I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ
1. Tình hình thế giới và Liên Xô
* Tình hình thế giới
Thế chiến thứ hai đã làm thay đổi sự cân bằng lưc lượng trên trường quốc tế. Bức tranh địa - chính trị đã thay đổi một cách đáng kể với những sự vận động thay đổi cả trên diện rộng lẫn bề sâu.
Ba nước Đức, Ý, Nhật Bản, trước chiến tranh là những cường quốc, nhưng do thất bại trong chiến tranh nên đã trở thành các nước yếu thế, tiềm năng kinh tế của các nước này đã suy yếu đáng kể. Đặc biệt, nước Đức bị mất 17,5% tài sản cố định, nước Nhật bị phá hủy 1/3 thiết bị máy móc; các nước Đức và Nhật còn bị quân Đồng minh chiếm đóng và buộc phải bồi thường chiến phí hêt sức nặng nề, khiến cho tình hình chính trị, kinh tế - xã hội ở các nước này càng trở nên nghiêm trọng.
Mặc dù khi kết thúc chiến tranh, Anh là một trong ba cường quốc chiến thắng, song chiến tranh đã làm cho các quốc gia này bị suy yếu, tiềm lực kinh tế cũng như quân sự bị ảnh hưởng đáng kể. Số thiệt hại của nước Anh trị giá tới 3 tỷ bảng Anh1 (Geir Lundestad, Đông Tây Nam Bắc - Diễn biến chính trong quan hệ quốc tế từ năm 1945, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2009, tr. 19-20), nước Anh phụ thuộc đáng kể vào viện trợ của Hoa Kỳ và gánh những khoản nợ nước ngoài khổng lồ, nợ Mỹ và các nước trong Liên hiệp Anh tới 50 tỷ đôla2 (Phạm Giảng, Lịch sử quan hệ quốc tế từ chiến tranh thế giới thứ hai đến chiến tranh Triều Tiên (1939 - 1952), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 99, 124).
Mỹ là quốc gia có những bước phát triển ngoạn mục sau chiến tranh thế giới thứ hai. Chiến tranh đã đưa nước này trở thành cường quốc hùng mạnh nhất hành tinh. Mỹ đã tăng cường đáng kể vị trí của mình trên trường quốc tế. Về kinh tế, tổng sản phẩm quốc dân của Mỹ tăng từ 209,4 tỷ đôla năm 1939 lên 355,2 tỷ đôla năm 1945, gần bằng một nửa tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ của thế giới. Nước Mỹ cũng giữ 59% lượng dầu3 (Geir Lundestad. Empire by Invitation? The United States and Western Europe, 1945 - 1952, Journal of Peace research, Vol. 23, No. 3, (9-1986), p. 264) và 2/3 lượng vàng dự trữ của nhân loại4 (Phạm Giảng, Lịch sử quan hệ quốc tế từ chiến tranh thế giới thứ hai đến chiến tranh Triều Tiên (1939 - 1952), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 99, 124), về quân sự, vào năm 1945, nước Mỹ có quân đội đông tới 12 triệu quân với lực lượng không quân và hải quân mạnh nhất thế giới. Đặc biệt, Mỹ là quốc gia duy nhất sở hữu vũ khí hạt nhân - thứ vũ khí hủy diệt lớn nhất được con người tạo ra. Khi chiến tranh kết thúc, lực lượng quân sự ấy của Mỹ hiện diện ở khắp các châu lục; nắm quyền hành lớn trong nhiều tổ chức quốc tế trọng yếu của thế giới. Trong Liên Hợp Quốc, Mỹ là một trong những nước có quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an; trong Ngân hàng thế giới. Nước Mỹ đóng góp tới 1/3 trong 9,1 tỷ vốn điều lệ và theo đó nước Mỹ cũng nắm 1/3 quyền hành của tổ chức này; trong Quỹ tiền tệ quốc tế, Mỹ cũng giữ quyền chi phối và tổ chức này thừa nhận đồng đôla Mỹ (USD - United States dollar) là đồng tiền chuẩn so với các loại tiền có giá trị khác. Với sức mạnh về kinh tế và quân sự đó, tiếng nói của nước Mỹ trở nên có sức thuyết phục cao trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Mỹ đưa ra và thực thi "Học thuyết Truman", "Kế hoạch Marshall", phát động và đẩy mạnh chiến tranh lạnh, bao vây Liên Xô. Từ năm 1950, đi đôi với củng cố vị trí ở Tây - Bắc Âu và Tây bán cầu, Mỹ bắt đầu quan tâm đến châu Á, Đông Nam Á và lục địa châu Phi. Đặc biệt, hai cường quốc tư bản là Anh và Pháp đều có chung mục đích với Mỹ là chống lại ảnh hưởng của Liên Xô, chống lại những diễn biến trên thế giới gây bất lợi cho lợi ích quốc gia của những nước này ở các khu vực Á, Phi, Mỹ - Latinh. Với sự ủng hộ của một số nước tư bản, đến năm 1950 vị trí và ảnh hưởng của Mỹ đã được xác lập ở khắp nơi trên thế giới - điều mà trước chiến tranh chưa hề có.
Tại châu Âu, cuối năm 1944, đầu năm 1945, khi Hồng quân Liên Xô truy kích quân phát xít, lực lượng vũ trang và nhân dân các nước Đông Âu đã phối hợp nổi dậy giành độc lập, thành lập các nhà nước cộng hoà dân chủ nhân dân: Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari, Hunggari Anbani, Nam Tư, Rumani, Cộng hoà dân chủ Đức. Tại châu Á, dưới sự lãnh đạo của các đảng cộng sản nhân dân nhiều nước đã giành lại được nền độc lập của mình như Việt Nam, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Từ năm 1944 đến năm 1949 ở châu Âu và châu Á đã có 11 nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo đã giành được chính quyền và sau đó đi lên chủ nghĩa xã hội bằng những phương thức khác nhau. Tại những nước này, sau khi giành được độc lập, Đảng Cộng sản lãnh đạo nhân dân lao động bắt tay vào xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Như vậy, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thực tế đã hình thành với Liên Xô là trung tâm - đây là một trong những biến đổi to lớn nhất của lịch sử thế giới trong thế kỷ XX, ảnh hưởng đến bước đường phát triển của lịch sử thế giới nói chung và vận mệnh của nhiều dân tộc nói riêng.
Phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân, các cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ đã bùng nổ ngày càng mạnh mẽ. Nhân dân các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc ở Á, Phi, Mỹ - Latinh đẩy mạnh phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc. Ở châu Á, các nước như Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên..., dưới sự lãnh đạo của các chính đảng vô sản, giai cấp công nhân bắt tay vào xây dựng chế độ dân chủ nhân dân theo con đường xã hội chủ nghĩa, ở nhiều nước khác, như (Ấn Độ, Mianma, Inđônêxia, Ai Cập, Xiri...), các đảng phái của giai cấp tư sản dân tộc tập hợp, lãnh đạo nhân dân đứng lên giành độc lập và phát triển đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa mang tính dân tộc, thực hiện đường lối đối ngoại hoà bình và trung lập.
Sau năm 1945, phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế có những bước chuyển biến mới. Ở nhiều nước tư bản, trong thành phần Chính phủ của nhiều nước (Pháp, Ý, Đan Mạch, Phần Lan, Chi Lê...) có sự tham gia của những người cộng sản. Họ tích cực đấu tranh đòi Chính phủ thực hiện những quyền dân sinh, dân chủ. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong lòng các nước tư bản cũng đạt được những thành tựu nhất định, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, chính trị. Riêng tại các nước tư bản Tây Âu đã có nhiều Đảng Cộng sản với 3,1 triệu đảng viên có vị trí vững chắc trong các tổ chức công đoàn và các tổ chức dân chủ khác, thật sự là một lực lương chính trị vững mạnh. Tại một số nước (như Pháp, Y...), các đảng cộng sản đã tham gia liên minh cầm quyền trong Chính phủ của giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân tiến bộ không ngừng tiến công trực diện vào chủ nghĩa tư bản chính là động lực cũng như đồng minh của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.
Thắng lợi của các lực lượng chống phát xít đã mở ra thời kỳ mới trong sự nghiệp giải phóng của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, nhất là ở những nước khu vực châu Á. Ở những mức độ khác nhau, các nước này đã và đang đứng lên giành độc lập, tự do, quyền dân sinh, dân chủ như Cộng hòa nhân dân Triều Tiên, Việt Nam Inđônêxia, Philíppin, Mianma... Sự ra đời của Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa (tháng 10-1949) đã làm tăng đáng kể sức mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa "tạo nên sự thay đổi mới trong cán cân lực lượng trên vũ đài quốc tế"1 (Phạm Giảng, Lịch sử quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến chiến tranh Triều Tiên (1939 - 1952), Sđd, tr. 230). Như vậy, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thế giới có những biến đổi lớn, hình thành những nhân tố mới của quá trình cách mạng. Đó là sự ra đời của hệ thống thế giới xã hội chủ nghĩa; phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ; phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa cũng phát triển một bước. Chủ nghĩa xã hội đã phát triển thành hệ thống, làm tăng thêm sức mạnh của chủ nghĩa xã hội. Do tác động mạnh mẽ của hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc từ sau chiến tranh thế giới thứ hai cũng phát triển mạnh mẽ trên nhiều lục địa Á, Phi, Mỹ Latinh. | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2626  | 
| Liên Xô ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến 1945-1975« Trả lời #3 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2023, 11:31:49 am » | * Tình hình Liên Xô
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô chịu những hậu quả hết sức nặng nề: 1.710 thành phố, 70.000 làng mạc, 32.000 doanh nghiệp công nghiệp, 65.000km đường sắt, 98.000 trang trại tập thể và 2.890 trạm máy kéo bị phá hủy hoàn toàn, sức sản xuất về thép và nông nghiệp của Liên Xô năm 1945 giảm một nửa so với năm 1941. Thiệt hại trực tiếp cho nền kinh tế Liên Xô là 679 tỷ rúp (tương đương với tổng đầu tư của Liên Xô trong bốn kế hoạch 5 năm đầu tiên). Nền kinh tế, công nghiệp luyện kim và nông nghiệp của Liên Xô đã bị tụt lùi khoảng 10 năm, tương đương ở mức những năm 1930.
