Mẹ Việt Nam Anh hùng

LIỆT SĨ CHU SỸ CHỈNH

Tác giả kể lại câu chuyện về một người liệt sĩ cũng chính là người bác ruột của tác giả

Thái Nguyên17/07/2026CHU THỊ TRÀ (TRƯỜNG TH&THCS BÌNH YÊN)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
BÀI DỰ THI: CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬAHọ và tên: Chu Thị TràChức vụ: Giáo viênĐơn vị: Trường TH&THCS Bình Yên, Xã Bình Yên, Tỉnh Thái NguyênĐỂ TÊN BÁC CÒN MÃI…

"Có những người chỉ sống hơn hai mươi năm ngắn ngủi, nhưng sự hy sinh của họ lại được nhắc nhớ qua nhiều thế hệ. Có những người thân chưa từng một lần gặp mặt, nhưng tình cảm dành cho họ vẫn lớn dần theo năm tháng. Bác tôi là một người như thế..."

Giữa những hàng mộ trắng nằm yên dưới hàng thông xanh của Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn.

Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn

Có một tấm bia khắc những dòng chữ:

Liệt sĩ: Chu Sỹ Chỉnh
Sinh năm: 1947
Nguyên quán: Điềm Mặc, Định Hóa, Thái Nguyên
Nhập ngũ: 11/1966
Cấp bậc: Thượng sĩ
Chức vụ: A trưởng
Đơn vị: F250
Hy sinh: 20/3/1973
Phần mộ liệt sĩ Chu Sỹ Chỉnh tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị

Đó là bác ruột của tôi – người mà tôi chưa từng được gặp, bởi lẽ khi bác hi sinh tôi còn chưa chào đời. Chiến tranh đã lấy đi tuổi trẻ của bác, và thời gian cũng mang theo cả những kỷ vật còn sót lại. Gia đình tôi cũng không còn lưu giữ được bất kỳ bức ảnh nào của bác. Hình dung của tôi về bác chỉ được ghép lại từ những câu chuyện qua lời kể của bà nội, của những người thân trong gia đình, từ tấm bia mộ nơi Nghĩa trang Trường Sơn và từ niềm tự hào lặng lẽ mà cả gia đình vẫn luôn gìn giữ. Vì thế, suốt nhiều năm, trong trí tưởng tượng của tôi, bác chỉ hiện lên qua những lời kể: Một người bác cả hiền lành, sống trách nhiệm, yêu thương gia đình và sẵn sàng lên đường khi Tổ quốc cần.

Có lẽ vì chưa từng được nhìn thấy gương mặt bác, nên trong lòng tôi luôn tồn tại một khoảng trống. Tôi luôn tự hỏi bác có khuôn mặt giống bố không? Bác cười như thế nào? Giọng nói ra sao? Nếu còn sống, hôm nay bác sẽ kể gì cho con cháu nghe về những năm tháng chiến tranh? Những câu hỏi ấy mãi không có lời đáp.

Cho đến một ngày, em gái tôi thay mặt gia đình vào Quảng Trị, đến Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn thăm bác và gửi những bức ảnh về. Khi nhìn thấy tấm bia mang tên bác giữa hàng ngàn ngôi mộ liệt sĩ, tôi đã lặng người rất lâu. Dù chưa từng được gặp, tôi vẫn cảm thấy như mình vừa tìm lại được một phần ký ức của chính gia đình mình.

Danh sách các liệt sĩ tỉnh Thái Nguyên – Bắc Kạn tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn.

Nhìn dòng chữ khắc trên tấm bia đá, tôi hiểu rằng điều còn lại sau chiến tranh không chỉ là tên tuổi của một người liệt sĩ, mà còn là ký ức của cả một gia đình. Từ đó, tôi bắt đầu lần giở lại từng câu chuyện bà nội đã kể về người con trai cả – người thanh niên rời quê hương khi tuổi đời còn rất trẻ và mãi mãi không trở về. Qua lời kể của bà, tôi dần hiểu rằng phía sau sự hy sinh của một người lính là biết bao cuộc đời đã lặng lẽ đi qua trong chờ đợi, nhớ thương và mất mát. Viết lại câu chuyện này không chỉ là hành trình tìm về ký ức của gia đình, mà còn là cách tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với bác Chu Sỹ Chỉnh và hàng triệu người lính đã hiến dâng tuổi xuân, máu xương cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc.

Bác tôi - Chu Sỹ Chỉnh, là con trai cả của ông Chu Sỹ Trọng và bà Nguyễn Thị Bậc (Ông bà nội của tôi), quê ở xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên (nay thuộc xã Phú Đình, tỉnh Thái Nguyên).

Ngày ấy, quê hương Điềm Mặc còn nghèo lắm. Cuộc sống của người dân chủ yếu dựa vào nương rẫy, đồng ruộng. Gia đình đông anh em nên người con cả luôn là chỗ dựa của các em, cùng cha mẹ gánh vác nhiều công việc. Trong ngôi nhà nhỏ của ông bà nội, mỗi khi nhắc đến người con trai cả, giọng bà nội tôi lại chậm xuống, ánh mắt như lặng đi giữa những miền ký ức xa xăm.

Bà kể rằng, bác Chỉnh là người hiền lành, chịu khó và rất có trách nhiệm. Trước khi lên đường nhập ngũ, bác đã lập gia đình. Bác gái tôi tên là bác Nuôi. Hai vợ chồng bác ở riêng và dựng một ngôi nhà nhỏ ngay bên cạnh nhà ông bà. Ngôi nhà đơn sơ nhưng chứa đựng bao ước mơ về một mái ấm bình yên. Thế nhưng, hạnh phúc ấy chưa kịp trọn vẹn thì đất nước ta lại bước vào nhưng ngày tháng chiến tranh khốc liệt. Và rồi mọi dự định đều phải gác lại.

Tháng 11 năm 1966, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, bác tạm biệt gia đình, tạm biệt người vợ trẻ để lên đường nhập ngũ. Theo lời bà kể, bác dặn dò bố mẹ giữ gìn sức khoẻ, chăm sóc các em và động viên vợ với niềm tin ngày đất nước hòa bình sẽ trở về đoàn tụ. Ngày bác Chỉnh lên đường nhập ngũ, vợ chồng bác vẫn chưa có con. Căn nhà nhỏ mà hai người cùng vun đắp bỗng trở nên vắng lặng. Chỉ còn bác Nuôi ở lại, mỗi ngày vẫn lặng lẽ chăm lo mái ấm, chờ người chồng nơi chiến trường trở về.

Điều khiến tôi rất xúc động là câu chuyện bà kể khi bác Chỉnh đang chiến đấu nơi chiến trường. Ở quê nhà Điềm Mặc, cuộc sống của người dân cũng chưa một ngày thực sự bình yên. Dù Điềm Mặc không phải là địa bàn bị ném bom trực tiếp nhưng người dân quê tôi vẫn luôn sống trong tâm thế cảnh giác. Mỗi khi tiếng máy bay vọng qua bầu trời hay tiếng còi báo động vang lên, cả xóm lại vội vã tìm nơi trú ẩn. Tiếng máy bay năm ấy không chỉ báo hiệu hiểm nguy, mà còn gợi lên nỗi lo thường trực trong lòng những người đang ngày đêm ngóng tin người thân ngoài mặt trận. Ở một mình trong căn nhà nhỏ, bác Nuôi không khỏi lo sợ mỗi khi nghe tiếng máy bay. Thương con dâu còn quá trẻ, bà nội tôi hầu như đêm nào cũng sang ngủ cùng bác. Hai người phụ nữ, một người mẹ, một người con dâu, chẳng cần nói nhiều, chỉ lặng lẽ ở bên nhau, cùng chờ một lá thư, một tin tức, hay chỉ đơn giản là chờ thêm một ngày bình yên trôi qua. Có lẽ, chính sự lặng lẽ ấy mới là điều khiến chiến tranh trở nên đau đớn nhất.

Bà nội còn nghẹn ngào mỗi khi nhắc về hình ảnh người con dâu cả mỗi khi nghe thấy tiếng còi báo động vang lên lại vội vã ôm đứa em chồng còn nhỏ chạy đến nơi trú ẩn an toàn. Hình ảnh ấy cho thấy bác gái tôi không chỉ là người vợ thủy chung, mà còn là người con dâu hiếu thảo, người chị dâu hết lòng yêu thương các em, điều đó đã in sâu trong ký ức của bà nội và trở thành một kỷ niệm không bao giờ phai. Với tôi hôm nay, đó là một minh chứng rằng sự hy sinh của chiến tranh không chỉ ở nơi tiền tuyến mà còn hiện hữu trong từng mái nhà, từng con người ở hậu phương. Và có lẽ cũng bởi vậy mà dù sau này khi bác trở về quê ngoại sinh sống nhưng tình yêu thương mà cả gia đình dành cho bác vẫn được gìn giữ trong từng câu chuyện kể.

"Có những cuộc chia ly không có ngày hẹn. Nhưng tình nghĩa thì vẫn ở lại, như ngọn lửa âm ỉ cháy trong lòng những người còn sống."

Suốt những năm tháng trong quân ngũ, bác Chỉnh chỉ được trở về thăm gia đình một khoảng thời gian ngắn ngủi vào năm 1969. Đó là khoảng thời gian vô cùng quý giá, khi ông bà nội được gặp lại người con trai cả, các em được quây quần bên người anh thân yêu, còn bác Nuôi được ở bên chồng sau những năm dài chỉ biết gửi gắm tình cảm qua những lá thư. Rồi ngày bác trở lại đơn vị, cả gia đình lại tiễn bác lên đường vẫn với niềm tin hi vọng về một ngày đoàn tụ. Nhưng đến ngày 20 tháng 3 năm 1973, khi tờ giấy báo tử được gửi về nó đã khép lại mọi mong mỏi của gia đình, để lại nỗi đau không gì bù đắp được. Bác đã hi sinh ở tuổi 26, cái tuổi mà với chúng tôi bây giờ là cả bầu trời ước mơ và hoài bão.

Một vài năm sau ngày bác Chỉnh mất, bác Nuôi xin phép ông bà nội tôi được trở về quê ngoại sinh sống. Gia đình không giữ bác ở lại. Bởi ai cũng hiểu rằng người con dâu trẻ ấy còn cả một chặng đường dài phía trước. Thế nhưng, bác chưa bao giờ quên gia đình chồng. Theo lời kể của bà tôi, trong nhiều năm sau đó, bác vẫn thường xuyên viết thư hỏi thăm ông bà và các em. Những lá thư ấy không chỉ mang theo lời hỏi thăm, mà còn là sợi dây nối hai gia đình bằng nghĩa tình sâu nặng. Rồi theo năm tháng...Những lá thư thưa dần. Đến một ngày, gia đình không còn nhận được tin tức của bác nữa. Không ai biết cuộc sống của bác sau này ra sao. Nhưng trong lòng mọi người, bác Nuôi vẫn luôn là một người con của gia đình.

Thời gian trôi qua. Các em của bác lần lượt trưởng thành. Lập gia đình. Sinh con. Trong đó có bố tôi. Bố tôi sinh năm 1970. Khi bác hy sinh, bố mới chỉ khoảng ba tuổi. Chưa một lần gặp người anh trai cả. Có lẽ cũng vì vậy mà mỗi lần kể về bác, bố thường nói: "Bố không được gặp bác...". Câu nói ấy khiến tôi nghẹn lòng. Chiến tranh đã cướp đi cả cơ hội để một người em được lớn lên cùng anh trai của mình. Gia đình tôi cũng không còn giữ được một tấm ảnh nào của bác. Không có bức ảnh cưới. Không có ảnh thời còn trẻ. Không có ảnh quân ngũ. Trong số những kỷ vật thiêng liêng còn được gia đình lưu giữ đến hôm nay, quý giá nhất là Giấy chứng nhận truy tặng Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Nhất của bác. Tờ giấy đã ngả màu theo năm tháng, những nếp gấp hằn sâu bởi thời gian, nhưng từng dòng chữ vẫn còn nguyên vẹn như một minh chứng cho sự hy sinh cao cả của bác. Đó không chỉ là sự ghi nhận của Tổ quốc đối với công lao của một người lính, mà còn là báu vật được gia đình gìn giữ suốt hơn nửa thế kỷ như một phần ký ức không bao giờ phai nhạt.

Giấy chứng nhận truy tặng Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Nhất của liệt sĩ Chu Sỹ Chỉnh (1975)

Tôi sinh năm 1994. Lớn lên trong hòa bình. Khi tôi biết nhận thức về cuộc sống thì chiến tranh đã lùi xa gần hai mươi năm. Với thế hệ của tôi, những mất mát của chiến tranh thường chỉ được biết qua sách giáo khoa, qua những thước phim tư liệu hay qua các câu chuyện của bà. Nhưng với gia đình tôi, chiến tranh không chỉ nằm trong những trang sách. Chiến tranh còn hiện diện bằng chính sự vắng mặt của bác Chỉnh. Tôi chưa từng được gọi hai tiếng "bác ơi". Chưa từng được bác xoa đầu. Chưa từng được nghe bác kể chuyện. Nhưng càng lớn lên, tôi càng hiểu rằng sự bình yên mình đang có hôm nay được đánh đổi bằng máu, bằng tuổi trẻ và bằng cả cuộc đời của biết bao người như bác.

Ông nội tôi – cụ Chu Sỹ Trọng – đã qua đời năm 1994 và cũng là năm tôi chào đời. Gần ba mươi năm sau, vào năm 2022, bà nội tôi – cụ Nguyễn Thị Bậc – cũng đã khép lại một cuộc đời dành trọn tình yêu thương cho gia đình và mang theo nỗi nhớ người con trai cả suốt gần nửa thế kỷ. Tôi tin rằng, ở một nơi rất xa, ông bà đã gặp lại người con trai cả của mình. Có lẽ, đó cũng là cuộc đoàn tụ mà ông bà đã chờ đợi cả cuộc đời.

Có người từng nói: "Một con người chỉ thực sự mất đi khi không còn ai nhắc đến tên họ." Tôi tin điều đó là đúng. Bởi hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, tên bác Chu Sỹ Chỉnh vẫn được nhắc đến với tất cả niềm kính trọng trong những câu chuyện của gia đình, trong ký ức của các thế hệ và trong trái tim của những người con, người cháu hôm nay. Điều còn lại sau chiến tranh không chỉ là một tấm bia đá, một tờ giấy chứng nhận hay một tấm huân chương đã nhuốm màu thời gian, mà còn là tấm gương sáng về lòng yêu nước, về sự hy sinh và trách nhiệm đối với Tổ quốc.

Là một giáo viên Trường TH&THCS Bình Yên, một đoàn viên, một đảng viên đang sống trên chính mảnh đất Điềm Mặc – nơi bác đã sinh ra và lớn lên – tôi càng thấm thía giá trị của hòa bình, của độc lập và của những hy sinh mà thế hệ cha ông đã đánh đổi bằng tuổi xuân, bằng máu và bằng cả cuộc đời để gìn giữ. Tôi hiểu rằng, hôm nay chúng tôi không còn phải cầm súng để bảo vệ Tổ quốc như thế hệ của bác, nhưng mỗi người đều có một cách riêng để cống hiến. Với tôi, đó là cây phấn trắng, là trang giáo án, là từng giờ lên lớp và từng bài học về lòng yêu nước, về truyền thống cách mạng, về đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" được gieo vào tâm hồn học sinh. Tôi mong các em không chỉ học tốt kiến thức mà còn biết yêu quê hương, trân trọng hòa bình, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và đất nước.

Tiết chào cờ của Trường TH&THCS Bình Yên

Ngoài bục giảng, tôi sẽ tiếp tục tích cực tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc các di tích lịch sử cách mạng của địa phương, giáo dục học sinh tìm hiểu lịch sử quê hương, thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ và góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp bằng chính công việc hằng ngày của mình. Tôi tin rằng, đó cũng là một cách để tiếp nối lý tưởng mà thế hệ của bác đã gửi lại.

Trường TH&THCS Bình Yên dâng hương tại Nhà tưởng niệm chủ tịch Hồ Chí Minh (Phú Đình – Thái Nguyên)
Học sinh Trường TH&THCS Bình Yên tại di tích Cục Hậu Cần (Bình Yên – Thái Nguyên)
Trường TH&THCS Bình Yên tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (Hà Nội)
Học sinh Trường TH&THCS Bình Yên chăm sóc đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại địa phương

Hôm nay, khi viết những dòng này, tôi không chỉ muốn lưu giữ ký ức về người bác ruột của mình, mà còn mong ngọn lửa biết ơn ấy sẽ tiếp tục được truyền lại cho các thế hệ mai sau. Để mỗi khi nhắc đến bác Chu Sỹ Chỉnh, chúng tôi không chỉ nhớ về một người đã anh dũng hy sinh, mà còn nhắc nhở chính mình phải sống xứng đáng hơn với những gì thế hệ cha ông đã đánh đổi bằng máu xương để gìn giữ.

Xin được kính cẩn nghiêng mình trước anh linh Liệt sĩ Chu Sỹ Chỉnh – người con ưu tú của quê hương Thái Nguyên, người bác cả của gia đình tôi. Sự hy sinh của bác sẽ mãi là niềm tự hào, là ngọn lửa nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau biết trân trọng hòa bình, sống có trách nhiệm với Tổ quốc và gìn giữ những giá trị tốt đẹp của gia đình, quê hương.

Thay lời tri ân

Cháu của bác…

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn