Bài viết

Liên đội Trường TH&THCS Bình Hòa Trung (1)

Câu chuyện một thời hoa lửa: : Dấu ấn Tổ cơ yếu Nhà Con Rồng trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975

Tây Ninh13/05/2026Lương Hoàng Anh Thư (Liên đội Trường TH&THCS Bình Hòa Trung)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Câu chuyện một thời hoa lửa: : Dấu ấn Tổ cơ yếu Nhà Con Rồng trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975

Trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, thông tin chỉ đạo, chỉ huy từ Bộ Thống soái tối cao và Quân ủy Trung ương vào chiến trường và ngược lại được truyền đi liên tục từng giờ từng phút. Vì vậy, để thông tin được kịp thời một tổ mã dịch của Phòng Mã dịch Điện báo, Cục Cơ yếu Bộ Tổng Tham mưu đã được điều động sang làm việc thường trực tại Nhà Con Rồng*, phục vụ Bộ Chính trị và Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp.

Tổ mã dịch gồm có: Đại úy Võ Minh Châu (quê Nghệ An), Phó trưởng Ban điện báo; Thượng sĩ Nguyễn Văn Khôi (quê Bắc Ninh); đồng chí Vũ Thị Trọng (quê Thái Bình); đồng chí Đặng Thị Muôn (quê Hưng Yên). Sau này, tổ có bổ sung một số đồng chí khác; song những đồng chí kể tên trên làm việc từ ngày đầu cho đến những ngày cuối cùng của chiến dịch.

Tổ mã dịch điện báo được bố trí làm việc tại căn phòng nằm ở phía Tây nhà của Quân ủy Trung ương, đây là phòng làm việc của Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng. Cũng chính tại phòng làm việc này, Tổ mã dịch điện báo đã mã dịch những bức điện lịch sử quan trọng như điện của đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái… gửi Bộ Chỉ huy tại các mặt trận và từ mặt trận báo về.

Đồng chí Nguyễn Văn Khôi nhớ lại: “Chúng tôi đang mải ngắm căn phòng thì có tiếng bước chân vọng từ hành lang phòng giữa ngày một gần lại. Tất cả mấy anh chị em đều hồi hộp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp xuất hiện với bộ quân phục màu xanh giản dị. Tiếp nữa là mấy đồng chí khác ở Cục tác chiến và Thiếu tướng Cao Văn Khánh, Phó tổng Tham mưu trưởng. Cả 4 anh em chúng tôi đồng thanh: Chào Thủ trưởng! Đại tướng cười nhẹ nhàng và chào lại chúng tôi, sau đó Đại tướng đưa tay lên khoác vai mấy anh em chúng tôi và hỏi thăm từng người. Đại tướng hỏi: Cô Muôn có gia đình chưa? Dạ báo cáo Thủ trưởng! Em chưa xây dựng gia đình. Sau đó Đại tướng hỏi: Thế cô có người yêu chưa? Cô Muôn trả lời: Dạ thưa Thủ trưởng! Người yêu em đang ở chiến trường. Đại tướng cười và nói: Vậy sao không gọi cậu ấy về mà cưới đi còn gì nữa? Vậy là cả mấy anh em chúng tôi cười phá lên, xua đi cảm giác hồi hộp căng thẳng. Sau đó Đại tướng quay sang hỏi đồng chí Trọng: Còn cô Trọng đã có gia đình chưa? Cô Trọng lúc đó còn ấp úng chưa kịp trả lời thì đồng chí Võ Minh Châu - Tổ trưởng đã nhanh nhẹn trả lời thay: Báo cáo thủ trưởng, Trọng có gia đình rồi ạ. Đại tướng cười vui vẻ. Giây phút hồi hộp khi lần đầu tiên được gặp Đại tướng qua nhanh. Sau khi hỏi thăm mọi người, Đại tướng nói: Các cô các cậu ngồi uống nước, mình về viết điện”.

Đồng chí Muôn tâm sự: “Đó là lần đầu được gặp Đại tướng, không khí lúc đó thân tình lắm như là người một nhà vậy, không hề có khoảng cách giữa Tổng Tư lệnh và chiến sĩ, thấy gần gũi và tình cảm lắm”. Trong hồi ký của mình, đồng chí Nguyễn Văn Khôi viết: “Chất giọng miền Trung ấm áp, những câu hỏi thăm ân tình của một vị tướng gần gũi, thân thiết như người cha, người anh lắng đọng mãi trong chúng tôi, đã khích lệ chúng tôi trong công việc”.

