Chương 1 LIÊN XÔ ỦNG HỘ, GIÚP ĐỠ VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945-1954)
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ
1. Tình hình thế giới và Liên Xô
* Tình hình thế giới
Thế chiến thứ hai đã làm thay đổi sự cân bằng lưc lượng trên trường quốc tế. Bức tranh địa - chính trị đã thay đổi một cách đáng kể với những sự vận động thay đổi cả trên diện rộng lẫn bề sâu.
Ba nước Đức, Ý, Nhật Bản, trước chiến tranh là những cường quốc, nhưng do thất bại trong chiến tranh nên đã trở thành các nước yếu thế, tiềm năng kinh tế của các nước này đã suy yếu đáng kể. Đặc biệt, nước Đức bị mất 17,5% tài sản cố định, nước Nhật bị phá hủy 1/3 thiết bị máy móc; các nước Đức và Nhật còn bị quân Đồng minh chiếm đóng và buộc phải bồi thường chiến phí hêt sức nặng nề, khiến cho tình hình chính trị, kinh tế - xã hội ở các nước này càng trở nên nghiêm trọng.
Mặc dù khi kết thúc chiến tranh, Anh là một trong ba cường quốc chiến thắng, song chiến tranh đã làm cho các quốc gia này bị suy yếu, tiềm lực kinh tế cũng như quân sự bị ảnh hưởng đáng kể. Số thiệt hại của nước Anh trị giá tới 3 tỷ bảng Anh1 (Geir Lundestad, Đông Tây Nam Bắc - Diễn biến chính trong quan hệ quốc tế từ năm 1945, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2009, tr. 19-20), nước Anh phụ thuộc đáng kể vào viện trợ của Hoa Kỳ và gánh những khoản nợ nước ngoài khổng lồ, nợ Mỹ và các nước trong Liên hiệp Anh tới 50 tỷ đôla2 (Phạm Giảng, Lịch sử quan hệ quốc tế từ chiến tranh thế giới thứ hai đến chiến tranh Triều Tiên (1939 - 1952), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 99, 124).
Mỹ là quốc gia có những bước phát triển ngoạn mục sau chiến tranh thế giới thứ hai. Chiến tranh đã đưa nước này trở thành cường quốc hùng mạnh nhất hành tinh. Mỹ đã tăng cường đáng kể vị trí của mình trên trường quốc tế. Về kinh tế, tổng sản phẩm quốc dân của Mỹ tăng từ 209,4 tỷ đôla năm 1939 lên 355,2 tỷ đôla năm 1945, gần bằng một nửa tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ của thế giới. Nước Mỹ cũng giữ 59% lượng dầu3 (Geir Lundestad. Empire by Invitation? The United States and Western Europe, 1945 - 1952, Journal of Peace research, Vol. 23, No. 3, (9-1986), p. 264) và 2/3 lượng vàng dự trữ của nhân loại4 (Phạm Giảng, Lịch sử quan hệ quốc tế từ chiến tranh thế giới thứ hai đến chiến tranh Triều Tiên (1939 - 1952), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 99, 124), về quân sự, vào năm 1945, nước Mỹ có quân đội đông tới 12 triệu quân với lực lượng không quân và hải quân mạnh nhất thế giới. Đặc biệt, Mỹ là quốc gia duy nhất sở hữu vũ khí hạt nhân - thứ vũ khí hủy diệt lớn nhất được con người tạo ra. Khi chiến tranh kết thúc, lực lượng quân sự ấy của Mỹ hiện diện ở khắp các châu lục; nắm quyền hành lớn trong nhiều tổ chức quốc tế trọng yếu của thế giới. Trong Liên Hợp Quốc, Mỹ là một trong những nước có quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an; trong Ngân hàng thế giới. Nước Mỹ đóng góp tới 1/3 trong 9,1 tỷ vốn điều lệ và theo đó nước Mỹ cũng nắm 1/3 quyền hành của tổ chức này; trong Quỹ tiền tệ quốc tế, Mỹ cũng giữ quyền chi phối và tổ chức này thừa nhận đồng đôla Mỹ (USD - United States dollar) là đồng tiền chuẩn so với các loại tiền có giá trị khác. Với sức mạnh về kinh tế và quân sự đó, tiếng nói của nước Mỹ trở nên có sức thuyết phục cao trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Mỹ đưa ra và thực thi "Học thuyết Truman", "Kế hoạch Marshall", phát động và đẩy mạnh chiến tranh lạnh, bao vây Liên Xô. Từ năm 1950, đi đôi với củng cố vị trí ở Tây - Bắc Âu và Tây bán cầu, Mỹ bắt đầu quan tâm đến châu Á, Đông Nam Á và lục địa châu Phi. Đặc biệt, hai cường quốc tư bản là Anh và Pháp đều có chung mục đích với Mỹ là chống lại ảnh hưởng của Liên Xô, chống lại những diễn biến trên thế giới gây bất lợi cho lợi ích quốc gia của những nước này ở các khu vực Á, Phi, Mỹ - Latinh. Với sự ủng hộ của một số nước tư bản, đến năm 1950 vị trí và ảnh hưởng của Mỹ đã được xác lập ở khắp nơi trên thế giới - điều mà trước chiến tranh chưa hề có.
