Lịch sử và kết quả một cuộc đua
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đưa nhân dân Việt Nam thoát khỏi kiếp nô lệ, để từ đây bắt đầu làm chủ đất nước mình.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng khởi nghĩa tháng Tám diễn ra nhanh gọn, ít đổ máu. Sau này, có người lầm tưởng rằng nhân dân Việt Nam đã giành chính quyền được một cách quá dễ dàng, vì phát xít Nhật, kẻ thù chính lúc đó của cách mạng đã đầu hàng đồng minh. Thực ra, trung tuần tháng 8-1945, hơn 30 vạn quân Nhật và quân Bảo an tuy đã đầu hàng đồng minh và hoang mang cực độ nhưng ở nhiều nơi trên đất nước ta khi quần chúng và lực lượng vũ trang cách mạng nổi dậy giành chính quyền chúng vẫn chống lại. Bên cạnh đó, Chính phủ thân Nhật ở Việt Nam vẫn ráo riết hoạt động chuẩn bị đón chờ một chủ mới.
Quân đội Phát xít Nhật đổ bộ đến cảng sài Gòn, ngày 31-7-1941(Ảnh tư liệu BTSLQG).Thực dân Pháp với những lực lượng nằm sẵn ở Ấn Độ và phía nam Trung Quốc đang tìm cách trở lại Đông Dương.Các quân đội đồng minh Anh-Mỹ-Tưởng dưới danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật đã chuẩn bị sẵn sàng hàng chục vạn quân để đưa vào Đông Dương với ý đồ đặt bán đảo này lệ thuộc vào họ hoặc giúp Pháp khôi phục lại ách cai trị như trước năm 1940.Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra trong bối cảnh đó. Vì vậy, một vấn đề đặt ra buộc nhân dân Việt Nam phải giải quyết, đó là “Ai nhanh hơn ai” trong khoảnh khắc quyết định của lịch sử này.Năm 1943, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đã kéo dài hơn 4 năm, tại Cairô (Ai cập), trong Hội nghị cấp cao tam cường Mỹ-Anh-Trung Quốc (Tưởng), Tổng thống Mỹ F.Roosevelt đã để lộ ý định chống việc Pháp chiếm lại Đông Dương và bí mật thoả thuận với Tưởng Giới Thạch làm sao đặt Việt Nam nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc thân Mỹ. Sau Hội nghị Cairô, được Mỹ bật đèn xanh, Chính phủ Trung ương của Tưởng Giới Thạch (Chính phủ Trùng Khánh) lập tức trao nhiệm vụ cho tướng Trương Phát Khuê, Tư lệnh Đệ tứ quân khu (bao gồm một phần tỉnh Quảng Đông và toàn bộ tỉnh Quảng Tây) chuẩn bị kế hoạch “Hoa quân nhập Việt”. Cùng lúc, chính quyền Trùng Khánh khuyến khích và giúp đỡ các lực lượng, các tổ chức chính trị thân Tưởng ở Việt Nam tạo ra một tình trạng lộn xộn, hoang mang bằng tuyên truyền và tiếp tế vũ khí cho các cuộc nổi dậy từ bên trong. Theo Kinh C. Chen: tháng 12-1943, tướng Trương nhận được chỉ thị của Trùng Khánh yêu cầu ông ta vạch một kế hoặch để "tiến vào Việt Nam". Việc này tướng Trương lập tức làm ngay. Theo kế hoặch đó sẽ có ba đạo quân tiến vào Bắc Việt Nam và cả ba đạo quân này đều hội nhau ở Hà Nội (Việt Nam và Trung Quốc (1938-1954), NXB Princeton, 1969. Bản dịch của Vũ Huy Phúc, tài liệu Viện sử học).Tóm lại, theo kế hoạch “Hoa quân nhập Việt”, Trùng Khánh sẽ trực tiếp giúp Việt Nam giành “Độc lập” rồi tiếp đó lập một chính phủ Việt Nam dưới sự bảo trợ của Trung Quốc thân Mỹ.Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương. Năm ngày sau, ngày 14-3, tướng Trương Phát Khuê nhận được lệnh của Trùng Khánh chuẩn bị các lực lượng theo kế hoạch để sẵn sàng tiến vào Việt Nam. Cuối tháng 3-1945, tướng Hô Ying chin Chỉ huy trưởng quân đội Trung Quốc (Quốc Dân Đảng) từ Trùng Khánh đi Côn Minh để tổ chức hai đạo quân mới vào Việt Nam, một từ Vân Nam, một từ Quảng Tây.
Quân đội Tưởng Giới Thạch đến Hải Phòng, năm 1945
(Ảnh tư liệu BTSLQG).Cuối tháng 7 đầu tháng 8-1945 Mỹ, Anh, Liên Xô họp tại Potxdam (gần Berlin, Đức) tìm cách giải quyết số phận nước Đức, chuẩn bị đưa cuộc chiến tranh chống Nhật đi đến kết thúc. Tại Hội nghị, những người đứng đầu tam cường đã chấp nhận một sự phân định mới về các chiến trường Đông Nam Á: Trùng Khánh được giải giáp quân Nhật ở Bắc Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở ra, còn phía Nam Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở vào, Đạo quân khu vực Đông Nam Á của Anh do Đô Đốc L.Mounbatten chịu trách nhiệm tiếp quản. Ngày 9-8-1945, trong một bản tuyên bố, Chính phủ Trùng Khánh thông báo quân đội Trung Quốc chịu trách nhiệm tiếp nhận đầu hàng của Quân đội Nhật tại Bắc Đông Dương.Còn về chính quyền thực dân Pháp dù đã phải khuất phục và chịu lép một bề với quân Nhật ở Đông Dương những vẫn chú trọng chuẩn bị lực lượng chờ thời cơ quay lại tái chiếm nước ta. Ngày 8-12-1943 mặc dù đang phải kháng chiến để giải phóng đất nước khỏi ách chiếm đóng của phát xít Đức, Uỷ ban Giải phóng dân tộc Pháp mà Tổng hành dinh đóng tại Alger vẫn ra tuyên bố khẳng định Pháp sẽ trở lại Đông Dương, khôi phục chủ quyền và đất đai của Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Ngày 3-9-1944, Tướng Mordant Tư lệnh tối cao quân đội Pháp ở Đông Dương được cử làm Tổng đại diện của Uỷ ban hành động vì Đông Dương dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Chính phủ Lâm thời Cộng hoà Pháp. Ngày 13-9-1944, Paris quyết định tổ chức hai sư đoàn cho đạo quân viễn chinh Pháp tại Viễn đông. Trong tháng 10 và tháng 11-1944, Phái đoàn quân sự Pháp tại Trung Quốc được tổ chức lại nhằm liên kết hệ thống tình báo dọc biên giới Trung Quốc-Đông Dương, có một căn cứ đóng tại Côn Minh và một đài phát thanh cũng được đặt tại Côn Minh. Ngày 24-3-1945, Chính phủ Lâm thời Cộng hoà Pháp ra Tuyên bố về vấn đề Đông Dương với tư tưởng cơ bản là: Liên bang Đông Dương nằm trong Liên hiệp Pháp, lợi ích bên ngoài do Pháp đại diện. Một Quân đoàn cho Đông Dương đang được Pháp thành lập và đặt dưới sự chỉ huy của quân Mỹ ở Thái Bình Dương, tháng 5-1945 Tướng Leclerc được chỉ định chỉ huy quân đoàn đó.Sau ngày bị Nhật đảo chính, khoảng hơn 5.000 quân Pháp ở Đông Dương chạy sang Vân Nam tị nạn. Số tàn quân này bị chính quyền địa phương của Tưởng tước vũ khí và không cho quay lại Đông Dương. Tuy vậy, tại Côn Minh thủ phủ tỉnh Vân Nam, Pháp vẫn bí mật lập một tổ chức tình báo chiến lược mang tên “Phái đoàn 5” do Sainteny chỉ huy. Nhiệm vụ bao trùm của tổ chức này là thực hiện các hoạt động tình báo “Chuẩn bị cho quân đội Pháp quay trở lại Đông Dương nhằm khôi phục chủ quyền của Pháp ở đó” (J.Sainteny: Lịch sử một nền hoà bình dang dở, Paris 1967). Tháng 4-1945, Franklin Roosevelt chết, chính phủ Mỹ dưới thời Truman không đếm xỉa gì đến nguyện vọng được sống độc lập của dân tộc Việt Nam, trái lại, chính quyền Truman ủng hộ việc thiết lập lại sự thống trị của người Pháp ở Đông Dương.Bên cạnh Tưởng và Pháp còn có Anh và Mỹ. Ý đồ chính trị của mỗi nước có khác nhau nhưng đều chung một mục đích: cản trở nhân dân Việt Nam giành độc lập từ tay quân Nhật để thành lập một chính quyền của mình. Mà, họ muốn giành độc lập hộ nhân dân ta rồi sẽ “trao tặng” ta nền “độc lập” đó thông qua một chính phủ Việt Nam do họ lập ra.Suốt trong những năm 1940-1945, các thế lực chính trị quốc tế này tìm nhiều phương kế, tính toán đủ đường để thực hiện các ý đồ của họ. Nhưng trong mọi tính toán của chúng, chúng quên không tính đến một điều cơ bản là nguyện vọng độc lập dân tộc và sức mạnh toàn dân của lực lượng cách mạng Việt Nam.Năm 1939, ngay từ khi chiến tranh thế giới mới bùng nổ, Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân bước vào thời kỳ chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Đường đi nước bước cho cuộc tổng khởi nghĩa đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chuẩn bị chi tiết, kỹ càng. Có đường lối đúng, có chủ trương kịp thời, có biện pháp thực hiện phù hợp, cả dân tộc đồng tâm nhất trí trên dưới một lòng, do đó phong trào cách mạng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Các chiến khu được thành lập, quân đội ra đời, tổ chức phát triển vững mạnh.Cuộc Tổng khởi nghĩa chỉ có thể thắng lợi nếu nó nổ ra trên cơ sở một cao trào cách mạng và đúng thời cơ. Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tích cực chuẩn bị tổng khởi nghĩa theo tinh thần đó.Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh thế giới, khi thấy các chính phủ thực dân trong phe đồng minh bộc lộ những ý đồ xấu đối với nguyện vọng độc lập của dân tộc Việt Nam, Ngày 12-3-1945 Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta nhắc nhở các cấp bộ Đảng phải chuẩn bị lực lượng thật chu đáo, sẵn sàng tạo và chớp lấy thời cơ giành chính quyền về tay nhân dân trước khi quân đồng minh kéo vào tước vũ khí quân đội Nhật ở Đông Dương.Ngày 13-8-1945, Nhật hoàng ngỏ ý chấp nhận các điều khoản đầu hàng do Đồng minh đưa ra. Ngày 14-8, Nhật tuyên bố đầu hàng.Phát pháo lệnh cuộc đua của lịch sử đã nổ.11 giờ đêm 13-8-1945 tại đại bản doanh ở Tân Trào, Ủy ban Giải phóng Dân tộc của lực lượng cách mạng Việt Nam ra Quân lệnh số 1 hạ lệnh Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc.Tại Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Tướng Alexsandri chỉ huy đám tàn quân Pháp, nhân danh Tổng chỉ huy các lực lượng Pháp tại Trung Quốc cũng thảo một “Sự vụ lệnh” gửi Sainteny, Trưởng Phái đoàn 5 yêu cầu tổ chức gấp một đội thám báo đổ bộ bí mật vào Hà Nội bằng máy bay để chuẩn bị những điều kiện đón phái đoàn cai trị Pháp trở về Hà Nội. Trong cuốn sách đã dẫn, J.Sainteny viết: Tôi quyết tâm nhảy dù ngay xuống Hà Nội nếu cần. Xét cho cùng, khu vườn trước Phủ Toàn quyền, với khu đất trống giữa Câu lạc bộ thể thao và Nha Giám đốc tài chính (trụ sở Bộ Ngoại giao hiện nay-tác giả) đều có thể dùng làm bãi nhảy dù được. Tuy có nhiều mặt không thuận tiện và nguy hiểm, nhưng các khu đất ấy lại có lợi thế, tức là nằm ở ngay trung tâm thành phố, đồng thời lại có lối đi thẳng vào trong thành là nơi có khoảng 4.000 đến 5.000 quân nhân Pháp đang bị Nhật Bản giam giữ.Ở Côn Minh lúc đó chỉ có Sở tình báo chiến lược Mỹ OSS mới có máy bay thả dù. Lúc này OSS cũng đang cần thả xuống Hà Nội một phái đoàn quân sự nhằm thăm dò tại chỗ để chuẩn bị cho việc vào Đông Dương. Trưa 22-8-1945, chiếc vận tải quân sự C.47 của OSS cất cánh từ Côn Minh đi Hà Nội. Trên máy bay có một thiếu tá Mỹ, Sainteny và bốn sĩ quan Pháp. 13giờ30, máy bay hạ cánh ở Gia Lâm. Hai phái đoàn Mỹ-Pháp mới rõ: Việt Minh đã làm chủ thành phố từ 19-8. Sainteny kể lại : Khoảng 13giờ 30 chúng tôi bay trên vùng trời Hà Nội, trong lòng xiết bao cảm động. Chúng tôi nhìn thấy rất nhiều bông hoa màu đỏ tưng bừng nở rộ trên thành phố như để hoan nghênh chào đón chúng tôi. Đến lúc máy bay hạ thấp độ cao, tôi mới phân biệt rõ, đó là những lá cờ đỏ sao vàng! chúng tôi ngao ngán nhìn nhau, và hiểu rằng cuộc đón tiếp sẽ không diễn ra đúng như chúng tôi thầm mong ước... Trên đường từ Gia Lâm về Hà Nội rực một màu cờ đỏ sao vàng... tuyệt đối không nhìn thấy một màu cờ nào, thậm chí một lá cờ nào của Pháp. (Sách đã dẫn).
Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Võ Nguyên Giáp với Phái bộ OSS (Mỹ),Bắc Bộ phủ, Hà Nội, tháng 9-1945 (Ảnh tư liệu BTSLQG).Ngày 16-8-1945, De Gaulle cử Đô đốc G.T.D’Argenlieu làm Cao ủy Đông Dương thực hiện mọi quyền lực của Toàn quyền Pháp trước kia và cử Tướng Leclerc làm Tổng chỉ huy đạo quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Ngày 18-8, Leclerc cùng một toán quân nhỏ lên đường sang viễn đông chờ phương tiện đi Sài Gòn. Ngày 5-9, D’Argenlieu rời Paris đến gần Calcutta chờ phương tiện đi Sài Gòn. Mãi đến 5-10-1945, Tướng Leclerc mới đến được Sài Gòn và 30-10-1945 Đô đốc D’Argenlieu mới tới.
Tàu La Ville de Strasbourg chở các đơn vị quân đội Pháp tới cảng Sài Gòn,ngày 19-11-1945 (Ảnh tư liệu BTSLQG).Cũng trong ngày 13-8-1945 Bộ Tổng tham mưu quân đội Anh gửi Chỉ lệnh cho Đô đốc Mounbatten yêu cầu nhanh chóng triển khai lực lượng tới Sài Gòn để thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận đầu hàng của quân đội Nhật ở Nam Đông Dương. Ngày 28-8-1945, Tướng D.D.Gracey Sư đoàn trưởng sư đoàn bộ binh 20 quân Anh-Ấn đang hoạt động trên chiến trường Miến Điện được bổ nhiệm làm Tổng chỉ huy lực lượng quân Anh làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật tại Nam Đông Dương. Ngày 5-9-1945, một phái bộ Anh có vài ba nhân viên của cơ quan Tổng chỉ đạo nghiên cứu và tìm tòi chịu trách nhiệm về Đông Dương của Pháp đi theo đến Sài Gòn. Ngày 13-9, Tướng Gracey tới Sài Gòn. Ngày 14-9, các đơn vị đầu tiên của Lữ đoàn bộ binh 80 thuộc Sư đoàn 20 được lệnh rời Miến Điện tới Sài Gòn. Ngày 20-9 quân Anh tái vũ trang cho số tàn quân Pháp ở Sài Gòn, ngày 23-9-1945 quân Anh hậu thuẫn và tham gia cùng quân Pháp nổ súng gây hấn ở Nam bộ. Cuối năm 1945, với sự giúp sức của trên 22.000 quân Anh, quân Pháp đã tái chiếm nhiều tỉnh, thành phố ở Nam bộ và Nam Trung bộ. Ngày 15-3-1946, Đô đốc Mounbatten chính thức trao lại toàn bộ Đông Dương cho Đô đốc D’Argenlieu-Cao uỷ Pháp ở Đông Dương.Còn về phía Tưởng, ngày 20-8-1945, Tưởng cho họp Hội nghị quân sự toàn quốc tại Chỉ Giang bàn việc tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật ở Trung Quốc và Việt Nam. Hội nghị chỉ định tướng Lư Hán, Tư lệnh phương diện quân thứ nhất làm Tư lệnh đội quân vào Việt Nam và sẽ làm Chủ tịch Chính phủ quân sự do Trung Quốc lập ra ở Việt Nam. Cuối tháng 8-1945 Trùng Khánh công bố đường lối chính trị 14 điểm của mình về Đông Dương. Ngày 27-8-1945, 20 vạn quân Tưởng trống rong cờ mở, gồng gánh kéo vào đất Việt. Ngày 9-9-1945 những đơn vị quân Tưởng đầu tiên đặt chân vào Hà Nội.Tưởng, Pháp, Anh đều vào Việt Nam sau khi Nhật đầu hàng. Nhưng khi chúng vào đến nơi thì Cách mạng tháng Tám đã thắng lợi trong cả nước, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã được thành lập, Chính phủ Lâm thời đã ra mắt quốc dân. Nước Việt Nam đã do nhân dân Việt Nam làm chủ.Với khát vọng độc lập tự do, với sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc được sự tổ chức và dẫn dắt tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã về đích trước trong cuộc đua diễn ra vào tháng Tám năm 1945 của lịch sử.
Quân đội Phát xít Nhật đổ bộ đến cảng sài Gòn, ngày 31-7-1941(Ảnh tư liệu BTSLQG).Thực dân Pháp với những lực lượng nằm sẵn ở Ấn Độ và phía nam Trung Quốc đang tìm cách trở lại Đông Dương.Các quân đội đồng minh Anh-Mỹ-Tưởng dưới danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật đã chuẩn bị sẵn sàng hàng chục vạn quân để đưa vào Đông Dương với ý đồ đặt bán đảo này lệ thuộc vào họ hoặc giúp Pháp khôi phục lại ách cai trị như trước năm 1940.Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra trong bối cảnh đó. Vì vậy, một vấn đề đặt ra buộc nhân dân Việt Nam phải giải quyết, đó là “Ai nhanh hơn ai” trong khoảnh khắc quyết định của lịch sử này.Năm 1943, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đã kéo dài hơn 4 năm, tại Cairô (Ai cập), trong Hội nghị cấp cao tam cường Mỹ-Anh-Trung Quốc (Tưởng), Tổng thống Mỹ F.Roosevelt đã để lộ ý định chống việc Pháp chiếm lại Đông Dương và bí mật thoả thuận với Tưởng Giới Thạch làm sao đặt Việt Nam nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc thân Mỹ. Sau Hội nghị Cairô, được Mỹ bật đèn xanh, Chính phủ Trung ương của Tưởng Giới Thạch (Chính phủ Trùng Khánh) lập tức trao nhiệm vụ cho tướng Trương Phát Khuê, Tư lệnh Đệ tứ quân khu (bao gồm một phần tỉnh Quảng Đông và toàn bộ tỉnh Quảng Tây) chuẩn bị kế hoạch “Hoa quân nhập Việt”. Cùng lúc, chính quyền Trùng Khánh khuyến khích và giúp đỡ các lực lượng, các tổ chức chính trị thân Tưởng ở Việt Nam tạo ra một tình trạng lộn xộn, hoang mang bằng tuyên truyền và tiếp tế vũ khí cho các cuộc nổi dậy từ bên trong. Theo Kinh C. Chen: tháng 12-1943, tướng Trương nhận được chỉ thị của Trùng Khánh yêu cầu ông ta vạch một kế hoặch để "tiến vào Việt Nam". Việc này tướng Trương lập tức làm ngay. Theo kế hoặch đó sẽ có ba đạo quân tiến vào Bắc Việt Nam và cả ba đạo quân này đều hội nhau ở Hà Nội (Việt Nam và Trung Quốc (1938-1954), NXB Princeton, 1969. Bản dịch của Vũ Huy Phúc, tài liệu Viện sử học).Tóm lại, theo kế hoạch “Hoa quân nhập Việt”, Trùng Khánh sẽ trực tiếp giúp Việt Nam giành “Độc lập” rồi tiếp đó lập một chính phủ Việt Nam dưới sự bảo trợ của Trung Quốc thân Mỹ.Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương. Năm ngày sau, ngày 14-3, tướng Trương Phát Khuê nhận được lệnh của Trùng Khánh chuẩn bị các lực lượng theo kế hoạch để sẵn sàng tiến vào Việt Nam. Cuối tháng 3-1945, tướng Hô Ying chin Chỉ huy trưởng quân đội Trung Quốc (Quốc Dân Đảng) từ Trùng Khánh đi Côn Minh để tổ chức hai đạo quân mới vào Việt Nam, một từ Vân Nam, một từ Quảng Tây.
Quân đội Tưởng Giới Thạch đến Hải Phòng, năm 1945(Ảnh tư liệu BTSLQG).Cuối tháng 7 đầu tháng 8-1945 Mỹ, Anh, Liên Xô họp tại Potxdam (gần Berlin, Đức) tìm cách giải quyết số phận nước Đức, chuẩn bị đưa cuộc chiến tranh chống Nhật đi đến kết thúc. Tại Hội nghị, những người đứng đầu tam cường đã chấp nhận một sự phân định mới về các chiến trường Đông Nam Á: Trùng Khánh được giải giáp quân Nhật ở Bắc Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở ra, còn phía Nam Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở vào, Đạo quân khu vực Đông Nam Á của Anh do Đô Đốc L.Mounbatten chịu trách nhiệm tiếp quản. Ngày 9-8-1945, trong một bản tuyên bố, Chính phủ Trùng Khánh thông báo quân đội Trung Quốc chịu trách nhiệm tiếp nhận đầu hàng của Quân đội Nhật tại Bắc Đông Dương.Còn về chính quyền thực dân Pháp dù đã phải khuất phục và chịu lép một bề với quân Nhật ở Đông Dương những vẫn chú trọng chuẩn bị lực lượng chờ thời cơ quay lại tái chiếm nước ta. Ngày 8-12-1943 mặc dù đang phải kháng chiến để giải phóng đất nước khỏi ách chiếm đóng của phát xít Đức, Uỷ ban Giải phóng dân tộc Pháp mà Tổng hành dinh đóng tại Alger vẫn ra tuyên bố khẳng định Pháp sẽ trở lại Đông Dương, khôi phục chủ quyền và đất đai của Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Ngày 3-9-1944, Tướng Mordant Tư lệnh tối cao quân đội Pháp ở Đông Dương được cử làm Tổng đại diện của Uỷ ban hành động vì Đông Dương dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Chính phủ Lâm thời Cộng hoà Pháp. Ngày 13-9-1944, Paris quyết định tổ chức hai sư đoàn cho đạo quân viễn chinh Pháp tại Viễn đông. Trong tháng 10 và tháng 11-1944, Phái đoàn quân sự Pháp tại Trung Quốc được tổ chức lại nhằm liên kết hệ thống tình báo dọc biên giới Trung Quốc-Đông Dương, có một căn cứ đóng tại Côn Minh và một đài phát thanh cũng được đặt tại Côn Minh. Ngày 24-3-1945, Chính phủ Lâm thời Cộng hoà Pháp ra Tuyên bố về vấn đề Đông Dương với tư tưởng cơ bản là: Liên bang Đông Dương nằm trong Liên hiệp Pháp, lợi ích bên ngoài do Pháp đại diện. Một Quân đoàn cho Đông Dương đang được Pháp thành lập và đặt dưới sự chỉ huy của quân Mỹ ở Thái Bình Dương, tháng 5-1945 Tướng Leclerc được chỉ định chỉ huy quân đoàn đó.Sau ngày bị Nhật đảo chính, khoảng hơn 5.000 quân Pháp ở Đông Dương chạy sang Vân Nam tị nạn. Số tàn quân này bị chính quyền địa phương của Tưởng tước vũ khí và không cho quay lại Đông Dương. Tuy vậy, tại Côn Minh thủ phủ tỉnh Vân Nam, Pháp vẫn bí mật lập một tổ chức tình báo chiến lược mang tên “Phái đoàn 5” do Sainteny chỉ huy. Nhiệm vụ bao trùm của tổ chức này là thực hiện các hoạt động tình báo “Chuẩn bị cho quân đội Pháp quay trở lại Đông Dương nhằm khôi phục chủ quyền của Pháp ở đó” (J.Sainteny: Lịch sử một nền hoà bình dang dở, Paris 1967). Tháng 4-1945, Franklin Roosevelt chết, chính phủ Mỹ dưới thời Truman không đếm xỉa gì đến nguyện vọng được sống độc lập của dân tộc Việt Nam, trái lại, chính quyền Truman ủng hộ việc thiết lập lại sự thống trị của người Pháp ở Đông Dương.Bên cạnh Tưởng và Pháp còn có Anh và Mỹ. Ý đồ chính trị của mỗi nước có khác nhau nhưng đều chung một mục đích: cản trở nhân dân Việt Nam giành độc lập từ tay quân Nhật để thành lập một chính quyền của mình. Mà, họ muốn giành độc lập hộ nhân dân ta rồi sẽ “trao tặng” ta nền “độc lập” đó thông qua một chính phủ Việt Nam do họ lập ra.Suốt trong những năm 1940-1945, các thế lực chính trị quốc tế này tìm nhiều phương kế, tính toán đủ đường để thực hiện các ý đồ của họ. Nhưng trong mọi tính toán của chúng, chúng quên không tính đến một điều cơ bản là nguyện vọng độc lập dân tộc và sức mạnh toàn dân của lực lượng cách mạng Việt Nam.Năm 1939, ngay từ khi chiến tranh thế giới mới bùng nổ, Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân bước vào thời kỳ chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Đường đi nước bước cho cuộc tổng khởi nghĩa đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chuẩn bị chi tiết, kỹ càng. Có đường lối đúng, có chủ trương kịp thời, có biện pháp thực hiện phù hợp, cả dân tộc đồng tâm nhất trí trên dưới một lòng, do đó phong trào cách mạng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Các chiến khu được thành lập, quân đội ra đời, tổ chức phát triển vững mạnh.Cuộc Tổng khởi nghĩa chỉ có thể thắng lợi nếu nó nổ ra trên cơ sở một cao trào cách mạng và đúng thời cơ. Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tích cực chuẩn bị tổng khởi nghĩa theo tinh thần đó.Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh thế giới, khi thấy các chính phủ thực dân trong phe đồng minh bộc lộ những ý đồ xấu đối với nguyện vọng độc lập của dân tộc Việt Nam, Ngày 12-3-1945 Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta nhắc nhở các cấp bộ Đảng phải chuẩn bị lực lượng thật chu đáo, sẵn sàng tạo và chớp lấy thời cơ giành chính quyền về tay nhân dân trước khi quân đồng minh kéo vào tước vũ khí quân đội Nhật ở Đông Dương.Ngày 13-8-1945, Nhật hoàng ngỏ ý chấp nhận các điều khoản đầu hàng do Đồng minh đưa ra. Ngày 14-8, Nhật tuyên bố đầu hàng.Phát pháo lệnh cuộc đua của lịch sử đã nổ.11 giờ đêm 13-8-1945 tại đại bản doanh ở Tân Trào, Ủy ban Giải phóng Dân tộc của lực lượng cách mạng Việt Nam ra Quân lệnh số 1 hạ lệnh Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc.Tại Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Tướng Alexsandri chỉ huy đám tàn quân Pháp, nhân danh Tổng chỉ huy các lực lượng Pháp tại Trung Quốc cũng thảo một “Sự vụ lệnh” gửi Sainteny, Trưởng Phái đoàn 5 yêu cầu tổ chức gấp một đội thám báo đổ bộ bí mật vào Hà Nội bằng máy bay để chuẩn bị những điều kiện đón phái đoàn cai trị Pháp trở về Hà Nội. Trong cuốn sách đã dẫn, J.Sainteny viết: Tôi quyết tâm nhảy dù ngay xuống Hà Nội nếu cần. Xét cho cùng, khu vườn trước Phủ Toàn quyền, với khu đất trống giữa Câu lạc bộ thể thao và Nha Giám đốc tài chính (trụ sở Bộ Ngoại giao hiện nay-tác giả) đều có thể dùng làm bãi nhảy dù được. Tuy có nhiều mặt không thuận tiện và nguy hiểm, nhưng các khu đất ấy lại có lợi thế, tức là nằm ở ngay trung tâm thành phố, đồng thời lại có lối đi thẳng vào trong thành là nơi có khoảng 4.000 đến 5.000 quân nhân Pháp đang bị Nhật Bản giam giữ.Ở Côn Minh lúc đó chỉ có Sở tình báo chiến lược Mỹ OSS mới có máy bay thả dù. Lúc này OSS cũng đang cần thả xuống Hà Nội một phái đoàn quân sự nhằm thăm dò tại chỗ để chuẩn bị cho việc vào Đông Dương. Trưa 22-8-1945, chiếc vận tải quân sự C.47 của OSS cất cánh từ Côn Minh đi Hà Nội. Trên máy bay có một thiếu tá Mỹ, Sainteny và bốn sĩ quan Pháp. 13giờ30, máy bay hạ cánh ở Gia Lâm. Hai phái đoàn Mỹ-Pháp mới rõ: Việt Minh đã làm chủ thành phố từ 19-8. Sainteny kể lại : Khoảng 13giờ 30 chúng tôi bay trên vùng trời Hà Nội, trong lòng xiết bao cảm động. Chúng tôi nhìn thấy rất nhiều bông hoa màu đỏ tưng bừng nở rộ trên thành phố như để hoan nghênh chào đón chúng tôi. Đến lúc máy bay hạ thấp độ cao, tôi mới phân biệt rõ, đó là những lá cờ đỏ sao vàng! chúng tôi ngao ngán nhìn nhau, và hiểu rằng cuộc đón tiếp sẽ không diễn ra đúng như chúng tôi thầm mong ước... Trên đường từ Gia Lâm về Hà Nội rực một màu cờ đỏ sao vàng... tuyệt đối không nhìn thấy một màu cờ nào, thậm chí một lá cờ nào của Pháp. (Sách đã dẫn).
Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Võ Nguyên Giáp với Phái bộ OSS (Mỹ),Bắc Bộ phủ, Hà Nội, tháng 9-1945 (Ảnh tư liệu BTSLQG).Ngày 16-8-1945, De Gaulle cử Đô đốc G.T.D’Argenlieu làm Cao ủy Đông Dương thực hiện mọi quyền lực của Toàn quyền Pháp trước kia và cử Tướng Leclerc làm Tổng chỉ huy đạo quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Ngày 18-8, Leclerc cùng một toán quân nhỏ lên đường sang viễn đông chờ phương tiện đi Sài Gòn. Ngày 5-9, D’Argenlieu rời Paris đến gần Calcutta chờ phương tiện đi Sài Gòn. Mãi đến 5-10-1945, Tướng Leclerc mới đến được Sài Gòn và 30-10-1945 Đô đốc D’Argenlieu mới tới.
Tàu La Ville de Strasbourg chở các đơn vị quân đội Pháp tới cảng Sài Gòn,ngày 19-11-1945 (Ảnh tư liệu BTSLQG).Cũng trong ngày 13-8-1945 Bộ Tổng tham mưu quân đội Anh gửi Chỉ lệnh cho Đô đốc Mounbatten yêu cầu nhanh chóng triển khai lực lượng tới Sài Gòn để thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận đầu hàng của quân đội Nhật ở Nam Đông Dương. Ngày 28-8-1945, Tướng D.D.Gracey Sư đoàn trưởng sư đoàn bộ binh 20 quân Anh-Ấn đang hoạt động trên chiến trường Miến Điện được bổ nhiệm làm Tổng chỉ huy lực lượng quân Anh làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật tại Nam Đông Dương. Ngày 5-9-1945, một phái bộ Anh có vài ba nhân viên của cơ quan Tổng chỉ đạo nghiên cứu và tìm tòi chịu trách nhiệm về Đông Dương của Pháp đi theo đến Sài Gòn. Ngày 13-9, Tướng Gracey tới Sài Gòn. Ngày 14-9, các đơn vị đầu tiên của Lữ đoàn bộ binh 80 thuộc Sư đoàn 20 được lệnh rời Miến Điện tới Sài Gòn. Ngày 20-9 quân Anh tái vũ trang cho số tàn quân Pháp ở Sài Gòn, ngày 23-9-1945 quân Anh hậu thuẫn và tham gia cùng quân Pháp nổ súng gây hấn ở Nam bộ. Cuối năm 1945, với sự giúp sức của trên 22.000 quân Anh, quân Pháp đã tái chiếm nhiều tỉnh, thành phố ở Nam bộ và Nam Trung bộ. Ngày 15-3-1946, Đô đốc Mounbatten chính thức trao lại toàn bộ Đông Dương cho Đô đốc D’Argenlieu-Cao uỷ Pháp ở Đông Dương.Còn về phía Tưởng, ngày 20-8-1945, Tưởng cho họp Hội nghị quân sự toàn quốc tại Chỉ Giang bàn việc tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật ở Trung Quốc và Việt Nam. Hội nghị chỉ định tướng Lư Hán, Tư lệnh phương diện quân thứ nhất làm Tư lệnh đội quân vào Việt Nam và sẽ làm Chủ tịch Chính phủ quân sự do Trung Quốc lập ra ở Việt Nam. Cuối tháng 8-1945 Trùng Khánh công bố đường lối chính trị 14 điểm của mình về Đông Dương. Ngày 27-8-1945, 20 vạn quân Tưởng trống rong cờ mở, gồng gánh kéo vào đất Việt. Ngày 9-9-1945 những đơn vị quân Tưởng đầu tiên đặt chân vào Hà Nội.Tưởng, Pháp, Anh đều vào Việt Nam sau khi Nhật đầu hàng. Nhưng khi chúng vào đến nơi thì Cách mạng tháng Tám đã thắng lợi trong cả nước, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã được thành lập, Chính phủ Lâm thời đã ra mắt quốc dân. Nước Việt Nam đã do nhân dân Việt Nam làm chủ.Với khát vọng độc lập tự do, với sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc được sự tổ chức và dẫn dắt tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã về đích trước trong cuộc đua diễn ra vào tháng Tám năm 1945 của lịch sử.