Những ngày cuối tháng 3-1975, Phòng Mã dịch Điện báo, Cục Cơ yếu Bộ Tổng Tham mưu đã đưa gần một nửa quân số vào mặt trận. Lực lượng còn lại của phòng còn chủ yếu là nữ giới, lên tới 26 đồng chí do Thiếu tá Lê Văn Ngoạn, Phó trưởng phòng chỉ huy. Công việc thì tăng lên gấp bội và rất khẩn trương. Đồng chí Muôn nhớ lại: “Tin chiến thắng dồn dập từ mặt trận gửi về nên ai ai cũng hăng hái làm việc, quên cả mệt mỏi, đói khát, mắt ai cũng thâm quầng, làm việc thần tốc, đến ăn uống, ngủ cũng thần tốc, mấy cô mã dịch hét nhau: Sao ăn chậm thế? Thần tốc lên! Làm việc căng thẳng là vậy nhưng lạ thay không ai bị ốm cả. Công việc chiếm phần lớn thời gian trong ngày, chúng tôi thường làm việc 12 giờ/ngày, có ngày làm việc 16 giờ, thậm chí là 24/24 giờ”.

Tốc độ mã dịch không ngừng được tăng lên 7 phút, 6 phút, 5 phút, thậm chí 4 phút rưỡi đã xong một bức điện. Các thành viên trong tổ đều nhận thấy thời gian lúc này là lực lượng, là sức mạnh. Hơn ai hết, các thành viên trong Tổ hiểu tâm trạng của người chỉ huy mong đợi một chỉ thị, chủ trương, một mệnh lệnh… đến chừng nào. Đây là những thông tin rất cần thiết để đưa ra một quyết định, hành động quyết định đến sự thành bại của trận đánh, chiến dịch, thậm chí là vận mệnh của dân tộc trong thời khắc quyết định này.

Trong những ngày diễn ra chiến dịch, nhất là những ngày tháng 4-1975, các đồng chí trong Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đều có mặt ở Nhà Con Rồng. Từ phòng giữa, sau khi lĩnh hội ý kiến của Bộ Chính trị, Đại tướng thường viết điện và gửi trực tiếp cho Cơ yếu, cũng có khi đồng chí Cao Văn Khánh chuyển điện trực tiếp. Có lần, Đại tướng vừa viết điện, được đoạn nào Đại tướng cử người mang sang cho Tổ mã dịch làm ngay. Sau khi mã xong, đồng chí Võ Minh Châu chuyển cho bộ đội thông tin liên lạc phát đi ngay.

Có lần Đại tướng ngồi viết điện ngay tại phòng làm việc của Tổ mã dịch, Đại tướng rất cẩn thận, suy nghĩ thận trọng, cân nhắc từng câu chữ trong khi viết. Khi viết xong điện, Đại tướng đi lại trong phòng suy nghĩ, có lúc chợt dừng lại, Đại tướng nói để mình sửa lại đoạn này, hay bỏ chữ này hoặc thêm chữ kia. Vì là mã dịch viên nên mọi người hiểu được tầm quan trọng của việc mã dịch chính xác từng con chữ, từng ý, thậm chí từng dấu chấm câu, chấm lửng… mặc dù các thành viên trong tổ đều là những người mã dịch cự phách, có kinh nghiệm nhưng vẫn thường nhắc nhau: phải hết sức cẩn thận đấy!

Trong những ngày này, tin thắng trận ở khắp các chiến trường dồn dập gửi về, công việc rất khẩn trương. Đại tướng Tổng Tư lệnh làm việc và ở luôn tại Tổng hành dinh mà không về nhà mặc dù nơi ở của Đại tướng chỉ cách nơi làm việc có vài trăm mét. Các đồng chí công vụ kê một chiếc giường nhỏ trong phòng để Đại tướng nghỉ ngơi sau giờ làm việc.