Tại châu Âu, cuối năm 1944, đầu năm 1945, khi Hồng quân Liên Xô truy kích quân phát xít, lực lượng vũ trang và nhân dân các nước Đông Âu đã phối hợp nổi dậy giành độc lập, thành lập các nhà nước cộng hoà dân chủ nhân dân: Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari, Hunggari Anbani, Nam Tư, Rumani, Cộng hoà dân chủ Đức. Tại châu Á, dưới sự lãnh đạo của các đảng cộng sản nhân dân nhiều nước đã giành lại được nền độc lập của mình như Việt Nam, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Từ năm 1944 đến năm 1949 ở châu Âu và châu Á đã có 11 nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo đã giành được chính quyền và sau đó đi lên chủ nghĩa xã hội bằng những phương thức khác nhau. Tại những nước này, sau khi giành được độc lập, Đảng Cộng sản lãnh đạo nhân dân lao động bắt tay vào xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Như vậy, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thực tế đã hình thành với Liên Xô là trung tâm - đây là một trong những biến đổi to lớn nhất của lịch sử thế giới trong thế kỷ XX, ảnh hưởng đến bước đường phát triển của lịch sử thế giới nói chung và vận mệnh của nhiều dân tộc nói riêng.
Phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân, các cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ đã bùng nổ ngày càng mạnh mẽ. Nhân dân các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc ở Á, Phi, Mỹ - Latinh đẩy mạnh phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc. Ở châu Á, các nước như Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên..., dưới sự lãnh đạo của các chính đảng vô sản, giai cấp công nhân bắt tay vào xây dựng chế độ dân chủ nhân dân theo con đường xã hội chủ nghĩa, ở nhiều nước khác, như (Ấn Độ, Mianma, Inđônêxia, Ai Cập, Xiri...), các đảng phái của giai cấp tư sản dân tộc tập hợp, lãnh đạo nhân dân đứng lên giành độc lập và phát triển đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa mang tính dân tộc, thực hiện đường lối đối ngoại hoà bình và trung lập.
Sau năm 1945, phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế có những bước chuyển biến mới. Ở nhiều nước tư bản, trong thành phần Chính phủ của nhiều nước (Pháp, Ý, Đan Mạch, Phần Lan, Chi Lê...) có sự tham gia của những người cộng sản. Họ tích cực đấu tranh đòi Chính phủ thực hiện những quyền dân sinh, dân chủ. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong lòng các nước tư bản cũng đạt được những thành tựu nhất định, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, chính trị. Riêng tại các nước tư bản Tây Âu đã có nhiều Đảng Cộng sản với 3,1 triệu đảng viên có vị trí vững chắc trong các tổ chức công đoàn và các tổ chức dân chủ khác, thật sự là một lực lương chính trị vững mạnh. Tại một số nước (như Pháp, Y...), các đảng cộng sản đã tham gia liên minh cầm quyền trong Chính phủ của giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân tiến bộ không ngừng tiến công trực diện vào chủ nghĩa tư bản chính là động lực cũng như đồng minh của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.
Thắng lợi của các lực lượng chống phát xít đã mở ra thời kỳ mới trong sự nghiệp giải phóng của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, nhất là ở những nước khu vực châu Á. Ở những mức độ khác nhau, các nước này đã và đang đứng lên giành độc lập, tự do, quyền dân sinh, dân chủ như Cộng hòa nhân dân Triều Tiên, Việt Nam Inđônêxia, Philíppin, Mianma... Sự ra đời của Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa (tháng 10-1949) đã làm tăng đáng kể sức mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa "tạo nên sự thay đổi mới trong cán cân lực lượng trên vũ đài quốc tế"1 (Phạm Giảng, Lịch sử quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến chiến tranh Triều Tiên (1939 - 1952), Sđd, tr. 230). Như vậy, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thế giới có những biến đổi lớn, hình thành những nhân tố mới của quá trình cách mạng. Đó là sự ra đời của hệ thống thế giới xã hội chủ nghĩa; phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ; phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa cũng phát triển một bước. Chủ nghĩa xã hội đã phát triển thành hệ thống, làm tăng thêm sức mạnh của chủ nghĩa xã hội. Do tác động mạnh mẽ của hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc từ sau chiến tranh thế giới thứ hai cũng phát triển mạnh mẽ trên nhiều lục địa Á, Phi, Mỹ Latinh. | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Liên Xô ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến 1945-1975« Trả lời #3 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2023, 11:31:49 am » | * Tình hình Liên Xô
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô chịu những hậu quả hết sức nặng nề: 1.710 thành phố, 70.000 làng mạc, 32.000 doanh nghiệp công nghiệp, 65.000km đường sắt, 98.000 trang trại tập thể và 2.890 trạm máy kéo bị phá hủy hoàn toàn, sức sản xuất về thép và nông nghiệp của Liên Xô năm 1945 giảm một nửa so với năm 1941. Thiệt hại trực tiếp cho nền kinh tế Liên Xô là 679 tỷ rúp (tương đương với tổng đầu tư của Liên Xô trong bốn kế hoạch 5 năm đầu tiên). Nền kinh tế, công nghiệp luyện kim và nông nghiệp của Liên Xô đã bị tụt lùi khoảng 10 năm, tương đương ở mức những năm 1930.
