị vượt giới tuyến di cư vào Nam. Ta cử phái đoàn phụ nữ tiếp xúc với đối phương, đấu tranh và vận động chúng thực hiện hiệp định đình chiến, thuyết phục bà con trở về quê cũ. Kết quả 180 người đã trở về quê hương, trong số này ta phát hiện và xử lý 12 tên gián điệp địch cài vào để phá hoại ta.

Tháng 6 năm 1955, do được chuẩn bị từ trước, hàng trăm đồng bào ta gặp đại diện của ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế, gửi hơn 1.200 lá đơn tố cáo Mỹ - Diệm vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ, khủng bố đàn áp đồng bào miền Nam. Cùng thời gian này, hàng vạn bức thư, bưu thiếp tập trung từ các tỉnh miền Bắc, được nhân dân bờ bắc sông Bến Hải chuyển qua bờ nam. Nhờ đấu tranh kiên quyết, đồng bào hai bên giới tuyến vẫn được qua lại, tình cảm Bắc - Nam không bị chia cắt. Đây là nguồn động viên lớn cho đồng bào vùng tạm chiếm tiếp tục đấu tranh.

Để công tác lãnh đạo phù hợp với điều kiện mới của cách mạng, từ ngày 28 tháng 4 đến ngày 7 tháng 5 năm 1955, Liên khu ủy 4 triệu tập hai Ban tỉnh ủy Quảng Trị, Thừa Thiên về Đồng Hới để học tập Nghị quyết lần thứ 7 của Trung ương và thông báo quyết định của Trung ương sát nhập Quảng Trị, Thừa Thiên vào Liên khu 5.

Dưới sự chỉ đạo của Liên khu ủy 5, Quảng Trị, Thừa Thiên được chọn làm thí điểm cho phong trào chống Mỹ - Diệm. Mục đích đấu tranh là đòi dân sinh, dân chủ, chống khủng bố đàn áp, thực hiện hiệp định đình chiến. Phương châm đấu tranh: "có lý, có lợi và đúng mức", kết hợp chặt chẽ hợp pháp và không hợp pháp, lấy không hợp pháp làm chính, lợi dụng mọi khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp mà tuyên truyền giáo dục quần chúng đẩy mạnh phong trào đấu tranh.

Ngày 1 tháng 5 năm 1955, ba mươi nghìn nhân dân Hương Điền và các xã ven Huế thuộc Quảng Điền, Hương Trà kéo vào Huế kỷ niệm ngày 1 tháng 5. Đoàn biểu tình nêu cao khẩu hiệu đòi dân sinh dân chủ, hòa bình; đòi đắp đập Thuận An ngăn nước mặn cho dân sản xuất. Nhiều binh lính, sĩ quan, công chức ngụy cũng tham gia mít tinh. Ngụy quyền Thừa Thiên - Huế phải chấp nhận các yêu sách của nhân dân.

Tháng 8 năm 1955, Đảng bộ Thừa Thiên - Huế huy động hàng chục vạn người ở Huế, Hương Thuy, Hương Trà, Phú Vang kéo vào thành đòi chính quyền Diệm thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử. Hàng chục vạn người ký vào biên bản kiến nghị; các đoàn đại biểu đến bao vây quận lỵ, tỉnh lỵ tuyên truyền, đưa kiến nghị. Ngô Đình Diệm vội vàng từ Sài Gòn ra Huế, giải quyết yêu sách, xoa dịu quần chúng.

Ngày 4 tháng 3 năm 1956, tại Quảng Trị đã nổ ra phong trào đấu tranh chống trò hề bầu cử của chính quyền Diệm. Hàng vạn nhân dân Triệu Ái, Triệu Thượng, Triệu Lễ (Triệu Phong), Hải Thượng (Hải Lăng)... đấu tranh đòi hiệp thương thống nhất Bắc - Nam, chống bầu cử gian lận. Ở Triệu Thượng, Hải Thượng, đa số nhân dân không đi bầu cử. Nhân dân Triệu Hải ném thùng phiếu xuống sông, bí mật bỏ truyền đơn vào thùng phiếu. Khắp nơi trong vùng nhân dân đã biến cuộc bầu cử của ngụy quyền thành cuộc đấu tranh vạch trần tội ác của Diệm.

Phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ của nhân dân Trị - Thiên - Huế, kết hợp với hậu phương miền Bắc được củng cố khiến cho địch nom nớp lo sợ. Mỹ đã chi hàng trăm triệu đô-la để xây dựng chính quyền và hệ thống phòng thủ, tăng cường quân đội ngụy, hòng áp đặt ách thống trị của chúng ở Trị - Thiên. Chúng tăng cường phương tiện chiến tranh cho Huế, Đông Hà; bố trí hai sư đoàn chủ lực (sư đoàn 1 và sư đoàn 16 khinh chiến) cộng với hai trung đoàn địa phương (trung đoàn 164 của Quảng Trị, trung đoàn 161 của Thừa Thiên), 50 trung đội dân vệ, ba đại đội cảnh sát ở hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên. Tháng 9 năm 1957, địch triển khai cuộc diễn tập lớn giữn quân đoàn 1 phối hợp cùng quân khu 1 với tưởng định: tác chiến trì hoãn đối phó quân miền Bắc tiến công khu phi quân sự. Mục đích diễn tập là nhằm nâng cao sức chiến đấu cho quân ngụy, phô trương lực lượng, đe dọa miền Bắc và kích động đẩy mạnh "tố cộng diệt cộng" ở miền Nam.

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)« Trả lời #4 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2024, 10:43:24 pm »

Đi đôi với xây dựng quân đội, Mỹ - Diệm hết sức coi trọng củng cố chính quyền. Chúng tiến hành chia nhỏ các quận, xã, để dễ bề cai trị: Thừa Thiên chia thành bốn quận, ba tổng, gồm 93 xã, Quảng Trị gồm bẩy quận, 86 xã. Diệm bổ sung thêm những tên lưu manh ác ôn, bọn công giáo phản động di cư tham gia vào chính quyền ngụy ở các cấp. Đảng "cần lao nhân vị", Diệm đặt ra từ năm 1954, là tổ chức những tên cực kỳ phản động. Chúng bắt dần vào các tổ chức “thanh niên cộng hòa", "phụ nữ liên đới", "hiệp hội nông dân", nhất là các vùng giáo dân Hương Điền, La Vang... Chúng nhồi sọ tư tưởng chống cộng và dùng các tổ chức này làm chỗ dựa đàn áp cách mạng.

Đối với nông dân, Diệm ban hành dụ số 7, về “cải cách điền địa". Ở Quảng Trị, Thừa Thiên chúng cướp lại hơn 10.000 héc-ta ruộng đất trước đây cách mạng đã chia cho nông dân, lập các khu dinh điền ở Cùa, Ba Lòng, Hoàn Cát, Cầu Nhi, và 11 nông trường ở Nam Đông, Khe Tre, Hòa Mỹ, A Sầu, A Lưới. Hàng chục nghìn người dân bị chúng bắt vào các "nông trường" khu dinh điền để dễ cai trị.

Củng cố thêm một bước về thế lực, Mỹ - Diệm thực hiện giai đoạn 2 của "tố cộng diệt cộng" với phương châm tàn bạo "dĩ cộng diệt cộng”, "nhổ cỏ tận gốc", "lâu dài, liên tục, cẩn thận sâu sắc". Rút kinh nghiệm giai đoạn 1 nặng đi khủng bố tràn lan, sang giai đoạn 2, Diệm tập trung phá từ trong ra.

Tháng 8 năm 1957, chúng sử dụng một nghìn học viên các trường quân sự "thực tập lùng sục cộng sản" ở nam khu phi quân sự. Chúng tập trung dân, bắt xé cờ Đảng Cộng sản bắt 50 cán bộ, đảng viên.