Bên cạnh đó, Liên Xô cũng có những thuận lợi rất căn bản, trở thành nước đứng đầu hệ thống xã hội chủ nghĩa. Vào thời điểm chiến tranh kết thúc, Liên Xô có lực lượng vũ trang hùng hậu với số lượng tương đương số quân của quân đội Mỹ - 12 triệu người1 (Geir Lundestad, Đông Tây Nam Bắc - Diễn biến chính trong quan hệ quốc tế từ năm 1945, Sđd, tr 16); quân đội Liên Xô có mặt từ khu vực Đông Âu đến Đông Bắc Á; Liên Xô cũng nắm quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Ảnh hưởng của Liên Xô trên trường quốc tế sau chiến thắng trong chiến tranh vệ quốc đã không ngừng tăng cao. Với sự phát triển của phong trào dân tộc, dân chủ trên thế giới, Liên Xô đã được sự ủng hộ, cổ vũ của một lực lượng đông đảo từ nhiêu nước thuộc địa, phụ thuộc và cả ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Với những điều kiện thuận lợi ấy, Liên Xô tích cực tái thiết đất nước sau chiến tranh; đồng thời, tăng cường hỗ trợ, giúp đỡ các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu, vùng Bancăng khôi phục, phát triển kinh tế. Những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô triển khai chính sách đối ngoại theo hướng phát triển tình đoàn kết anh em với các nước dân chủ nhân dân, củng cố toàn diện hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc... hợp tác hữu nghị với các quốc gia độc lập trẻ tuổi, bảo vệ hoà bình. Trọng tâm chiến lược của Liên Xô là bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi để xây dựng đất nước, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển, đuổi kịp Mỹ về thế chiến lược, khoa học - công nghệ và tổng sản phẩm quốc nội..., đồng thời, củng cố quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng ảnh hưởng của mình.
Trong cục diện đối đầu Đông - Tây và chiến tranh lạnh, Liên Xô bắt buộc phải tăng cường vũ trang, đồng thời viện trợ vật chất cho bạn bè, đồng minh, nhằm củng cố an ninh và bảo vệ hệ thống xã hội chủ nghĩa. Để củng cố vị trí quốc tế và vươn lên thành cường quốc, Liên Xô tiến hành nhiều biện pháp để tăng cường sức mạnh chính trị - quân sự. Một mặt, Liên Xô tập trung các nguồn lực xây dựng quân đội hùng mạnh, nền quốc phòng hiện đại, nghiên cứu chế tạo vũ khí hạt nhân (năm 1949), phá thế độc quyền vũ khí nguyên tử của Mỹ. Mặt khác, Liên Xô tích cực triển khai kế hoạch xây dựng hệ thống an ninh tập thể, chú trọng châu Âu - nơi có vị trí địa - chính trị, địa - chiến lược quan trọng đối với hoà bình, ổn định thế giới, cũng là nơi tập trung các lợi ích sống còn của Liên Xô và của đối thủ số 1 của mình là Mỹ. Từ chỗ là đồng minh chống phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô và Mỹ trở thành đối thủ với sự đối lập về mục tiêu chiến lược, song đều có một điểm chung là mở rộng ảnh hưởng, đảm bảo lợi ích trên nhiều khu vực khác nhau của thế giới, tiến hành chiến tranh lạnh, mà đỉnh cao sự đối đầu giữa hai phe là việc "quốc tế hoá" cuộc chiến tranh Triều Tiên. Chiến tranh Triều Tiên trở thành nơi đọ sức quyết liệt giữa hai phe trong "trật tự Ianta".
Sự phân cực thế giới và những toan tính của các nước lớn sau chiến tranh thế giới thứ hai có ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam. | |
Logged
|
|
|
|