Đồng chí Nguyễn Văn Khôi kể: “Có hôm mấy anh em trong tổ đến làm việc vẫn thấy màn còn buông rủ trên giường. Cứ nghĩ là đêm qua Đại tướng làm việc khuya nên sáng nay còn ngủ, ai ngờ, vừa đặt túi lên bàn làm việc đã thấy Đại tướng trong bộ quân phục chỉnh tề, Đại tướng hỏi thăm anh em chúng tôi: Đêm qua có ngủ được không? Có mệt không? Chúng tôi trả lời: Thưa Thủ trưởng! Thắng to quá nên quên hết mệt ạ! Đại tướng nói: Đêm qua mình cũng không ngủ, các cô các cậu cố gắng góp phần vào chiến thắng. Ngày 22-4-1975, chúng tôi mã bức điện của Đại tướng viết gửi đồng chí Tuấn, Sáu, Bẩy, Tấn, đoạn cuối có câu “Nắm vững thời cơ lớn chúng ta nhất định giành toàn thắng”. Chúng tôi mã điện xong mà thấy lòng bồi hồi, vừa xúc động, cảm phục và kính trọng những nhà chiến lược tài giỏi, thế hệ cha anh của mình trong những giờ phút trọng đại của lịch sử dân tộc.

Đại tướng rất vui, cái vui khôn tả, khi biết Trung tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy cánh quân đầu tiên đã tiến vào Dinh Độc Lập, trong hồi ký của mình, Đại tướng viết: “Tôi viết ngay một bức điện vượt ra ngoài khuôn phép thông thường về quân sự: 18 giờ 30 phút. Anh Tấn ơi! Làm ăn tốt quá! Phấn khởi quá! Chúc các anh rất khỏe và chuyển lời mừng chiến thắng của mình cho các tướng trong đó. Ký tên: Văn”([1]).

Sáng 30-4-1975, các đồng chí trong tổ mã dịch điện báo (Châu, Trọng và Khôi) xách cặp sang nhà Quân ủy làm việc sớm hơn mọi ngày. Chưa kịp vào phòng làm việc, thì đã thấy rất đông các đồng chí trong Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã có mặt (như đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp…). Nhìn thấy các đồng chí mã dịch điện báo, các đồng chí giơ tay chào. Chúng tôi nhận thấy nét mặt ai nấy đều rạng rỡ, vui tươi, tiếng cười nói vui vẻ, không khí tại nhà Quân ủy nhộn nhịp khác thường. Có lẽ vì tin chiến thắng đêm qua đã làm nức lòng mọi người.

Đồng chí Khôi viết trong hồi ký của mình: “Biết được tin chiến thắng, ba anh em chúng tôi chạy ùa ra cửa, hành lang nhà Quân ủy như chật lại. Những tiếng cười, tiếng reo: Đánh tốt quá! Toàn thắng rồi! Đại thắng rồi! Vang lên trong niềm xúc động, vui sướng vô cùng của tất cả mọi người. Mọi người ôm và hôn nhau, quay tròn, mấy anh vệ binh, phục vụ cũng chạy lại cả. Chúng tôi đứng ngây người ra, xúc động, chứng kiến niềm vui chiến thắng của những mái đầu đã bạc và vỗ tay hòa theo lúc nào không biết. Phóng viên ào đến, quay phim chụp ảnh. Chúng tôi nhát quá, nép sang một bên. Sau này tiếc mãi không có một bức ảnh kỷ niệm trong giờ phút lịch sử ấy”.

Khoảng 12 giờ ngày 30-4-1975, theo lời dặn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí Duệ mời Tổ mã dịch điện báo sang phòng giữa, Đại tướng chiêu đãi chúng tôi bia Trúc Bạch, kẹo Hà Nội và thuốc lá Điện Biên. Mọi người nhấm nháp hương vị, quà mừng đại thắng.

Năm 1998, Cục Cơ yếu Bộ Tổng Tham mưu tổ chức một đoàn đại biểu đến thăm Đại tướng, sau khi các đại diện đơn vị hỏi thăm xong, Đại tướng hỏi: Mấy đồng chí trong tổ mã dịch ở Nhà Con Rồng đâu, cô Muôn, cô Trọng đâu? Xin mời ra đây. Sau đó đồng chí Muôn và đồng chí Trọng được mời ngồi bên cạnh Đại tướng. Đã hơn hai mươi năm trôi qua giờ mới gặp lại vậy mà Đại tướng vẫn nhớ tên, khiến những người có mặt lúc đó không khỏi xúc động và cảm phục trí nhớ mẫn tuệ của vị Tổng Tư lệnh.