Tháng 9 năm 1957, ba tiểu đoàn ngụy kết hợp với các đội "công dân vụ" càn quét các vùng Triệu Lương, Cam Thanh, Cam Giang, Hải Thượng, Hải Phú. Ngày 15 tháng 9 năm 1957, bốn tiểu đoàn địch càn quét các vùng Triệu Ái, Triệu Thượng, Triệu Lễ. Chúng bắt hàng nghìn người vào các khu dinh điền, làm đường. Do sự khủng bố, vây quét khốc liệt của kẻ thù, các cơ sở Đảng bị bật khỏi dân. Nhiều cán bộ, đảng viên mặc dầu bị tra tấn dã man, vẫn giữ trọn khí tiết người cộng sản. Đồng chí Luyến ở Phú Lộc nhảy vào lửa hy sinh, quyết không ly khai Đảng. Đồng chí Nguyễn Đằng ở Phong Điền thà hy sinh, nhất quyết không xé cờ Đảng...

Đỉnh cao của hành động đàn áp cách mạng là việc Ngô Đình Diệm ban hành luật "10-59". Địch lê máy chém đi khắp nơi, lập phiên tòa xử chém tại chỗ cán bộ, đảng viên ta. Sau năm 1954, Thừa Thiên có 3.000 đảng viên, sau khi Diệm thực hiện luật “10-59” chỉ còn lại vài chục đồng chí. Quảng Trị trước đây có 8.400 đảng viên, qua đấu tranh chống địch "tố cộng" phần lớn hy sinh, ba huyện đồng bằng chỉ còn 176 đảng viên; ở Do Linh (Quảng Trị) tháng 7 năm 1954, có 920 cán bộ, đảng viên, chỉ còn 128 đồng chí. Ở Phong Điền từ 2.753 cán bộ, đảng viên, qua đấu tranh chỉ còn 52 người. Hương Trà, Quảng Điền khi đi tập kết còn ở lại 400 đảng viên, cuối năm 1956 đã bị địch bắt, giết gần hết. Huyện Cam Lộ không còn chi bộ nào.

Kẻ thù đàn áp dã man, ta lại nặng về đấu tranh chính trị, không chuyển hướng đấu tranh kịp thời nên phong trào cách mạng Quảng Trị, Thừa Thiên bị tổn thất nặng nề và tạm thời lắng xuống.

Đi đôi với “tố cộng", "diệt cộng" khốc liệt ở Trị - Thiên, kẻ thù tăng cường phá hoại các tỉnh tuyến đầu miền Bắc (chủ yếu là Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa). Để thực hiện ý đồ "không cho cộng sản rảnh tay xây dựng", đầu tháng 8 năm 1958, địch tung qua biên giới và dọc theo bờ biển chín toán gián điệp, biệt kích, Chúng còn cấu kết với bọn phản động Lào gây tranh chấp biên giới ở Hướng Lập, A Chốc, Keng Đu.

Tại xã Hướng Lập (Vĩnh Linh), tháng 7 năm 1959, ba đại đội thuộc lực lượng phái hữu Vương quốc Lào, kết hợp với một đại đội ngụy miền Nam khiêu khích gây tranh chấp biên giới. Là một vùng tiếp giáp với miền Nam và Lào, đồng bào ở đây số đông thuộc dân tộc Vân Kiều, có một số phần tử xấu ủng hộ địch. Để dập tắt ý đồ của địch, tránh xung đột gây căng thẳng biên giới, Liên khu chỉ đạo lực lượng vũ trang Vĩnh Linh (đại đội 3 tiểu đoàn 41) đấu tranh buộc địch tôn trọng chủ quyền biên giới lãnh thổ, xây dựng biên giới hữu nghị lâu dài. Quân phái hữu Lào buộc phải rút về.

Tại Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, địch móc nối với bọn phản động địa phương tổ chức phá hoại sản xuất, ám sát cán bộ...

Mọi âm mưu, hành động của địch đã bị nhân dân các địa phương Liên khu 4 làm thất bại, trật tự an ninh ngày càng được củng cố.

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)« Trả lời #5 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2024, 10:46:49 pm »

*

* *
Trên miền Bắc, sau khi cơ bản hàn gắn vết thương chiến tranh, nhằm củng cố tổ chức, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang và thế trận chiến tranh nhân dân, Nhà nước ta quyết định thành lập các quân khu trên cơ sở các liên khu hình thành từ trong kháng chiến chống Pháp.

Ngày 3 tháng 6 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 017/SL thành lập các quân khu: Việt Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc, Tả Ngạn, Hữu Ngạn, Quân khu 4.

Nhiệm vụ của Quân khu 4 được xác định: phụ trách toàn bộ công cuộc phòng thủ tác chiến trong quân khu; lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng thường trực, hậu bị, dân quân tự vệ về xây dựng và tác chiến; chịu trách nhiệm mọi mặt công tác quốc phòng trong phạm vi quân khu.

Các đồng chí Nguyễn Đôn được cử giữ chức Tư lệnh, Chu Huy Mân - Chính ủy, Lê Nam Thắng - Tham mưu trưởng.

Cơ quan quân khu bước đầu gồm có: phòng tham mưu, phòng hậu cần, phòng chính trị. Lực lượng chủ lực của quân khu gồm ba trung đoàn độc lập (269, 270, 271), ba tiểu đoàn bảo vệ bờ biển (499, 500, 501), bốn tiểu đoàn biên phòng (923, 925, 927, 929)1. Thời gian này, Quân khu được bổ sung trung đoàn 120 bộ đội Tây Nguyên tập kết và tiểu đoàn 323 đặc công. Tổng quản số chủ lực toàn quân khu là 13.356 người. Lực lượng vũ trang địa phương gồm 18 đại đội, hai trung đội và 12.000 dân quân.

Sau khi thành lập, Quân khu nhanh chóng tổ chức, bố trí lực lượng phù hợp với đặc điểm, tình hình và nhiệm vụ của từng khu vực trên địa bàn. Trung đoàn 270, làm nhiệm vụ phòng thủ tại giới tuyến. Do yêu cầu nhiệm vụ phòng thủ giới tuyến, ngay từ tháng 4 năm 1956, trung đoàn được thay đổi toàn bộ vũ khí trang bị. Trung đoàn 269, đứng chân ở Hà Tĩnh, trung đoàn 271 đứng chân ở Quảng Bình làm nhiệm vụ bảo vệ nội địa. Bốn tiểu đoàn biên phòng chốt giữ vị trí cửa khẩu bốn đường giao thông qua Lào. Tiểu đoàn 923 ở đường 217, tiểu đoàn 925 ở đường số 7, tiểu đoàn 927 ở đường số 8, tiểu đoàn 929 ở đường số 12. Tháng 8 năm 1956, các tiểu đoàn bảo vệ bờ biển 500, 501, 499 đưa năm đại đội ra canh giữ các đảo: Mê, Mắt, Ngư, Cồn Cỏ.

Tỉnh đội các tỉnh nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Khu đội Vĩnh Linh được tăng cường cán bộ đảm bảo số lượng và chất lượng. Tháng 10 năm 1956, cơ quan tỉnh đội mỗi tỉnh được biên chế 40 người, mỗi huyện đội được biên chế từ 6 đến 10 người. Tháng 12 năm 1956, Quân khu thành lập thêm các đơn vị bảo vệ trực thuộc tỉnh đội. Nghệ An có tiểu đoàn 28, Quảng Bình có tiểu đoàn 26, Hà Tĩnh có tiểu đoàn 27, Thanh Hóa có tiểu đoàn 29. Lực lượng dân quân được biên chế thành tiểu đội, trung đội, có nơi tổ chức đến đại đội.
Năm 1957, Bộ Quốc phòng bổ sung cho quân khu sư đoàn 325 (đóng quân tại Quảng Bình) và sư đoàn 324 (đóng quân tại Nghệ An). Cũng thời gian này, Bộ quyết định điều tỉnh đội Thanh Hóa về Quân khu Hữu Ngạn2.

Công tác tổ chức, bố trí lực lượng các đơn vị trên địa bàn quân khu bước đầu vừa đảm bảo phòng thủ tại chỗ, vừa cơ động thuận lợi khi tác chiến xảy ra.

Tháng 3 năm 1957, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 đề ra nhiệm vụ cho quân đội trong giai đoạn mới là bảo vệ công cuộc xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ an ninh lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam. Nội dung, phương châm xây dựng lực lượng được Trung ương xác định: "Tích cực xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh tiến dần từng bước đến chính quy hóa và hiện đại hóa” và "không những có một lực lượng thường trực mạnh mà phải có một lực lượng hậu bị mạnh".

Thực hiện nghị quyết 12 của Trung ương, Quân khu đẩy mạnh xây dựng toàn diện lực lượng vũ trang, trong đó lấy công tác huấn luyện làm trung tâm, chú trọng các phương thức tác chiến hiện đại; vừa tranh thủ học tập tri thức khoa học quân sự tiên tiến, đồng thời bám sát phương châm huấn luyện những nội dung thực tế.

Tháng 9 năm 1958, sư đoàn 324 tổ chức diễn tập ở Nghệ An, bộ đội thực hiện hành quân mang vác nặng, luyện tập cơ động chiến đấu. Qua diễn tập, các cấp chỉ huy, các đơn vị trong sư đoàn nâng cao một bước quan trọng về năng lực tổ chức chỉ huy tác chiến hiệp đồng quy mô sư đoàn.

Tháng 10 năm 1958, sư đoàn 325 tổ chức diễn tập sư đoàn tiến công. Đây là hình thức huấn luyện tổng hợp để nâng cao trình độ hiệp đồng tác chiến giữa cơ quan chỉ huy và các đơn vị. Sư đoàn đã hoàn thành tốt đợt diễn tập. Cùng thời gian này, các trung đoàn 270, 269, tiểu đoàn 44 làm nhiệm vụ bảo vệ bờ biển tổ chức diễn tập chống địch đổ bộ đường biển, có phối hợp với bộ binh, pháo binh, thông tin cùng với dân quân địa phương các huyện ven biển Hà Tĩnh, Quảng Bình. Bước đầu các đơn vị đã nắm được phương thức tác chiến tổng hợp, hiệp đồng. Lữ đoàn 341, tiểu đoàn 41 bảo vệ giới tuyến huấn luyện chiến thuật phòng ngự3, tiến công từ cấp tiểu đội đến tiểu đoàn, chú trọng rèn luyện năng lực chỉ huy của các cấp.
______________________________________________
1. Ngoài ra còn có các đơn vị trực thuộc quân khu gồm: đại đội 240 bảo vệ, tiểu đoàn 541 đối không, đại đội 52 pháo 75 ly, đại đội công an vũ trang 1, đại đội công an vũ trang 2, đại đội du kích Quảng Trị.
2. Quyết định số 17, ngày 30 tháng 1 năm 1957.
3. Tiểu đoàn công an giới tuyến được gọi là tiểu đoàn 41 theo chỉ thị số 23/TC ngày 1 tháng 2 năm 1958 của Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu.

Logged

chuongxedap

Đại tá
*
Bài viết: 13633


Re: Quân khu 4 - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)« Trả lời #6 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2024, 10:48:57 pm »

Song song với huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, quân khu đặc biệt chú trọng bồi dưỡng phát triển đội ngũ cán bộ. Trong năm 1958, các trường bổ túc cán bộ, đào tạo hạ sĩ quan, trường văn hóa ra đời. Cán bộ chỉ huy tỉnh đội, huyện đội được bồi dưỡng về công tác quân sự địa phương theo định kỳ hàng năm. Tháng 6 năm 1958, Quân khu chỉ đạo các tỉnh đội Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình tổ chức đợt huấn luyện cho lực lượng dân quân tự vệ về trình độ chỉ huy, kỹ thuật bắn súng, chiến thuật tiểu đội tiến công, phòng ngự...