Bên cạnh đó, Liên Xô cũng có những thuận lợi rất căn bản, trở thành nước đứng đầu hệ thống xã hội chủ nghĩa. Vào thời điểm chiến tranh kết thúc, Liên Xô có lực lượng vũ trang hùng hậu với số lượng tương đương số quân của quân đội Mỹ - 12 triệu người1 (Geir Lundestad, Đông Tây Nam Bắc - Diễn biến chính trong quan hệ quốc tế từ năm 1945, Sđd, tr 16); quân đội Liên Xô có mặt từ khu vực Đông Âu đến Đông Bắc Á; Liên Xô cũng nắm quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Ảnh hưởng của Liên Xô trên trường quốc tế sau chiến thắng trong chiến tranh vệ quốc đã không ngừng tăng cao. Với sự phát triển của phong trào dân tộc, dân chủ trên thế giới, Liên Xô đã được sự ủng hộ, cổ vũ của một lực lượng đông đảo từ nhiêu nước thuộc địa, phụ thuộc và cả ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Với những điều kiện thuận lợi ấy, Liên Xô tích cực tái thiết đất nước sau chiến tranh; đồng thời, tăng cường hỗ trợ, giúp đỡ các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu, vùng Bancăng khôi phục, phát triển kinh tế. Những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô triển khai chính sách đối ngoại theo hướng phát triển tình đoàn kết anh em với các nước dân chủ nhân dân, củng cố toàn diện hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc... hợp tác hữu nghị với các quốc gia độc lập trẻ tuổi, bảo vệ hoà bình. Trọng tâm chiến lược của Liên Xô là bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi để xây dựng đất nước, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển, đuổi kịp Mỹ về thế chiến lược, khoa học - công nghệ và tổng sản phẩm quốc nội..., đồng thời, củng cố quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng ảnh hưởng của mình.
Trong cục diện đối đầu Đông - Tây và chiến tranh lạnh, Liên Xô bắt buộc phải tăng cường vũ trang, đồng thời viện trợ vật chất cho bạn bè, đồng minh, nhằm củng cố an ninh và bảo vệ hệ thống xã hội chủ nghĩa. Để củng cố vị trí quốc tế và vươn lên thành cường quốc, Liên Xô tiến hành nhiều biện pháp để tăng cường sức mạnh chính trị - quân sự. Một mặt, Liên Xô tập trung các nguồn lực xây dựng quân đội hùng mạnh, nền quốc phòng hiện đại, nghiên cứu chế tạo vũ khí hạt nhân (năm 1949), phá thế độc quyền vũ khí nguyên tử của Mỹ. Mặt khác, Liên Xô tích cực triển khai kế hoạch xây dựng hệ thống an ninh tập thể, chú trọng châu Âu - nơi có vị trí địa - chính trị, địa - chiến lược quan trọng đối với hoà bình, ổn định thế giới, cũng là nơi tập trung các lợi ích sống còn của Liên Xô và của đối thủ số 1 của mình là Mỹ. Từ chỗ là đồng minh chống phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô và Mỹ trở thành đối thủ với sự đối lập về mục tiêu chiến lược, song đều có một điểm chung là mở rộng ảnh hưởng, đảm bảo lợi ích trên nhiều khu vực khác nhau của thế giới, tiến hành chiến tranh lạnh, mà đỉnh cao sự đối đầu giữa hai phe là việc "quốc tế hoá" cuộc chiến tranh Triều Tiên. Chiến tranh Triều Tiên trở thành nơi đọ sức quyết liệt giữa hai phe trong "trật tự Ianta".
Sự phân cực thế giới và những toan tính của các nước lớn sau chiến tranh thế giới thứ hai có ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam. | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Liên Xô ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến 1945-1975« Trả lời #4 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2023, 11:33:08 am » | 2. Tình hình Việt Nam
Sau khi tuyên bố độc lập, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành cải tổ một số cơ quan và bộ máy chính quyền cũ; đổi mới một số bộ phận, chuyển những bộ phận còn lại sang phục vụ chính quyền mới. Chính quyền các cấp từ Trung ương xuống đến huyện, xã, quân đội và cảnh sát được thay đổi cho phù hợp với chính thể mới là nền dân chủ cộng hoà. Nhà nước ban bố sắc lệnh số 41/SL ngày 3 tháng 10 năm 1945, bãi bỏ tất cả các cơ quan thuộc phủ Toàn quyền Đông Dương và sáp nhập vào các bộ của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Bộ máy các ngành được sắp xếp lại, nhưng hầu hết các nhân viên vẫn tiếp tục công việc như trước, ơ các địa phương, bộ máy chính quyền cũ bị xoá bỏ, Ủy ban nhân dân cách mạng là bộ máy chính quyền mới với lãnh đạo mới nắm quyền điều hành công việc. Hầu hết các cơ quan, các ngành đều giữ nguyên, hoạt động dưới sự điều hành của Ủy ban nhân dân cách mạng.
Ngoài những cơ sở đã có sẵn của hệ thống Nhà nước trước đây, sau Cách mạng Tháng Tám (năm 1945), yêu cầu xây dựng chế độ mới đòi hỏi phải có những tổ chức mới; do đó, ở Trung ương đã phát động Quỹ độc lập, Tuần lễ vàng để giải quyết vấn đề tài chính; Tiểu ban Canh nông lo việc khai hoang, phục hoá; Ủy ban mùa đông binh sĩ lo giải quyết vấn đề quân nhu cho bộ đội; Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch phát triển đất nước...
Như vậy, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một tất yếu; tạo bước nhảy vọt quan trọng trong lịch sử dân tộc và đất nước Việt Nam; toàn thể nhân dân Việt Nam đều vui mừng và phấn khởi trước bước ngoặt lịch sử ấy. Từ đây, người dân Việt Nam đã có thể đứng lên làm chủ vận mệnh của mình và làm chủ đất nước. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của toàn thể dân tộc Việt Nam đã thành hiện thực. Lịch sử Việt Nam đã sang trang mới; một kỷ nguyên mới được mở ra - Kỷ nguyên độc lập, tự do cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Sau khi vừa giành lại nền độc lập, bên cạnh một số thuận lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã phải đối diện với tình thế hết sức hiểm nghèo. Theo thỏa thuận giữa các nước thắng trận, thuộc địa cũ của những nước thuộc phe Đồng minh được bảo đảm; trong đó, Đông Dương "chịu ảnh hưởng của Pháp". Vì thế, chỉ 10 ngày sau khi cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công trong cả nước, quân đội Đồng minh đã lần lượt kéo vào Việt Nam dưới vỏ bọc giải giáp quân đội Nhật. Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, hơn 20 vạn quân của Trung Hoa Dân quốc đã tràn vào Hà Nội và hầu khắp các tỉnh thành. Nung nấu âm mưu tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, đánh phá Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng, khi vào Việt Nam, quân đội Tưởng Giới Thạch kéo theo những phần tử thuộc các tổ chức như Việt Nam quốc dân đảng (còn gọi là Việt Quốc); Việt Nam cách mạng đồng minh hội (còn gọi là Việt Cách), giúp đỡ các thế lực phản cách mạng tiến hành chống phá, cướp chính quyền ở nhiều nơi như ở Yên Bái, Móng Cái, Vĩnh Yên... Được sự giúp đỡ của quân đội Trung Hoa Dân quốc, các lực lượng chống đối đã gây ra nhiều vụ cướp bóc, giết người, tuyên truyền phản động trong các tầng lớp nhân dân, kích động quần chúng chống lại chính quyền cách mạng.
Từ vĩ tuyến 16 trở vào miền Nam, quân đội Anh đã có mặt, thực chất là để dọn đường, tạo điều kiện cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Đông Dương. Quân đội Anh cấm báo chí không được xuất bản và thiết quân luật, ai trái lệnh sẽ bị xử tử, yêu cầu Ủy ban nhân dân Nam Bộ kê khai quân số lực lượng vũ trang. Quân đội Anh dung túng cho tàn quân Nhật chờ giải giáp đang còn lại ở miền Nam cầm súng chống lại lực lượng vũ trang cách mạng. Quân Nhật chiếm các trại giam, thả những binh lính Pháp bị bắt giữ hồi Tổng khởi nghĩa (tháng 9-1945), thả 1.500 lính Pháp bị Nhật giam giữ trong đêm Nhật đảo chính, trang bị lại vũ khí cho lực lượng này.
Về phía Pháp, ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng quân đội Đồng minh, Chính phủ Đờ Gôn đã cử một đạo quân do tướng Lơcléc chỉ huy sang Đông Dương; đồng thời, cử Đô đốc Đácgiăngliơ sang làm Cao ủy Pháp ở Đông Dương với sứ mệnh "khôi phục lại chủ quyền của Pháp trên lãnh thổ Liên bang Đông Dương. Tướng chỉ huy tối cao của các lực lượng quân sự tại Viễn Đông chịu trách nhiệm dưới quyền Cao ủy, thi hành mọi biện pháp quân sự cần thiết nhằm khôi phục chủ quyền đó"1 (Ph. Devillers, Pari - Sài Gòn - Hà Nội, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993 tr. 131). Một trong những bước đi đầu tiên nhằm thực hiện "sứ mệnh" nói trên là ngay trong ngày 2 tháng 9 năm 1945, khi nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn đang tổ chức mít tinh chào mừng ngày độc lập, quân đội Pháp nấp trong Nhà Thờ lớn đã xả súng bắn vào quần chúng, làm 47 người chết, nhiều người bị thương. Mặc dù gặp nhiều khó khăn sau chiến tranh, song được Anh và đế quốc Mỹ giúp sức, thực dân Pháp không từ bỏ mục tiêu quay trở lại Đông Dương. Vào 0 giờ ngày 23 tháng 9 năm 1945, được sự hỗ trợ của quân đội Anh, thực dân Pháp nổ súng tiến công Sài Gòn mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Từ Sài Gòn, quân đội Pháp tiến đánh nhiều địa điểm khác nhau, mở rộng hoạt động quân sự ra các tỉnh ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Tình huống trực tiếp có chiến tranh đã xảy ra, nền độc lập của dân tộc Việt Nam vừa mới giành được có nguy cơ bị thủ tiêu.
Trong khi đó, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời chưa được nước nào trên thế giới công nhận. Chính quyền nhân dân mới thành lập chưa được kiện toàn, chính quyền đó vừa mới ra đời nên khả năng quản lý, điều hành còn hạn chế. Thậm chí ở một số nơi, chính quyền chưa hoàn toàn nằm trong tay những người cách mạng; ở một số địa phương, cơ cấu tổ chức chính quyền không hợp lý dẫn đến tình trạng bao biện, nảy sinh mâu thuẫn, chồng chéo giữa các cơ quan, các cấp. Cơ cấu quản lý cán bộ còn lỏng lẻo, thiếu giám sát đối với công tác cán bộ nên ở một số nơi, lực lượng chống phá cách mạng đã chui được vào các tổ chức đảng, chính quyền. Bên cạnh đó, nền kinh tế Việt Nam cũng ở trong tình trạng hết sức khó khăn. Ách áp bức phong kiến cùng chính sách vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật khiến nền kinh tế quốc dân lâm vào tình trạng suy sụp thảm hại. Nền kinh tế ấy vốn nghèo nàn, lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề cộng với nạn lụt lớn vào tháng 8 năm 1945 làm đê chín tỉnh đồng bằng Bắc Bộ bị vỡ, khiến cho mùa màng bị thất bát trầm trọng, 35 vạn hécta ruộng bị ngập lụt. Chín tỉnh Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hải Dương, Thái Bình bị mất mùa nặng. Ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mất mùa tới 50%. Sau lụt lớn là hạn hán kéo dài làm cho nhiều diện tích đất canh tác phải bỏ hoang, diện tích cấy trồng và sản lượng đều giảm sút. Ở 15 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, diện tích trồng cấy vụ mùa năm 1945 chỉ đạt 540.000ha (vụ mùa năm 1944 là 967.000ha), còn số ruộng bị bỏ hoang không cày cấy được vì ngập lụt, thiếu nhân công, thiếu giống là khoảng 265.000ha. Vụ mùa năm 1944, miền Bắc thu được 832.000 tấn thóc, cả năm 1945 chỉ thu được 500.000 tấn1 (Báo Sự thật, ngày 12 tháng 12 năm 1945). Nhân dân Việt Nam vừa trải qua nạn đói khủng khiếp, chỉ trong vòng ba tháng giữa năm 1945, hơn hai triệu đồng bào (gần 1/10 dân số) đã chết vì đói và dịch bệnh, sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp vốn nhỏ bé, kiệt quệ nay càng trở nên đình đốn khiến hàng vạn công nhân không có việc làm. Tình trạng đó dẫn đến hàng hoá trên thị trường ngày càng khan hiếm, giá cả tăng vọt làm đời sống nhân dân gặp muôn vàn khó khăn. Đất nước tuy mới giành được độc lập, nhưng Chính phủ mới lại không kiểm soát được Ngân hàng Đông Dương, nên vấn đề tài chính lúc này rất khó khăn. Ngân sách Trung ương chỉ có 1.230.000 đồng bạc Đông Dương mà gần một nửa rách nát không thể lưu hành, ở miền Bắc, binh lính quân đội Tưởng Giói Thạch mang đồng Quan kim ra tiêu trên thị trường làm phá giá đồng Đông Dương vốn đã mất giá trị, khiến nền tài chính thêm rối loạn. | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Liên Xô ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến 1945-1975« Trả lời #5 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2023, 11:34:17 am » | Về văn hóa - xã hội, những tồn dư văn hoá của xã hội cũ như hơn 90% dân số không biết chữ, các tệ nạn xã hội rượu chè, cờ bạc, nghiện hút... còn phổ biến đang là một trở lực lớn đối với chính thể dân chủ cộng hòa còn non trẻ. Về giáo dục, số người được đi học các bậc học tiểu học, trung học và cao đẳng rất ít ỏi. Trong hai năm (1936 - 1937), cả ba kỳ Bắc, Trung, Nam bình quân ba làng có một lớp sơ học và chỉ có 2% dân số đến trường sơ học - bậc học phát triển nhất dưới chế độ thực dân Pháp, ở bậc tiểu học, trong toàn quốc chỉ có 638 trường (kể cả trường tư), bình quân 34 làng và 29.239 người mới có một trường và chỉ có 0,4% dân cư theo học ở bậc học này. Đối với bậc tiểu học, bình quân cứ 1.170.000 người dân mới có một trường và chỉ có 0,05 dân số học ở các trường này, còn ở bậc trung học, số người Việt Nam theo học chỉ chiếm tỷ lệ 0,009% so với dân số1 (Hội truyền bá quốc ngữ (1938 - 1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1984, tr. 11-12).
Quân đội quốc gia là lực lượng chủ yếu bảo vệ đất nước lúc này vừa được xây dựng, tổ chức lại. Cán bộ chỉ huy thiếu, đa số chưa trải qua những khóa huấn luyện quân sự, đào tạo cơ bản; chỉ một số ít được học trong các trường võ bị của thực dân Pháp và của Trung Hoa dân quốc. Vũ khí, trang bị cho quân đội vừa thiếu nhiều, vừa rất lạc hậu. Kinh nghiệm chiến đấu của lực lượng vũ trang chưa có bao nhiêu lại phải đối đầu với các đạo quân xâm lược nhà nghề. Như thế, Nhà nước Việt Nam độc lập vừa mới ra đời đã phải đối mặt với những thách thức tồn vong, ở trong tình thế "không đồng minh, không tiền và hầu như không có vũ khí".
Mặc dù vận mệnh dân tộc lúc này lâm vào tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", nhưng với lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, nhân dân ta ra sức ủng hộ Chính phủ, ủng hộ cách mạng; toàn dân, toàn quân luôn kề vai sát cánh bên nhau quyết tâm chống lại mọi kẻ thù. Ý thức tự hào dân tộc và mơ ước được sống trong chế độ xã hội mới tốt đẹp hơn đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy sự đoàn kết của các tầng lớp nhân dân nhằm bảo vệ chính quyền cách mạng, giữ vững nền độc lập, tự do của nước nhà. Khắp nơi trên cả nước, các hoạt động, phong trào thi đua yêu nước, ủng hộ Chính phủ thu hút được đông đảo tầng lớp nhân dân, mọi lứa tuổi, mọi thành phần, tôn giáo tham gia. Trong đó, giai cấp- công nhân, nông dân là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong xây dựng tiềm lực mọi mặt của đất nước. Nhiều công chức trong chế độ cũ đã tự nguyện xin tham gia phục vụ chính quyền cách mạng. Đồng bào ở nước ngoài đều mở nhiều hoạt động quyên góp, ủng hộ chính quyền nhân dân trong nước. Chính quyền đó do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo - một chính Đảng trải qua quá trình hoạt động, đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu, là nhân tố quyết định đưa đến cuộc vận động giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Thêm nữa, sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam luôn có sự gắn bó với sự nghiệp kháng chiến của nhân dân hai nước anh em Lào, Campuchia chống lại kẻ thù chung. Liên minh đoàn kết chiến đấu của ba nước Đông Dương là nhân tố quan trọng góp phần vào sự thành công của cách mạng ba nước nói chung, của Việt Nam nói riêng.
"Đồng cam cộng khổ" với đồng bào Nam Bộ, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát động phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến. Ngày 26 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: "Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ... Thà chết tự do hơn sống nô lệ"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 28). Hưởng ứng lời kêu gọi hàng vạn thanh niên miền Bắc hăng hái lên đường nhập ngũ. Nhân dân miền Bắc tổ chức vận động quyên góp tiền bạc, quần áo, thuốc men... ủng hộ đồng bào Nam Bộ.
Ở miền Bắc, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương hoà hoãn với lực lượng của Tưởng Giới Thạch, tránh cùng một lúc phải đương đầu với nhiều kẻ thù. Để hạn chế sự chống phá của quân đội Trung Hoa dân quốc, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương "hòa để tiến", nhượng bộ một số quyền lợi. Bên cạnh đó, Đảng, Chính phủ tổ chức các cuộc mít tinh, tuần hành, tập hợp hàng nghìn người biểu dương lực lượng, nêu cao các khẩu hiệu: "Nước Việt Nam của người Việt Nam!", "ủng hộ Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà!", "Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh!’’... Đảng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên truyền, tổ chức, phát động các đoàn thể cứu quốc, các giai cấp, tầng lớp, các đảng phái, dân tộc, tôn giáo, các cá nhân... yêu nước tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ.
Sau hơn sáu tháng tích cực đấu tranh bảo tồn nền độc lập quý báu vừa mới giành được, nhân dân Việt Nam lại đứng trước những thử thách mới. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết tại Trùng Khánh. Hai nước lớn đã mua bán, trao đổi lợi ích, tiến hành điều đình, thoả hiệp để đưa quân đội Pháp hợp pháp ra miền Bắc Việt Nam, "bắt nhân dân Việt Nam nhắm mắt nuốt chửng Hiệp ước Hoa - Pháp"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 8, Nxb Chính tri quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 42). Trước thoả hiệp giữa Trung Hoa dân quốc và và nước Pháp, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định chủ động đàm phán ngay với thực dân Pháp để nhanh chóng đẩy 20 vạn binh lính của quân đội Trung Hoa dân quốc về nước; đồng thời, tranh thủ thời gian để chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho cuộc kháng chiến với thực dân Pháp sau này. Thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ2 (Theo bàn Hiệp định, Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng nằm trong khối Liên hiệp Pháp; Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế 20 vạn binh lính của quân đội Trung Hoa dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, số quân này sẽ rút dần về nước trong thời hạn 5 năm; hai bên thực hiện lệnh ngừng bắn ngay ở Nam Bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đàm phán chính thức giữa các bên ở Pari). "Nếu có lợi cho cách mạng, thì dù có phải thỏa hiệp với bọn kẻ cướp, chúng ta cũng thỏa hiệp"3 (V. I. Lênin, Toàn lập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977. tr. 24) - trên tinh thần ấy, Hiệp định sơ bộ 6-3 là một mẫu mực về sự thoả hiệp có nguyên tắc để phá thế bế tắc, vượt qua khó khăn, lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước lớn cũng như mâu thuẫn nội bộ của mỗi lực lượng có mặt tại Việt Nam, tạo những điều kiện thuận lợi nhằm đạt tới mục tiêu đã định, hướng tới độc lập, tự do thống nhất thực sự.
Trong khi đó, tại Đông Dương, quân đội Pháp tăng cường các hoạt động khiêu khích, quan hệ Việt - Pháp căng thẳng. Để có thêm thời gian hoà bình xây dựng lực lượng, chuẩn bị tiềm lực mọi mặt cho cuộc kháng chiến, ngày 14 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục ký với Chính phủ Pháp Bản tạm ước, nhượng bộ thêm cho thực dân Pháp một số quyền lợi ở Việt Nam. | |
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory Moderator  Bài viết: 2636  | 
| Liên Xô ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến 1945-1975« Trả lời #6 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2023, 11:35:18 am » | Tranh thủ thời gian hoà hoãn, nhân dân Việt Nam ra sức củng cố và phát triển lực lượng về mọi mặt. Nhằm củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, xây dựng nền móng của chế độ mới, ngay sau khi ra đời, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã công bố lệnh Tổng tuyển cử trong cả nước; ban hành sắc lệnh thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp (ngày 20-9-1945). Ngày 6 tháng 1 năm 1946, hơn 90% cử tri trong cả nước nô nức đi bầu những đại biếu ưu tú vào Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. Sau ngày bầu cử Quốc hội, các địa phương từ tỉnh đến xã ở Bắc Bộ và Trung Bộ đều tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, lập ra bộ máy chính quyền. Ngày 9 tháng 11 năm 1946, Quốc hội chính thức thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thực hiện chủ trương không ngừng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tháng 5 năm 1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) được thành lập nhằm đoàn kết rộng rãi các tổ chức, các đảng phái, cá nhân chưa tham gia Mặt trận Việt Minh, đánh dấu bước phát triển mới của quá trình xây dựng khôi đoàn kết toàn dân tộc.
Sau khi ký Hiệp định sơ bộ 6-3 và Bản tạm ước 14-9 thực dân Pháp có nhiều hành động gây hấn1 (Ngày 20 tháng 11 năm 1946, quân Pháp cố ý tranh giành quyền thu thuế quan ở cảng Hải Phòng và gây xung đột với lực lượng vũ trang cách mạng. Ngày 24 tháng 11, thực dân Pháp ngang nhiên cho quân đội bắn đại bác vào Hải Phòng để khiêu chiến. Ngày 27 tháng 11 năm 1946, quân Pháp chính thức nhận lệnh đánh chiếm Hải Phòng). Trước hành động đó, Nhà nước Việt Nam yêu cầu thực dân Pháp tôn trọng những điều đã ký kết, kêu gọi tiến hành các cuộc tiếp xúc, đàm phán nhằm giải quyết các tranh chấp. Đáp lại thiện chí của Việt Nam, thực dân Pháp vẫn làm ngơ và tăng cường khiêu khích2 (Trong tháng 12 năm 1946, quân Pháp liên tiếp gây xung đột với lực lượng vũ trang cách mạng. Ngày 17 tháng 12 năm 1946, quân Pháp đã bắn đại bác và súng cối vào khu phố Hàng Bún, cho quân chiếm trụ sở Bộ Tài chính và một số cơ quan trong thành phố. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, thực dân Pháp đã gửi tối hậu thư cho Chính phủ Việt Nam, yêu cầu giải tán lực lượng vũ trang và giao quyền kiểm soát Thủ đô cho chúng). Trước tình hình đó, ngày 19 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị, quyết định phát động toàn quốc kháng chiến. Ngay trong đêm 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.
Tiến hành kháng chiến, nhằm tăng cường thực lực, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, Đảng, Nhà nước Việt Nam tích cực tiến hành các hoạt động đối ngoại. Nhận thức mục tiêu, kết quả của hoạt động đối ngoại phải phục vụ trực tiếp cho đất nước, nhất là cho những vấn đề mang tính cấp bách, số 1 - vấn đề chính quyền, Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương: "Củng cố chính quyền, dùng chính trị, ngoại giao, vũ khí cần thiết, đến dùng quân sự để giữ vững nền độc lập"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 8, Sđd, tr. 6). Trên quan điểm đó, về ngoại giao, Chính phủ Hồ Chí Minh đặt nhiệm vụ từng bước xác lập các mối quan hệ với bên ngoài, tiến tới ngoại giao chính thức với các quốc gia khác, tìm kiếm sự ủng hộ và thừa nhận quốc tế.
Hiện thực hóa chủ trương trên, ngày 3 tháng 10 năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chính thức ra Thông cáo về chính sách ngoại giao, chỉ rõ mục tiêu bất di bất dịch là "đưa nước nhà đến sự độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn"2 (Thông cáo về chính sách ngoại giao của Chính phủ làm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Báo Cứu quốc, ngày 3 tháng 10 năm 1945, tr.1). Thông cáo nêu rõ: Nước Việt Nam còn đang ở trong giai đoạn tranh đấu kịch liệt nên "chính sách ngoại giao phải có mục đích cốt yếu là giúp cho sự tranh đấu ấy được thắng lợi bằng mọi phương pháp êm dịu hay cương quyết tùy theo thái độ của các liệt quốc, nhưng bao giờ cũng lấy nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương làm nền tảng"3 (Thông cáo về chính sách ngoại giao của Chính phủ làm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Báo Cứu quốc, ngày 3 tháng 10 năm 1945, tr.1). Ngày 6 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Chí Minh đã họp báo, giải thích thêm về chính sách ngoại giao của Chính phủ Việt Nam đối với Mỹ, Trung Hoa và nhất là với thực dân Pháp. Chính sách ngoại giao của Chính phủ được công bố thể hiện một cách nhìn rộng mở trong quan hệ quốc tế kiểu mới, mang tầm nhìn chiến lược, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và sự thay đổi cơ bản có tính toàn cầu sau chiến tranh thế giới thứ hai cũng như quan hệ với các nước trong khu vực và các nước láng giềng đang phấn đấu vì độc lập, tự do. Trên cơ sở xác định chính sách ngoại giao, Chính phủ lâm thời đã tiến hành các hoạt động thiết lập mối quan hệ ngoại giao với đại diện các nước ở Việt Nam, các tổ chức quốc tế nhằm xác lập vị thế và chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính phủ Hồ Chí Minh đã khai thác triệt để các cam kết của Đồng Minh đã nêu ra trong Hiến chương Đại Tây Dương (tháng 8-1941), Hội nghị Têhêran (tháng 12-1943) và Hiến chương Liên Hợp Quốc (tháng 6-1945).
Liên Xô là một ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Chính phủ Việt Nam cũng đã tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô bằng cách thông qua các điện, thư, công hàm chung gửi đến chính phủ các nước Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Hoa dân quốc. Trong các công hàm gửi đến các cường quốc đó, Chính phủ Việt Nam đã lên án sự xâm lược của thực dân Pháp và đề nghị các cường quốc, trong đó có Liên Xô, đưa vấn đề Việt Nam ra thảo luận ở Liên Hợp Quốc.
Đối với các hoạt động quân sự, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng chỉ huy, nhân dân Việt Nam đã đứng lên đồng loạt nổ súng. Cuộc chiến đấu lúc này chủ yếu ở các thành phố, thị xã. Tiêu biểu là cuộc chiến đấu của quân và dân tại Thủ đô Hà Nội trong 60 ngày đêm. Quân Pháp ở Hà Nội có 6.500 tên, ngoài ra còn có khoảng 13.000 Pháp kiều (số đông được trang bị vũ khí), về lực lượng vũ trang cách mạng gồm năm tiểu đoàn bộ binh, tám trung đội công an xung phong; lực lượng tự vệ nội, ngoại thành khoảng 28.500 người và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia kháng chiến đánh địch. Quân đội cách mạng chiến đấu dũng cảm, kiên cường bám trụ giành giật từng căn nhà, từng góc phố. Những trận đánh diễn ra ác liệt tại chợ Đồng Xuân, Bắc Bộ phủ, nhà bưu điện. Nhân dân đã dựng nhiều chướng ngại vật trên đường phố vừa tham gia đánh địch, vừa phục vụ chiến đấu. Đến ngày 17 tháng 2 năm 1947, sau gần hai tháng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, giam chân địch trong thành phố, lực lượng vũ trang cách mạng đã rút ra khỏi thành phố, diệt trên 500 tên địch, phá huỷ 30 xe cơ giới. Đến tháng 2 năm 1947, thực dân Pháp tăng viện và tiến hành giải toả. Quân đội nhân dân Việt Nam đã rút ra ngoại thành để chuyển sang một giai đoạn chiến đấu mới. | |
|
|