Kể từ đó cho đến mãi năm 2007, các thành viên của Tổ Cơ yếu làm việc tại Nhà Con Rồng mới được gặp và chúc thọ Đại tướng, sau khi chụp ảnh xong, đồng chí Muôn đã không kìm nén được cảm xúc của mình, ôm lấy Đại tướng và khóc. Đây là lần thứ 3 và đó cũng là lần cuối cùng đồng chí được gặp Đại tướng. Năm tháng qua đi, nhưng những kỷ niệm sâu sắc của các chiến sĩ mã dịch năm xưa với Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp và quãng thời gian làm việc tại Nhà Con Rồng mãi mãi không phai mờ. Đó là món quà tinh thần vô giá, là niềm tự hào của những người cán bộ, chiến sĩ được cống hiến và làm việc trong ngành Cơ yếu Việt Nam anh hùng và những đóng góp nhỏ bé của mình vào thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong căn nhà nhỏ nằm tĩnh lặng tại phường Nam Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, cựu chiến binh (CCB) Lê Thuận Kha - nguyên Tiểu đội trưởng Tiểu đội hỏa lực thuộc Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 đón chúng tôi bằng nụ cười đôn hậu của một người lính đã đi qua bao dặm trường của chiến tranh. Ở cái tuổi xưa nay hiếm, đôi mắt ông vẫn sáng lên lạ thường khi nhắc về trận đánh đập tan “lá chắn thép” trên đèo Phượng Hoàng - một điểm nút chiến lược quan trọng, mở toang cửa ngõ từ đại ngàn Tây Nguyên xuống đồng bằng ven biển.

Ngược dòng thời gian về mùa xuân năm 1975, Sư đoàn 10 khi đó là một trong những đơn vị chủ lực tinh nhuệ nhất tham gia Chiến dịch Tây Nguyên. Với bề dày truyền thống và bản lĩnh trận mạc, đơn vị được giao nhiệm vụ trực tiếp đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. Thắng lợi vang dội tại đây đã tạo ra bước ngoặt quyết định, đẩy quân địch vào thế tháo chạy hỗn loạn, vỡ vụn từ bên trong.

Sau khi lực lượng của ta hoàn toàn làm chủ Buôn Ma Thuột và giải phóng Khánh Dương, quân địch rơi vào trạng thái hoảng loạn cực độ. Để ngăn chặn đà tiến công như vũ bão của quân giải phóng theo đường 21 (nay là Quốc lộ 26) từ Tây Nguyên xuống đồng bằng, địch vội vã “đổ” Lữ đoàn dù số 3 - lực lượng dự bị chiến lược được mệnh danh là “thiên thần sát thủ”, cùng nhiều đơn vị hỗ trợ nhằm thiết lập một tuyến phòng thủ cực kỳ kiên cố.

Địa điểm được chọn là đèo Phượng Hoàng, nằm giữa ranh giới Đắk Lắk và Khánh Hòa, một vùng đất vốn nổi tiếng với địa hình quanh co, hiểm trở và dốc đứng. Tại đây, dựa vào địa thế núi cao, quân địch bố trí trận địa hỏa lực mạnh, lập sở chỉ huy và các cụm pháo binh, xe tăng ở những điểm cao có tầm quan sát rộng. Chúng ngông cuồng gọi đây là “lá chắn thép” bất khả xâm phạm nhằm khóa chặt con đường xuống duyên hải miền Trung của bộ đội ta.

Trước tình hình đó, Sư đoàn 10 nhận được mệnh lệnh: “Bằng mọi giá phải đập tan tuyến phòng thủ này để giải phóng tỉnh Khánh Hòa”. Hiểu rằng việc đánh trực diện lên các cao điểm sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tổn thất xương máu, nên chỉ huy đơn vị đã quyết định áp dụng chiến thuật đánh bao vây, chia cắt.

Các cánh quân bộ binh của ta đã kiên trì băng rừng, lội suối, âm thầm vòng leo lên các đỉnh núi cao để đánh tạt sườn, chia cắt đội hình quân địch. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa bộ binh, xe tăng và pháo binh đã tạo nên sức mạnh tổng hợp khủng khiếp, khiến quân địch hoang mang, lo sợ.