Cùng với huấn luyện quân sự, công tác giáo dục chính trị được coi trọng trong chương trình huấn luyện, nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho cán bộ chiến sĩ. Năm 1958, toàn quân khu thực hiện các đợt chỉnh huấn chính trị về đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đường lối đấu tranh thống nhất nước nhà, đường lối quân sự của Đảng, quan điểm chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân.

Qua học tập chính trị, cán bộ, chiến sĩ được bồi dưỡng bản chất giai cấp công nhân, nâng cao ý chí quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà.

Trong thời điểm phong trào huấn luyện, xây dựng quân đội củng cố quốc phòng đang diễn ra mạnh mẽ toàn quân khu, kế hoạch khôi phục kinh tế của các tỉnh cơ bản hoàn thành thắng lợi, một niềm vinh dự lớn đến với nhân dân và lực lượng vũ trang quân khu: ngày 15 tháng 6 năm 1957, Bác Hồ về thăm quân và dân Quân khu 4. Sau 50 năm xa cách, Người lần lượt đi thăm nhân dân các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình; thăm cơ quan, nhà máy, trường học và thăm quê Kim Liên. Người dành nhiều thời gian đi thăm các đơn vị bộ đội miền Nam tập kết: sư đoàn 324, 325, trung đoàn 812, 120... Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ tại quân khu bộ, Nguời ân cần biểu dương những thành tích của lực lượng vũ trang quân khu trong thời gian qua là đã cố gắng bảo vệ mặt biển, biên giới của Tổ quốc, cùng nhân dân giữ gìn an ninh trật tự; cố gắng học tập chính trị, quân sự tiến bộ; giúp các địa phương sửa sai, chống đói, chống lụt, chống bão, chống hạn. Bác chỉ ra những khuyết điểm: tinh thần cảnh giác chưa đầy đủ, một số cán bộ chiến sĩ còn có tư tưởng công thần, ý thức lao động chưa cao; ý thức tổ chức kỷ luật chưa nghiêm, cần sửa chữa. Sau đó, Bác nêu những nhiệm vụ trước mắt cho lực lượng vũ trang quân khu: phải nâng cao cảnh giác, thực hiện tốt việc chỉnh huấn chính trị; cố gắng học tập kỹ thuật quân sự và nghiệp vụ; chống tham ô, lãng phí, giữ vững khối đoàn kết; đoàn kết nội bộ, toàn quân đoàn kết, đoàn kết Bắc - Nam, đoàn kết quân dân.

Ba điều khen ngợi, bốn điều phê bình và năm điều dặn dò của Bác chính là phương hướng hành động của các lực lượng vũ trang quân khu trong giai đoạn mới của cách mạng. Theo phương hướng đó, Quân khu ủy đẩy mạnh công tác lãnh đạo các đơn vị góp phần vào công cuộc cải tạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt tập trung xây dựng toàn diện các mặt quân sự, chính trị, hậu cần, đưa bộ đội tiến dần lên chính quy hóa. Quân khu đẩy mạnh thực hiện phong trào "tiến nhanh vượt mức kế hoạch", phong trào thi đua nhằm đẩy nhanh tốc độ xây dựng quân đội được thực hiện từ đầu năm 1958. Một số đơn vị của các trung đoàn 270, 271, sư đoàn 325, 324 hoàn thành kế họạch huấn luyện của năm 1959. Đặc biệt, qua phong trào thi đua "Ba nhất"1 đã xuất hiện nhiều tập thể "Ba nhất", chiến sĩ "Ba nhất" trong lực lượng vũ trang quân khu.

Tiêu biểu cho phong trào này là đại đội 3 mang tên Lê Hồng Phong thuộc trung đoàn 270 - đơn vị dẫn đầu về phong trào "Ba nhất". Chi bộ Đảng đại đội Lê Hồng Phong luôn bám sát chiến sĩ, gương mẫu rèn luyện về năng lực, phẩm chất, làm gương để giáo dục chiến sĩ. Qua mùa huấn luyện năm 1959, một trăm phần trăm cán bộ, chiến sĩ đạt khá giỏi. Hầu hết bộ đội trong đơn vị đạt danh hiệu "Ba nhất". Đại đội Lê Hồng Phong đã được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất. Khẩu hiệu "Ngày không giờ, tuần không thứ, để tất cả vì miền Nam ruột thịt" đã dấy lên sôi nổi trên các công trường, bãi tập. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ được đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Những bài thơ "Thương nhất anh nuôi", "Tôi muốn trở thành người bốn giỏi" của Lưu Trùng Dương, bài hát "Từ ngày anh đi tập kết” của Đức Đường, "Thu Bồn" của Thiện Mỹ, vè "Tò loe tùng cốc” của Huỳnh Thượng... Ở các sư đoàn 324, 325 được đông đảo cán bộ, chiến sĩ ưa thích. Đây là những hoạt động tinh thần sôi động lành mạnh của một thời rèn luyện xây dựng quân đội theo hướng chính quy hóa.

Đi đôi với công tác huấn luyện quân sự, để không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở trong quân đội, từ năm 1959, Quân khu tiến hành kiện toàn công tác chi bộ. Nhiều chi bộ điển hình ra đời trong phong trào xây dựng chi bộ vững mạnh, toàn diện, nhất là phong trào "xây dựng chi bộ gương mẫu” ở đảng bộ sư đoàn 324, phong trào xây dựng "chi bộ chiến lũy" ở sư đoàn 325.

Nguồn bổ sung cho đảng được các chi bộ đặc biệt chú trọng. Trong năm 1959, toàn quân khu phát triển được 1.300 đảng viên, đưa tổng số đảng viên toàn đảng bộ lên tới 14.893 đồng chí, so với năm 1955 tăng hơn 6.000 đảng viên. Đối với lực lượng thường trực, tỷ lệ đảng viên chiếm 19 phần trăm, riêng lực lượng dân quân tự vệ và hậu bị, tỷ lệ đảng viên chiếm 11,5 phần trăm.
Để tiến thêm một bước về chính quy hóa, từ tháng 3 năm 1958, cùng với toàn quân, Quân khu bắt đầu thực hiện các chế độ tiền lương, quân hàm, khen thưởng, điều lệnh điều lệ..., do Nhà nước ban hành.

Tháng 4 năm 1958, Nghệ An là một trong những tỉnh được chọn làm thí điểm thực hiện nghĩa vụ quân sự. Các huyện đội dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền địa phương đã hướng dẫn, giáo dục quần chúng về luật nghĩa vụ quân sự. Ban ngày, mọi người lo sản xuất, ban đêm tranh thủ học tập. Các tổ chức phụ nữ, đoàn thanh niên..., phối hợp tuyên truyền công tác nghĩa vụ quân sự. Thanh niên thấy rõ trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giải phóng miền Nam, hăng hái tình nguyện đăng ký nhập ngũ. Qua khám tuyển, đã có 5.200 thanh niên tham gia lực lượng thường trực, 9.200 quân nhân phục viên vào dự bị một, 4.200 người vào dự bị hai.

Rút kinh nghiệm ở Nghệ An, Quân khu triển khai thực hiện luật nghĩa vụ quân sự ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh. Cùng một lúc hơn hai mươi nghìn thanh niên vào quân đội. Như vậy, bên cạnh lớp cán bộ chiến sĩ tình nguyện trước đây, lực lượng vũ trang quân khu có thêm lớp trẻ kế tiếp được rèn luyện dưới chế độ mới.

Song song với xây dựng lực lượng thường trực, sẵn sàng chiến đấu cao, bảo vệ vững chắc địa bàn, Quân khu thực hiện chủ trương giảm quân số thường trực và chú trọng xây dựng lực lượng hậu bị làm nòng cốt cho nền quốc phòng toàn dân. Cuối năm 1958, quân số thường trực của quân khu từ 36.000 người giảm xuống còn 26.000 người. Mười nghìn cán bộ chiến sĩ được chuyển về các địa phương tham gia công tác sản xuất tại nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã... Trong đó gần 7.000 cán bộ, chiến sĩ (bộ đội miền Nam tập kết) tham gia xây dựng các nông trường, xí nghiệp...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn