MỞ ĐẦU Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng nằm trên bán đảo Đông Dương. Campuchia có diện tích 181.035 kilômét vuông; phía Tây và Tây Bắc giáp Vương quốc Thái Lan, phía Bắc giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, phía Nam tiếp giáp vịnh Thái Lan với bờ biển dài hơn 400 kilômét, phía Đông giáp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với đường biên giới chung dài khoảng gần 1.000 kilômét.
Campuchia là quốc gia có điều kiện khí hậu, đất đai rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nhất là các loại cây lương thực, cây ăn quả và cây công nghiệp; đồng thời có nhiều lâm sản quý, mỏ kim loại và các loại đá quý; nguồn nước ngọt và cá Biến Hồ khá dồi dào, góp phần phát triển nền kinh tế của đất nước.
Campuchia là một quốc gia đa dân tộc với khoảng 13,5 triệu người (2005); bao gồm người Khơme, người Hoa, người Việt... Campuchia có hai tôn giáo lớn; Bà la môn và đạo Phật, với công trình kiến trúc Ăngco Thom và Ăngco Vát có nhiều chùa tháp, đền đài. Dân tộc Campuchia có nhiều tài năng sáng tạo không chỉ trong lao động sản xuất mà cả trong nghệ thuật kiến trúc.
Nhân dân Campuchia có nhiều nét tương đồng với nhân dân Việt Nam, đều cần cù lao động, yêu hoà bình và tự do, quá trình xây dựng đất nước đã xây đắp nên một nền văn hoá, nghệ thuật đẩy sức sống. Từ lâu giữa hai nước Việt Nam và Campuchia đã có quan hệ kinh tế, nhưng do đường giao thông đi lại khó khăn và là hai nước nông nghiệp lạc hậu, kinh tế còn nặng về tự cung tự cấp, nên giao lưu hàng hoá còn hạn chế. Từ giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp đặt ách thống trị lên ba nước Đông Dương, bắt đầu khai thác thuộc địa để vơ vét tài nguyên, một số đường giao thông qua biên giới hai nước Việt Nam - Campuchia bắt đầu được xây dựng để vận chuyển, khai thác tài nguyên ở các nước trên bán đảo Đông Dương. Mặc dù có điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế và có nhiều lâm, thổ sản quý, các khoáng sản cần thiết cho công nghiệp, nhưng dưới chế độ thực dân, phong kiến, nền kinh tế của hai nước Việt Nam - Campuchia còn nghèo nàn, lạc hậu; đời sống nhân dân vô cùng cực khổ.
Cùng chung một kẻ thù, cùng nguyện vọng đấu tranh giải phóng đất nước, nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia dễ đồng cảm và liên kết với nhau một cách tự nhiên để chống thực dân Pháp xâm lược. Trong những năm 1863-1888, các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân vùng đồng bằng sông Cửu Long (Việt Nam) đã có sự liên kết nhất định với nhân dân ở phía Đông Campuchia. Nhiều đội nghĩa quân của hai nước hoạt động dọc biên giới Việt Nam - Campuchia như Trương Quyền... (Việt Nam), A Cha Xoa, Pô Kum Bô... (Campuchia) được nhân dân hai nước giúp đỡ đã gây cho thực dân Pháp một số thiệt hại. Tuy nhiên, những cuộc khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Campuchia cuối thế kỷ XIX và các phong trào yêu nước của nhân dân hai nước đầu thế kỷ XX còn mang tính cục bộ, chưa kết thành phong trào rộng lớn, đặc biệt là thiếu một đường lối chính trị đúng đắn, phù hợp với thời đại, nên chưa phát động được mọi tầng lớp nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Trong lúc cách mạng Việt Nam, Campuchia và Lào đang lúng túng, bế tắc về đường lối, thì tháng 10 năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã mở ra một thời kỳ mới trong phong trào cách mạng thế giới, thúc đẩy phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phát triển mạnh mẽ. Là người Việt Nam đầu tiên đến với Cách mạng Tháng Mười Nga, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền bá vào Đông Dương.
Từ ngày 3 đến 7 tháng 2 năm 1930, được sự ủy nhiệm của quốc tế cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam (gồm Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ, An Nam Cộng sản Đảng ở Nam Kỳ, Đông Dương Cộng sản liên đoàn ở Trung Kỳ) thành một Đảng Cộng sản duy nhất mang tên là Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 10 năm 1930 đổi tên là Đảng Cộng sản Đông Dương). Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia ngày nay), đáp ứng nhiệm vụ lãnh đạo nhân dân các nước Việt Nam, Campuchia, Lào đấu tranh giành độc lập dân tộc. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất (10-1930) phân tích: Ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào đều là thuộc địa của thực dân Pháp, ba dân tộc tuy khác nhau nhưng cùng chung một ách thống trị của thực dân, có quan hệ mật thiết với nhau về chính trị, kinh tế, địa lý; do đó, cần phải liên kết chặt chẽ với nhau, đoàn kết và thống nhất hoạt động chống thực dân Pháp xâm lược.
Ngay sau khi thành lập, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương giao cho tổ chức Cộng sản các xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ trách nhiệm giúp đỡ xây dựng cơ sở cách mạng, xây dựng chi bộ Đảng ở Campuchia và Lào. Đối với Campuchia, từ năm 1930 và những năm tiếp theo, Việt Nam đã giúp những người cách mạng Campuchia xây dựng các cơ sở quần chúng cách mạng, các chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên lần lượt được xây dựng ở Phnôm Pênh, Côngpông Chàm, Kanđan, Báttambang... Từ đây, bắt đầu hình thành liên minh chiến đấu giữa cách mạng ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào trên tinh thần quốc tế vô sản.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, cao trào cách mạng 1930-1931 ở Việt Nam, đỉnh cao là Xô-viết – Nghệ Tĩnh, đã gây tiếng vang lớn đối với Campuchia và Lào, khích lệ tinh thần đấu tranh chống ách thống trị của thực dân Pháp. Rút kinh nghiệm từ Xô-viết - Nghệ Tĩnh, những năm 1930-1933 và 1936-1939, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương hướng trọng tâm hoạt động sang xây dựng cơ sở quần chúng, nhất là cơ sở trong Việt kiều, phát triển chi bộ Đảng cả ở Campuchia và Lào. Nhờ vậy, đường dây liên lạc giữa Việt Nam, Campuchia và Lào duy trì thường xuyên, thông suốt. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp cách mạng Campuchia« Trả lời #3 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2021, 06:51:25 am » | Từ cuối năm 1944, đầu năm 1945, cục diện Chiến tranh thế giới lần thứ hai chuyển biến rất mau lẹ với thắng lợi dồn dập của Liên Xô và phe Đồng minh. Trước tình hình quân Đồng minh sớm muộn sẽ vào, phát xít Nhật tiến hành đảo chính, hất cẳng Pháp, độc chiếm Đông Dương. Ở Campuchia, sau cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật hất cẳng Pháp, đưa Sơn Ngọc Thành lên làm Bộ trưởng ngoại giao rồi làm Thủ tướng chính phủ thân Nhật. Vua Xihanúc chỉ biết xin Nhật hoàng sớm ban bố sắc dụ thừa nhận nền độc lập cho Campuchia như họ đã hứa sau ngày đảo chính. Trong khi đó, cơ sở tổ chức Đảng ở Campuchia đã bị khủng bố từ năm 1938, cuộc vận động yêu nước của Acha Hemchiêu cũng bị dẹp tan; vì vậy, khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh nhưng ở Campuchia không có một cuộc nổi dậy giành chính quyền như ở Việt Nam và Lào. Chính quyền Campuchia vẫn nằm trong tay vua Xihanúc và Thủ tướng Sơn Ngọc Thành.
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp dựa vào quân Anh nổ súng tiến công Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một lần nữa. Tiếp đó, tháng 10 năm 1945, thực dân Pháp đưa quân từ Sài Gòn lên chiếm đóng vùng Đông Bắc Campuchia, hòng tạo bàn đạp đánh chiếm vùng Hạ Lào và phối hợp với cánh quân trên đường số 14 đánh chiếm Tây Nguyên.
Trước tình hình thực dân Pháp mở rộng chiến tranh xâm lược ra các nước Đông Dương, ngày 25 tháng 11 năm 1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, trong đó chủ trương thống nhất Mặt trận Việt - Miên - Lào, thành lập Bộ tư lệnh Lào - Miên (10-1946). Thực hiện chủ trương đó, Việt Nam đã giúp Campuchia phát động cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp. Đầu năm 1946, một số nhân sĩ Campuchia tạm lánh sang Thái Lan, được sự giúp đỡ của lực lượng kháng chiến Việt kiều đã thành lập “Ủy ban dân tộc giải phóng Khơme”. Tuy nhiên, do thành phần trong ủy ban có những phần tử phức tạp, gây chia rẽ, đến năm 1949, ủy ban này tan rã. Một bộ phận tiên tiến trong “Ủy ban dân tộc giải phóng Khơme” đã kịp thời tách ra khỏi ủy ban này và tổ chức các cơ sở cách mạng trong nhân dân, xây dựng các khu căn cứ ở vùng Pailin, Báttambang. Một bộ phận khác tổ chức các nhóm vũ trang hoạt động trong các phum, sóc ở tỉnh Báttambang, miền Đông và miền Nam Campuchia. Từ năm 1947 trở đi, những người yêu nước Campuchia liên hệ mật thiết với lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ (Việt Nam), thành lập các khu kháng chiến ở các vùng Đông Nam (1947), Đông Bắc, Tây Nam (1948). Từ những căn cứ kháng chiến này, sự đoàn kết chống thực dân Pháp giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia ngày càng được tăng cường và phát triển.
Thực hiện chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương về tăng cường phối hợp, đẩy mạnh kháng chiến, các khu 7, 8, 9 và Liên khu 5 điều động các đội vũ trang tuyên truyền và cán bộ lần lượt sang hoạt động, gây cơ sở ở nhiều vùng căn cứ của Campuchia. Tháng 9 năm 1948, Khu 8 phái một đơn vị thuộc Trung đoàn 115 sang vùng Đông Nam Campuchia tổ chức đường liên lạc nối liền vùng giải phóng các tỉnh Prâyveng, Kandan với vùng giải phóng hai tỉnh Tàkeo và Svâyriêng ở vùng Đông Bắc. Tháng 10 năm 1948, Khu 7 cử một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 305 sáp nhập với đơn vị Ítxarắc (tỉnh Svâyriêng) và một đại đội thuộc Trung đoàn 311 thành một đơn vị hỗn hợp Khơme - Việt Nam, mang tên Bộ đội Sivôtha, với khoảng 600 cán bộ, chiến sĩ. Bộ đội Sivôtha đã đánh một số trận ở Ba Thu, Ba Vệt, Sóc Dầm; kiểm soát đường số 1 từ Sài Gòn đi Phnôm Pênh. Cuối năm 1948, đội vũ trang tuyên truyền đầu tiên của Liên khu 5 sang giúp Bạn ở Đông Bắc tỉnh Krachiê. Ở vùng Tây Nam Campuchia, Khu 9 cũng lần lượt cử một số đơn vị sang phối hợp với Bạn xây dựng thành những đơn vị hỗn hợp Miên - Việt như hai đơn vị 302, 305 hoạt động ở tỉnh Campốt, đơn vị 632 ở tỉnh Tàkeo. Năm 1949, Khu 9 điều Trung đoàn 131 sang khu căn cứ vùng Tây Nam, giúp cách mạng Campuchia.
Để đẩy mạnh việc giúp đỡ cách mạng Campuchia, tháng 3 năm 1950, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập Ban cán sự toàn Miên (Campuchia). Tiếp đó, Liên khu 5 đưa đội vũ trang tuyên truyền thứ hai sang giúp Bạn ở đông bắc tỉnh Stung Treng. Sau một thời gian, đội được Đặc ủy Việt kiểu tổ chức và chỉ đạo hoạt động ở Đông Bắc Côngpông Thom. Cuối năm 1950, Liên khu 5 đưa đội vũ trang tuyên truyền thứ ba sang tăng cường hoạt động ở vùng Đông Bắc Stung Treng. Nhờ vậy, phong trào kháng chiến của Campuchia từng bước phát triển, cơ sở mở rộng xuống các vùng đồng bằng đông dân, đường số 13, số 19. Sau đó, ta còn đưa một số đội vũ trang tuyên truyền sang hoạt động giúp Bạn kháng chiến.
Tháng 2 năm 1951, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ II ra nghị quyết về các vấn đề quan trọng của cách mạng ba nước Đông Dương, trong đó nêu rõ: “Nhiệm vụ của cách mạng ba dân tộc nói chung vẫn là chống đế quốc nhưng cũng có nhiều điểm cụ thể khác nhau”(1). Đại hội xác định sẽ thành lập ở mỗi nước một chính đảng cách mạng riêng, phù hợp với hoàn cảnh từng nước để lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành thắng lợi.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ II của Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở các nước Việt Nam, Campuchia và Lào được đẩy mạnh. Tháng 3 năm 1951, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Khơme yêu nước (Ítxarắc), Mặt trận Lào tự do họp, quyết định thành lập “Khối liên minh nhân dân Việt - Miên - Lào” dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và tương trợ, giúp đỡ nhau kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.
Để đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới, ngày 19 tháng 6 năm 1951, các lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia được thống nhất với tên gọi Quân đội giải phóng Ítxarắc. Tiếp đó, ngày 28 tháng 6 năm 1951, Việt Nam giúp Bạn thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia (lúc đầu mang tên là Đảng Nhân dân Khơme)(2).
(1) Trường Chinh, Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb Sự thật. H, 1975, tr.156. (2) Đại hội lần thứ IV Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, diễn ra lừ ngày 26 đen ngày 29 tháng 5 năm 1981, đã quyết định lấy ngày 28 tháng 6 là ngày thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp cách mạng Campuchia« Trả lời #4 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2021, 06:53:47 am » | Theo yêu cầu của Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, từ năm 1951, Việt Nam giúp Campuchia tổ chức Mặt trận Ítxarắc, từng bước xây dựng, mở rộng cơ sở ở nhiều nơi, xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập Chính phủ kháng chiến lâm thời. Trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Pháp (1951-1954), Việt Nam đưa quân tình nguyện sang giúp Bạn kháng chiến. Quân đội giải phóng Ítxarắc đã kề vai sát cánh cùng với Quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.
Đầu năm 1954, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Campuchia và Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta chủ trương đẩy mạnh tác chiến ở vùng Đông Bắc Campuchia để phối hợp với các chiến trường, nhất là chiến trường Tây Bắc Việt Nam và chiến trường Thượng Lào. Những ngày đầu tháng 4 năm 1954, Trung đoàn 101 (Đại đoàn bộ binh 325) cùng với đại đội 200 Quân tình nguyện Việt Nam ở Hạ Lào tiến xuống phối hợp với các lực lượng vũ trang ở vùng Đông Bắc Campuchia, mở cuộc tiến công, loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên, giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn và một số thị xã (gồm 1/2 diện tích và 1/6 số dân cả nước Campuchia), góp phần đánh bại chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.
Thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Campuchia góp phần vào thắng lợi chung của nhân dân các nước Đông Dương. Đặc biệt, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam đã đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương, thừa nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào. Quân viễn chinh Pháp phải rút toàn bộ ra khỏi Đông Dương, chấm dứt chế độ thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ.
Sau Hiệp định Giơnevơ, hòa bình được lập lại trên đất nước Campuchia. Chính phủ Vương quốc Campuchia do Nôrôđôm Xihanúc làm Thủ tướng (từ năm 1960 là Quốc trưởng) tuyên bố đi theo con đường hòa bình, độc lập, trung lập. Sự lựa chọn này tạo thuận lợi cho việc duy trì và bảo vệ nền hòa bình trên bán đảo Đông Dương. Song, việc Campuchia đi theo con đường hòa bình, độc lập, trung lập đã khiến đế quốc Mỹ phải thực hiện âm mưu khác với Việt Nam và Lào: từ dùng sức ép chính trị, thông qua viện trợ kinh tế, quân sự đến dùng bạo lực lật đổ, can thiệp quân sự.
Ngày 18 tháng 3 năm 1970, đế quốc Mỹ đã hậu thuẫn Lon Non - Xirích Matắc, thành viên trong Chính phủ Vương quốc Campuchia, tiến hành đảo chính lật đổ Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc, thành lập chính phủ mới do Cheng Heng làm Quốc trưởng, Lon Non làm Thủ tướng. Ngày hôm sau, Chính phủ Mỹ tuyên bố công nhận Chính phủ Lon Non.
Cuộc đảo chính đã làm tăng mâu thuẫn cao độ giữa toàn thể nhân dân Campuchia với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai phản động. Chỉ 5 ngày sau khi nổ ra đảo chính, Chính phủ đoàn kết dân tộc Campuchia, Mặt trận thống nhất dân tộc và Quân đội giải phóng dân tộc Campuchia được thành lập. Ngày 29 tháng 3 năm 1970, tiếng súng chống Mỹ và tay sai bùng nổ ở tỉnh Tàkeo, mở đầu cuộc đấu tranh mới của nhân dân Campuchia.
Trước tình hình đế quốc Mỹ lật đổ Chính phủ Xihanúc, ngày 4 tháng 4 năm 1970, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi điện số 99 cho Trung ương Cục miền Nam, yêu cầu lãnh đạo, chỉ huy. các chiến trường: “Nghiên cứu tổ chức, bố trí lại lực lượng cho thích hợp với tình hình mới, bảo đảm đẩy mạnh tiến công ở miền Nam, giúp cách mạng Campuchia có hiệu lực, vừa mạnh, vừa vững chắc, chủ động và lâu dài”(1).
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, sự chỉ đạo, chỉ huy của Trung ương Cục, Quân ủy Miền và theo yêu cầu của Bạn, một số đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia tiến công địch, giải phóng nhiều vùng nông thôn thuộc các tỉnh Krachiê, Tàkeo, Campốt.
Ngày 30 tháng 4 năm 1970, đế quốc Mỹ huy động 10 vạn quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn tiến công xâm lược Campuchia, đưa Campuchia vào quỹ đạo của Mỹ; đồng thời bao vây, uy hiếp cách mạng miền Nam Việt Nam. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị ta quyết định cử một bộ phận Quân tình nguyện Việt Nam sang phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia chiến đấu chống Mỹ. Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị và theo yêu cầu của Bạn, Cuối tháng 4 năm 1970, 4 sư đoàn bộ binh (1, 5, 7, 9), 2 trung đoàn bộ binh (24, 25), Trung đoàn pháo binh 211, tiểu đoàn đặc công Quân giải phóng miền Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở chiến dịch phản công ở vùng biên giới Việt Nam - Campuchia và các tỉnh Đông Bắc Campuchia nhằm đánh bại âm mưu và hành động của đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn bán đảo Đông Dương. Sau hơn hai tháng chiến đấu (29-4 đến 30-6-1970), bộ đội ta và Bạn đã loại khỏi vòng chiến đấu gồm 2 vạn tên, trong đó có hàng ngàn tên Mỹ(2); giải phóng 5 tỉnh vùng Đông Bắc Campuchia với hơn 4 triệu dân. Thắng lợi của chiến dịch phản công Đông Bắc Campuchia làm thất bại chiến lược “chiến tranh chớp nhoáng” của Học thuyết Níchxơn, buộc phần lớn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn phải rút khỏi Campuchia, tạo điều kiện xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh kháng chiến ở Campuchia. |
|
|