CCB Lê Thuận Kha nhớ lại, từ đêm 29-3 đến rạng sáng 1-4-1975, pháo binh của ta bắt đầu nã đạn dồn dập vào các trận địa của địch. Những đòn đánh chính xác và mãnh liệt khiến quân địch rối loạn, buộc phải bỏ vị trí rút chạy. Tuy nhiên, quân ta đã lường trước được các hướng rút lui của chúng để tổ chức chặn đánh. Trung đoàn 24 đã tổ chức phục kích tại cầu Suối Chình (xã Tây Ninh Hòa) khi chúng rút chạy về hướng Ninh Hòa, trong khi Tiểu đoàn 8 liên tục truy kích đám tàn quân chạy ngược về hướng Buôn Ma Thuột, tiêu diệt và bắt sống nhiều tên địch. Sau 3 ngày đêm chiến đấu liên tục, Sư đoàn 10 đã xóa sổ hoàn toàn Lữ đoàn dù số 3, đập tan “lá chắn thép” trên đèo Phượng Hoàng.

Thần tốc tiến về Nha Trang

Chớp thời cơ vàng, ngay trong sáng 1-4-1975, quân ta thừa thắng xông lên chiếm đóng Trung tâm huấn luyện Lam Sơn, căn cứ biệt kích Dục Mỹ và giải phóng hoàn toàn huyện Ninh Hòa. Sau khi làm chủ Ninh Hòa, không để quân địch có thời gian kịp hoàn hồn hay tái lập phòng tuyến, Sư đoàn 10 nhanh chóng tổ chức lực lượng đột phá bằng binh chủng hợp thành.

Một hình ảnh vô cùng xúc động và đáng nhớ trong những ngày ấy chính là tinh thần yêu nước của nhân dân địa phương. Ngoài các xe cơ giới có sẵn của đơn vị, bộ đội ta còn mượn thêm xe của dân để chở quân thần tốc theo Quốc lộ 1 tiến thẳng vào Nha Trang.

Tin tức về việc tuyến phòng thủ đèo Phượng Hoàng sụp đổ như một đòn giáng chí mạng vào tinh thần quân địch đang cố thủ tại Nha Trang. Cả một bộ máy chính quyền và quân đội địch tại đây lâm vào cảnh hỗn loạn, tìm mọi đường tháo chạy.

Đến 17 giờ ngày 2-4-1975, sau khi quét sạch các chốt chặn cuối cùng của địch tại đèo Rọ Tượng và đèo Rù Rì, lực lượng binh chủng hợp thành của Sư đoàn 10 đã rầm rộ vượt qua cầu Xóm Bóng, tiến vào trung tâm giải phóng Nha Trang trong sự hân hoan tột độ của người dân địa phương.

Đại tá Nguyễn Văn Thành - nguyên Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Khánh Hòa, người từng có 10 năm chiến đấu tại chiến trường Nha Trang- Khánh Hòa bồi hồi nhớ lại: “Khi ấy, với vai trò là Trợ lý tác chiến của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, tôi cùng đồng đội dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đã phát động toàn bộ lực lượng phối hợp với các đơn vị chủ lực và cơ sở cách mạng nội đô, đồng loạt nổi dậy giải phóng Nha Trang - Khánh Hòa”.

Sau khi vào thị xã Nha Trang, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh đã lập Sở chỉ huy trên đường Nguyễn Thiện Thuật để trực tiếp chỉ đạo tiêu diệt những tên địch còn ngoan cố. Công tác củng cố lực lượng, xây dựng cơ sở cách mạng và tuần tra bảo vệ các mục tiêu quan trọng được triển khai ngay lập tức.

“Hình ảnh Nha Trang ngày ấy rực rỡ sắc đỏ của cờ Mặt trận treo trước mỗi hiên nhà. Người dân đổ ra đường với niềm xúc động khôn xiết, tự tay may cờ và tặng những bó hoa tươi thắm nhất cho các chiến sĩ,” Đại tá Thành xúc động nhớ lại.

