Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007)

Lai Châu05/07/2026Quân đội nhân dân (xã nậm mạ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tôi nhớ mãi ngày đầu tiên đến trường làng Xuân Hội học lớp tư (lớp 2 ngày nay). Vào trường so với các bạn cùng lớp thì tôi nhỏ tuổi và nhỏ con nhất nên thầy xếp ngồi ở dãy bàn đầu. Ngồi bàn đầu gần thầy, phải nghiêm chỉnh, không được trò chuyện hoặc nghịch ngợm chút đỉnh như một số học trò ngồi các bàn sau nhưng điều đó lại làm cho mình có một nếp sinh hoạt tốt trong trường ngay từ buổi đầu. Tôi cũng nhớ mãi bài tập đọc đầu tên: “Năm nay tôi lên bảy, đã lớn, tôi đi học, không chơi bời lêu lổng như mấy năm còn bé…”. Đặc biệt, những bài học về luân lý đã ăn sâu vào tâm khảm và cùng đi với tôi suốt cả cuộc đời

“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con…”



“Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy…”

Và bài học lịch sử: “Hai mươi lăm triệu đồng bào con Hồng cháu Lạc, cha Rồng mẹ Tiên. Vua Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ – một bầu trăm trứng trăm con. Mười tám đời Hùng Vương dựng nước và giữ nước Văn Lang…

Nhìn những khẩu hiệu trên tường viết rất đẹp: “Tiên học lễ, hậu học văn – Nhất tự vi sư, bán tự vi sư – Trật tự, kỷ luật, sạch sẽ…”; các bản hình vẽ hoặc in về các môn học Cách trí, Sử ký, Địa dư làm tôi rất vui thích và thấy sự hiểu biết rộng mở hơn nhiều. Trường tôi có hai lớp: lớp năm (Đồng Ấu) và lớp tư (Dự bị). Qua những ngày cùng học, tôi có nhiều bạn bè, ngày ngày cắp sách đến trường vui đùa, chuyện trò, cùng nhau học tập, ngày càng yêu mến, gắn bó với trường.

Cha tôi trước cũng là một thầy giáo trường làng, khi tôi lớn thì ông đã nghỉ dạy. Cha con tôi rất thân mật, ông thường dặn dò chuyện học hành, lòng kính trọng thầy, tình cảm đối với bạn bè. Khi tôi lớn hơn, ông nói cả truyện đời, đôi khi còn luận bàn về thời cuộc. Mẹ tôi làm nội trợ, bà học đến sơ học yếu lược nên thường nhắc nhở giờ giấc học tập, kiểm tra bài vở của tôi, do vậy một phần lớn cũng làm cho tôi siêng năng chăm chỉ, không thể lười biếng được.

Năm đầu, mới quen trường quen lớp, cuối năm tôi chỉ đứng thứ 5 trên 36 sĩ số, nhưng vì là học sinh nhỏ nhất lớp nên nhận được một phần thưởng khuyến khích gồm một giấy khen, năm tập vở trắng, và một hộp bút chì màu. Tôi còn ở trường Xuân Hội một năm lớp tư nữa vì chưa đủ tuổi lên lớp 3 (sơ đẳng). Năm này tôi đứng nhất lớp, cứ sau mỗi kỳ thi tấn ích (kỳ thi ba tháng một lần) thì tôi nhận được một bằng khen; mẹ tôi đóng khung treo trên tường, đó là một vinh dự, tôi càng cố gắng để luôn giữ vị trí cho đến cuối năm học.

Sau nghỉ hè, tôi chuyển lên lớp ba ở trường Phan Lý. Là trường huyện nhưng từ trước cho đến năm tôi học vẫn chỉ có ba lớp. Hết học thầy Thê, tôi vẫn luôn thăm thầy, nhất là trong các dịp nghỉ hè và Tết. Kháng chiến, tôi đi chiến đấu xa, thầy ở trong vùng tạm bị chiếm; sau ngày giải phóng, tôi lại tiếp tục thăm viếng, mừng thọ cho đến khi thầy qua đời. Tôi rất kính trọng thầy và thầy vẫn thương yêu tôi như ngày nào còn nhỏ, các sáng chủ nhật thường đến nhà giúp thầy cộng điểm của lớp trong tuần.

Cuối năm thi yếu lược, tôi đỗ đầu toàn huyện. May mắn làm sao, vừa lúc nhà nước cho trường Phan Lý mở thêm lớp nhì nhỏ, chúng tôi khỏi đi học trường huyện Hòa Đa có sáu lớp nhưng xa hơn bảy cây số. Gia đình tôi không có xe đạp, nếu học ở Hòa Đa phải tìm nhà trọ, tốn kém, nhà nghèo không kham nổi. Thầy Vấn (dạy tôi) trong chống Pháp là cán bộ Ty Giáo dục Bình Thuận, nhưng không đi tập kết, nghe nói sau đó thầy đưa gia đình vào Sài Gòn rồi tìm cách ra được Khu 4 ở quê hương giải phóng. Đến nay, tôi vẫn không biết thầy cô và gia đình như thế nào.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Đường chiến đấu - Thiếu tướng Phạm Hoài Chương« Trả lời #2 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2019, 06:46:49 am »
Lên lớp nhì lớn, một lần nữa trường tôi lại được mở thêm lớp vào năm sau có tiếp lớp nhất. Khi khai giảng lớp nhì lớn, trường làm lễ khánh thành có thượng thư Bộ Quốc dân Giáo dục Phạm Quỳnh, công sứ Pháp và tuần vũ Bình Thuận về dự. Có một nghịch lý là tuy còn nhỏ nhưng chúng tôi vẫn có thể thấy là: khi thầy trò lớp tôi chụp ảnh kỳ niệm có ba vị quan lớn thì viên công sứ Pháp đầu tỉnh lại ngồi chễm chệ ở ghế giữa, còn thượng thư và tuần vũ Nam triều thì ngồi ghế hai bên. Rõ ràng Công sứ Đại pháp oai vệ hơn thượng thư và tuần vũ Nam triều. Thầy lớp nhì lớn tên là Lê Võ Thám, người Quảng Nam, chưa vợ, mạnh khỏe, khôi ngô, thường mặc âu phục, chơi ten nít giỏi. Thầy có lối dạy rất sắc sảo, luôn được Huấn đạo, Kiểm học nhận xét tốt về sư phạm. Cách mạng tháng Tám, tôi nghe nói thầy ở Bộ chỉ huy mặt trận Nha Trang, sau công tác ở vùng tự do Liên khu 5. Trong chống Pháp, tôi không ra học ở Liên khu 5 nên không có điều kiện để tìm thăm thầy. Sau năm học, các thầy Tích, Thám, Phú đều đổi đi dạy ở nơi khác.

Tuy chỉ học mỗi thầy một năm, nhưng tình thầy trò rất đậm đà, thân thiết. Tôi ghi nhớ mãi công ơn các thầy đã dạy dỗ, dìu dắt tôi những bước đầu trên đường học hỏi kiến thức và xây dựng nhân cách ở đời; dù từ khởi đầu tuổi học trò cho đến khi rời ghế nhà trường tôi cũng chỉ mới tuổi 13 nhưng nhờ sự bồi dưỡng giáo dục về hiếu thảo với ông bà cha mẹ, biết ơn tổ tiên nòi giống, biết tôn sư trọng đạo, nhân nghĩa lễ trí tín trong đối nhân xử thế; từ đó lòng yêu nước thương nòi tuy chưa sâu sắc nhưng cũng đã hình thành và qua năm tháng đã được nâng lên. Từ năm lên lớp nhì nhỏ tôi được học bổng, thời đó với học bổng ít ỏi này cũng đủ mua sách vở, giấy bút, quần áo mặc trong năm, đỡ một phần cho gia đình. Học bổng thời ấy là số tiền nhà nước giúp cho những học sinh nghèo học giỏi, sau này lớn lên ra đời làm việc thì phải hoàn lại bằng cách trừ tiền lương hàng tháng cho đến hết số tiền được cấp. Tôi chỉ nhận học bổng ba năm, sau đậu tiểu học thì ở nhà giúp việc gia đình. Cách mạng tháng Tám, tôi khỏi phải trả món nợ học bổng cho “nhà nước Đại Pháp”.

Năm tôi học lớp nhất, Bảo Long lên ngôi Hoàng thái tử, mỗi trường huyện chọn một học sinh nhận giải thưởng của Bảo Long. Tôi may mắn nhận được giải thưởng này gồm một bức ảnh Bảo Long, mặc long bào, đội mũ mang hia và một quyển từ điển tiếng Pháp (La Rousse). Ảnh Bảo Long xem chơi nhưng quyền từ điển thì có ích cho học vấn. Cũng là một kỷ niệm đẹp thời học sinh.

Là học sinh giỏi ở trường Phan Lý, nhưng năm 1940 vào Phan Thiết thi tiểu học (nay là trường tiểu học Đức Thắng I), tôi không khỏi lo lắng “học tài thi phận”. Không may cho tôi, đầu tiên gặp bài chính tả tiếng Pháp là bài Leriz, tôi không nhớ cụm từ Leriz est le don du ciel (hạt gạo là của trời cho). Thầy đọc giọng mũi điệu như giọng đầm rất khó nghe, tôi không phân biệt đây là một hay ba từ. Liếc sang thí sinh bên cạnh thấy anh ta viết ba chữ. Hỏi nhỏ như anh ta sợ liên lụy, không đáp mà còn che kín bài viết, tôi đành viết đại là dounbuissiel thật là ẩu vì không có nghĩa gì cả.

Ở nhà đã biết bài chính tả tiếng Pháp là quan trọng quyết định, nên bị hột gà thì cả 5 còn lại: toán tiếng Pháp, văn tiếng Pháp, văn tiếng Việt, tập viết, tập vẽ đều bị loại, không chấm nữa. Mà rớt thi viết, không được vào thi vấn đáp tức rớt luôn. Bài chính tả chỉ được phạm hai lỗi, còn lại là đề phòng cho dấu phẩy, chấm phẩy, xuống hàng, gạch nối v.v… Các dấu thầy không đọc, tự mình phải xử lý. Sau ngày thi viết, tôi rất buồn vì đã phạm ba lỗi một lúc, vậy các bài khác có giỏi cũng bằng thừa. Hai ngày chờ đợi kết quả thi viết, tôi thẫn thờ ăn ngủ không ngon, đi chơi cũng chẳng thích thú gì. May mắn làm sao lúc xướng danh số 270 thí sinh đủ điểm vào thi miệng có tên tôi. Tôi không tin vào tai mình nữa, lúc đó chỉ sơ tuyển số đủ điểm vào thi miệng nên chỉ công bố tên theo thứ tự A, B, C chứ không theo điểm cao thấp. Tên tôi vần C nên dò cũng nhanh. Đây rồi, có tên Phạm Hoài Chương, không có tên Chương nào nữa. Tôi mừng không thể tả, có qua được bước này mới hy vọng ở bước sau, tôi như mở cờ trong bụng. Ngày thi miệng khá trót lọt. Bài thi dịch tiếng Việt sang tiếng Pháp là bài Làng tôi. Tôi mới dịch được độ một phần ba bài, thầy cho tôi. Liếc theo quản bút, tôi thấy con số 9. Đến bài sử ký Pháp thì rắc rối, bài Napoléon, tôi chỉ nhớ Napoléon sinh ở đảo Coóc mà không nhớ làng nào nên bỏ qua điểm này. Thầy chặn lại hỏi Napoléon sinh ở làng nào? Tôi bí. Thầy cười. Phần sau nói khá đầy đủ. Lúc thầy cho thôi, tôi nhìn thấy con số 7. Tiếc ơi là tiếc, chỉ quên cái tên làng sinh của Napoléon mà không được điểm cao, nhưng tại sao phải biết Napoléon sinh ở làng nào mới được nhỉ? Cha tôi ngoài hành lang theo dõi các bài thi vấn đáp của tôi với vẻ hài lòng. Cuối này, ông vui vẻ nói: chắc con đậu.

Những buổi học cuối năm thật thong thả, thoải mái. Chúng tôi lưu luyến từ giã những người thầy đã hết lòng dạy dỗ mình trong những bước đi đầu tiên để vào đời. Từ biết trường Phan Lý thân yêu sau bốn năm miệt mài học tập, tôi và nhiều bạn cùng lớp biết rằng từ đây phải rời ghế nhà trường vì nhà nghèo không thể thi vào ban thành chung được. Thời ấy chỉ ở Sài Gòn, Hà Nội mới có nhiều trường công, tư ở bậc thành chung. Ở Huế cũng chỉ có trường Đồng Khánh cho nữ và trường Khải Định cho nam mà thôi. Cho nên phải học giỏi nhưng cũng phải là con nhà khá giả mới có thể học lên bậc cao hơn được.

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.

macbupda

Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL

Đường chiến đấu - Thiếu tướng Phạm Hoài Chương« Trả lời #3 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2019, 06:48:14 am »
2. Lao động.

Khi lớn hơn một chút, tôi được bà nội và mẹ cho biết ông nội tôi là người Hà Tĩnh, khi triều đình Huế bỏ các khoa thi chữ Hán thì ông học chữ quốc ngữ và các nghề thuốc bắc, thợ may. Có lẽ vì sinh kế, ông đi lần vào phía nam, đến ở xóm Tằm, làng Xuân Hội và gặp bà tôi. Ông làm thầy giáo ở trường làng ở Liêm Công, sau nghỉ dạy, ông làm thợ may và làm ruộng. Bà tôi nuôi tằm kéo kén thành tơ và làm nội trợ. Khi già, ông tôi thường bị bệnh, cuộc sống khó khăn hơn. Cha tôi vừa học chữ Hán vừa học chữ quốc ngữ, làm thầy giáo trường làng ở Thái An; khi tôi đến tuổi đi học thì cha tôi đã hết dạy từ lâu.

Mẹ tôi làm gạo hàng xáo, tráng bánh tráng, đi nhổ cỏ thuê, mót lúa ngày mùa. Khi tôi đi học thì nhà đã nghèo, nếu không ai đau bệnh thì cũng đủ sống. Hết học, tôi thường theo cha đi rập cu cườm và đánh cá.

Ở nông thôn, có mảnh bằng tiểu học cũng được coi trọng nhưng để bước vao đời thì cũng không dễ dàng. Chỉ một số ít con nhà khá giả, có thân thế thì mới chạy được làm giáo viên trường làng, không dễ như thời ông và cha tôi đâu. Tôi có người chú họ tên là Nguyễn Như Hương có anh bà con làm xếp ga ở Thủ Đức nên được làm nhân viên nhà ga. Cách mạng tháng Tám, chú vào thanh niên tiền phong, chiến đấu, hy sinh ở mặt trận Cầu Bông – Thị Nghè. Một người anh em bà con khác được học y tá ở nhà thương Phan Thiết. Tôi biết hoàn cảnh mình không được như vậy, thôi thì cứ lao động chân tay theo kiểu c

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007) | Câu chuyện thời hoa lửa