Thắng lợi tại Nha Trang chưa phải là điểm dừng chân cuối cùng. Ngay sau đó, ngày 3-4-1975, Sư đoàn 10 tiếp tục tiến quân giải phóng Cam Ranh và Khu liên hợp quân sự Cam Ranh. Sau đó, đơn vị tiến vào phía nam giải phóng sân bay Thành Sơn trước khi tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Góp phần mở cánh cửa giải phóng Sài Gòn

Trong dòng hồi ức của CCB Nguyễn Trọng Nghĩa (78 tuổi) - nguyên Đại đội trưởng Đại đội Đặc công 311, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận, những ngày đầu tháng 4-1975 thật sự là những ngày rực lửa. Khi đó, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy Đại đội Đặc công 311, đánh chặn các toán tàn quân từ Đà Lạt tháo chạy theo đường 11 về Phan Rang.

Trận đánh đêm 2-4-1975 tại khu vực Sông Mỹ là một minh chứng cho sự khốc liệt. Quân địch điên cuồng dùng pháo 105 ly bắn phá để mở đường máu tháo chạy, nhưng đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của Đại đội Đặc công 311 và bộ đội địa phương. Trong trận này, ông Nghĩa bị thương nặng ở đầu. Nhưng với ý chí thép, chỉ vài ngày sau khi vết thương chưa kịp lành, ông đã rời căn cứ Bác Ái xuống xóm Dừa để tiếp tục họp bàn kế hoạch tác chiến, quyết tâm giải phóng quê hương.

Cuộc chiến tại Phan Rang diễn ra vô cùng giằng co. Đêm 7-4-1975, lực lượng Đặc công 311, Biệt động 314 cùng các đội vũ trang, du kích đã được ta giác ngộ, đồng loạt tấn công vào các mục tiêu trọng yếu như trại Nguyễn Hoàng, ga Tháp Chàm, cầu Mống. Suốt 2 ngày đêm sau đó, chiến sự diễn ra cực kỳ căng thẳng. Các chiến sĩ của ta đã kiên cường đánh lui 16 đợt phản kích của địch tại khu vực Tháp Chàm dưới sự đùm bọc của nhân dân.

Sáng 14-4-1975, tiếng pháo công kích rền vang trùm khói lửa lên các điểm chốt của địch từ Bà Râu đến sân bay Thành Sơn. Đến sáng ngày 16-4-1975, thời khắc lịch sử đã điểm. CCB Nguyễn Trọng Nghĩa vẫn nhớ như in khoảnh khắc từ núi Cà Đú, ông sử dụng ống nhòm quan sát và phát hiện một đoàn quân có xe tăng dẫn đầu đang tiến dọc Quốc lộ 1 hướng về Phan Rang.

Bằng kinh nghiệm của mình, ông nhận định ngay đó là lực lượng chủ lực của ta từ Nha Trang tiến vào. Ngay lập tức, ông tập hợp đơn vị, chủ động bắt liên lạc và phối hợp đánh thốc vào sườn quân địch đang tháo chạy, đồng thời dẫn đường cho quân ta tiến đánh thị xã Phan Rang, sân bay Thành Sơn và cảng Ninh Chữ.

Đúng 9 giờ 30 phút ngày 16-4-1975, lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Tòa hành chính tỉnh Ninh Thuận. Phan Rang - Tháp Chàm chính thức được giải phóng.

Hòa chung niềm vui ấy là những giọt nước mắt hạnh phúc của những người du kích như ông Nguyễn Văn Bé (phường Đô Vinh). Ông vẫn không thể quên được không khí ngày chiến thắng khi người dân đứng kín hai bên đường 21 tháng 8, tay cầm cờ nồng nhiệt chào đón quân giải phóng. “Ngày hôm ấy, người dân Phan Rang - Tháp Chàm vỡ òa trong niềm vui, phấn khởi khi quê hương được giải phóng” - ông Bé nhớ lại với ánh mắt lấp lánh.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, những người lính năm xưa giờ tóc đã bạc trắng, nhưng ký ức về những ngày tháng Tư rực lửa vẫn luôn là một phần lịch sử vẻ vang của dân tộc. Đó là bài học vô giá về lòng yêu nước, về tinh thần đoàn kết quân dân và ý chí quyết chiến quyết thắng, nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình để tiếp tục nỗ lực xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn