Liệt sĩ Chu Trí Tấn
Ông Chu Trí Tấn đã bị giặc Pháp sát hại khi vừa 26 tuổi đời, khi đang ở cương vị Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính xã An Khánh, huyện ủy viên huyện Hoài Đức. Vợ ông, bà Nguyễn Thị Quyết, lúc ấy là Chủ tịch Hội Phụ nữ xã An Khánh huyện Hoài Đức, đã từ chối những lời đề nghị "đi bước nữa" của nhiều người, chịu sống cảnh mẹ góa con côi, tần tảo nuôi người con trai duy nhất Chu Trí Thắng từ tuổi lên 2 đến khi thành đạt là một Tiến sĩ, Vụ trưởng Vụ Quan hệ Quốc tế Viện Khoa học và Công nghệ Việt
Trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, địa bàn phía nam huyện Hoài Đức thuộc vùng vành đai phía tây của Hà Nội, tiếp giáp với đường quốc lộ 6 và đường 11A nên có một vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong ý đồ phòng thủ từ xa của thực dân Pháp.Từ thị xã Hà Đông ngày đó, giặc Pháp và tay sai mở tuyến tiếp vận theo đường tỉnh lộ 72 về đê Thanh Quang để thành lập tuyến phòng thủ sông Đáy (còn gọi là Tuyến phòng thủ III) bảo vệ vùng cửa ngõ phía tây Hà Nội.Theo tuyến đường này, trong suốt 9 năm kháng chiến chông Pháp, địch đã mở nhiều cuộc càn quét nhằm tìm diệt cán bộ và du kích Việt Minh. Chúng thiết lập một hệ thống đồn bốt liên hoàn dọc tuyến đường này, dựng lên chính quyền tề ngụy tay sai cùng với các toán lính ác ôn gầy ra nhiều tội ác với nhân dân và cách mạng.An Khánh ngày đó có tên gọi là tổng Yên Lũng thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Sau đó, tổng Yên Lũng được sáp nhập với tổng Thượng Ốc thành một xã lớn đặt tên là xã An Thượng, với tên gọi lịch sử là Liên xã An Khánh - An Thượng, gồm tổng cộng 10 làng.Cụ thân sinh ra ông là cụ Chu Trí Dần, một nhà nho hay chữ có gian nhà nằm sát vệ đường cái nên gia đình cụ thuộc hàng sung túc trong làng, có của ăn của để. Trên mảnh đất tổ tiên để lại, cụ xây được một căn nhà theo kiến trúc của những gia đình nho giáo truyền thống ở vùng quê đồng bằng Bắc Bộ thời đó. Năm 1921, người vợ của cụ Dần qua đời để lại cho cụ một cậu con trai mới 8 tuổi, Chu Trí Nghĩa. Thời gian sau, cụ Dần lấy cụ Nguyễn Thị Lộc, một gia đình nhà nho người ở thôn Phú Vinh và một năm sau cụ Lộc sinh ra Chu Trí Tấn, người con đẻ duy nhất của hai cụ.
Năm 1927, cụ Chu Trí Dần qua đời. Cụ bà Nguyễn Thị Lộc một tay chăm lo cho hai anh em Nghĩa, Tấn, sớm tối cùng nhau học hành nên người để giữ lấy truyền thống nho giáo và nền nếp gia phong của gia đình. Mồ côi cha từ năm hai tuổi, Chu Trí Tấn lớn lên trong sự thiếu thốn tình cảm và sự quan tâm chăm sóc của người cha. Bù lại, anh nghe lời mẹ nên cố học cho thành tài và cũng để nối tiếp truyền thống của tổ tiên dòng họ Chu, những người đã đến khai hoang lập ấp ở nơi này từ thời Hậu Lê. Ngày đó, Ngãi Cầu được đặt tên là Nghĩa Kiều Trang, thôn Bạc thuộc Sơn Tây Trấn.
Để nối nghiệp tổ tiên, mẹ anh để anh ở nhà học chữ Nho rồi sau xin cho anh vào học trường tiểu học đầu tiên của xã An Khánh được lập ra bên cạnh đình Ngãi Cầu.
Trường tiểu học sơ học Pháp - Việt đầu tiên của xã An Khánh được lập ra bên cạnh đình làng Ngãi Cầu, mở ra được vài năm thì cũng đến tuổi ông Tấn đi học. Trước khi vào học lớp tiểu học ở trường làng Ngãi Cầu, mẹ ông gửi ông đi học chữ Nho ở nhà ông giáo Duật hai năm. Là góa phụ, năm đó mẹ ông phải mướn người cắp tráp mang theo một mâm xôi gà, dắt ông lên đình có lời xin phép với làng rồi ông mới được theo học.
Ông thi lấy bằng Sơ học yếu lược ở trường làng rồi học tiếp lên lớp Nhì, rồi lớp Nhất ở trường Phủ Hoài Đức. Năm 15 tuổi, ông lên Hà Nội thi tốt nghiệp, qua được vòng thi vấn đáp với giáo viên người Pháp và lấy được bằng Tiểu học yếu lược Xéc-ti-phi-ca (Certificat). Ngày đó ở thị xã Hà Đông đã có một sô' trường tư thục dạy bổ túc hướng nghiệp do Giáo hội Thiên Chúa giáo xây dựng. Xuất thân nho giáo từ một làng quê thuần nông theo đạo Phật nên ông không lên Hà Đông học mà quyết định theo học lớp sư phạm bổ túc trong trường công ở Đại Mỗ, định rằng sau này sẽ về làng mở lớp làm một ông giáo dạy các lớp sơ học.
Một năm sau, ông khăn gói đến xã Đại Mỗ chuẩn bị học tiếp lớp sư phạm bổ túc. Chuẩn bị ghi danh nhập học thì ông được một bà cô ruột lấy chồng ở làng La Phù giới thiệu về một xưởng dệt lớn nhất nhì làng Vạn Phúc thời đó để trông coi và tập làm kế toán, ghi chép sổ sách thu chi cho dần biết việc. Khi đó, phát xít Nhật đã nhảy vào Đông Dương nên nghề dệt ở làng Vạn Phúc, sau một thời gian bị đình đốn kể từ khi Đại chiến thế giối thứ hai nổ ra đến lúc này đã dần khôi phục lại. Ngày đó, đại bộ phận thợ thủ công làm thuê ở khu vực thị xã Hà Đông đều quê ở Hoài Đức. Làng Vạn Phúc thời kỳ phồn vinh nhất có tới 1.500 khung dệt.
Từ năm 1938, Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã được thành lập ở Vạn Phúc. Đây cũng là cái nôi của phong trào cách mạng ở phủ Hoài Đức ngày đó. Điển hình là cuộc biểu dương lực lượng của hơn 200 thợ thủ công và quần chúng nhân dân đòi "giảm sưu - hoãn thuế" ngày 7 tháng 2 năm 1937; phá tan âm mưu của tên Hoàng Trọng Phu (tổng đốc Hà Đông) đưa tên Đại sứ đặc nhiệm Xu-tin Gô-đa (Justin Godart), phái viên của Chính phủ mặt trận nhân dân Pháp về thăm làng Vạn Phúc. Cuộc biểu tình tháng 6 năm 1939 tại làng Vạn Phúc có tới 3.000 người tham gia phản đối bọn hào lý định đem bán số đất công của làng. Ngày 12 tháng 7 năm 1939, tên quan Pháp Cút-xô (Cousseau), giám đốc Sở địa chính Bắc Kỳ cùng chính quyền tay sai tỉnh Hà Đông về Vạn Phúc để thu hồi đinh điền (ruộng công cấp cho các xuất đinh) theo cái chính sách gọi là "Quản thủ điền thổ". Chúng gặp cuộc biểu tình gồm hơn 3.000 dân làng Vạn Phúc và rất nhiều thợ dệt thuê từ nơi khác kéo đến nên đành phải chịu thua bỏ về.
Một ngày hè năm 1942, Chu Trí Tấn được nghỉ học về làng vài ngày trong dịp chuẩn bị vào vụ mùa sau ngày giáp hạt. Vừa về đến đầu làng, ông thấy người dân đi làm đồng về lao xao rằng có mấy ông thầy Đội ở tỉnh về mới bắt được vụ in báo lậu ở bên xã An Thọ. Hôm sau đem chuyện kể với một người trong họ là ông Chu Trí Xiển, ông Tấn được ông Xiển giải thích cho hiểu báo Sao Vàng là gì, Mặt trận Việt Minh với chủ trương đánh Pháp đuổi Nhật ra sao...
Được giác ngộ tư tưởng cách mạng, ông như được cởi tấm lòng nung nấu bây lâu nay. Ông cùng ông Xiển liên kết một số anh em có chung bầu nhiệt huyết yêu nước ở Ngãi Cầu thành lập Hội Thanh niên Cứu quốc của xã.
Đây chính là đoàn thể yêu nước đầu tiên của xã Ngãi Cầu trực thuộc Mặt trận Việt Minh vùng La - Mỗ (La Khê, La Cả và Tây Mỗ, Đại Mỗ).
Hai ông trực tiếp nhận sự chỉ đạo của Mặt trận Việt Minh qua đồng chí ứng ở La Nội và đồng chí Đoàn Hưng Nông. Vốn là người cao to, lại biết chút ít võ nghệ và mê cung kiếm từ bé, ông Tấn được giao chỉ đạo anh em tập luyện võ nghệ, bàn bạc những vấn đề sơ khai về quân sự. Đây chính là tiền thân của Đội tự vệ cứu quốc đầu tiên tại Ngãi Cầu dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Mặt trận Việt Minh những ngày tiền khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945. Ông Xiển được giao phụ trách về mảng tư tưởng, dạy bảo anh em biết về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông.
Ngày 27 tháng 5 năm 1942, được chỉ điểm báo tin, bọn mật thám của Pháp từ Hà Nội đã ập vào phá vỡ cơ sở in báo Sao Vàng của Tỉnh ủy Hà Đông đặt ở xã An Thọ, bắt đồng chí Nguyễn Văn Thêm là Tỉnh ủy viên phụ trách cơ sở in báo1 (Tư liệu lịch sử của xã An Khánh (Chu Trí Xiển, Chu Công Thau, Chu Danh Bích).
Có được cơ sở đầu tiên tại Ngãi Cầu, Mặt trận Việt Minh giao cho hai ông làm nhiệm vụ cảnh giới và bố trí địa điểm để một đồng chí ở trên về diễn thuyết cho bà con trong làng. Ngay mùa thu năm đó, buổi sáng chợ phiên Ngãi Cầu bỗng xuất hiện một lá cờ đỏ búa liềm treo trên đầu cổng Tam quan chùa Phổ Quang (chùa Ngãi Cầu). Một người đứng lên diễn thuyết kêu gọi bà con đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật, ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Ở hai bên vệ đường đối diện nhau, ông Xiển và ông Tấn mỗi người đứng một đầu: ông Tấn đứng canh ở cửa Quán Ngãi Cầu, ông Xiển đứng đối diện. Thấy đám đông tụ dưới lá cờ đỏ búa liềm, lính trương tuần liền chạy tới. Hai ông làm động tác ra hiệu cho đồng chí tuyên truyền viên rút lui, luồn qua lùm cây um tùm nơi vườn chùa rồi chạy về phía cánh đồng Thượng Ốc an toàn. Buổi diễn thuyết tuy chỉ chớp nhoáng nhưng đã khiến dân làng khắp hang cùng ngõ hẻm bàn tán xôn xao. Hầu hết người dân khi đó còn chưa hiểu thế nào là Việt Minh. Họ còn phải lo cho cái ăn cái mặc trong thời buổi khó khăn vận hạn của đất nước như thế này, khi mà quê hương đang còn phải chịu ách "một cổ ba tròng": thực dân Pháp, phát xít Nhật và bọn địa chủ phong kiến. Nhưng chừng ấy cũng đủ làm người dân trong xã trông mong vào một cuộc vật đổi sao rời.
Tháng Chạp năm 1942, qua mai mối theo đúng tục lệ làng quê Bắc Bộ thời đó, ông Chu Trí Tấn kết hôn với bà Nguyễn Thị Quyết người thôn Phú Vinh xã An Khánh, cùng thôn với cụ Lộc mẹ ông. Bà Quyết sinh ra trong một gia đình nhà nho truyền thống hiếu học có tiếng trong vùng. Cụ thân sinh ra bà là cụ Nguyễn Ngọc Anh, làm nghề bốc thuốc bắc trị bệnh cứu người. Sau lễ bái tơ hồng thành gia lập thất, hai vợ chồng ông ở cùng với vợ chồng người anh là ông Chu Trí Nghĩa. Cưới xong, ông định ra Giêng sang năm sẽ đem vợ lên Vạn Phúc làm cùng.
Nhưng rồi một biến cố đột ngột đã lái số phận hai vợ chồng ông theo hướng khác. Tại hội làng Đông Lao vào rằm tháng Giêng năm 1943, ông Tấn cùng ông Xiển và một vài anh em khác trong Hội Thanh niên cứu quốc của xã là ông Chu Trí Lưu, ông Chu Trí Phượng, ông Bùi Hữu Hòa, ông Chu Công Lục tìm cách vận động bà con chống sưu cao thuế nặng. Hương lý của làng Đông Lao tố cáo; các ông bị tên tri huyện Dương Kỳ Xương bắt giam tại nhà lao phủ Hoài Đức gần một tháng. Không có chứng cớ rõ ràng, hắn cảnh cáo các ông rồi thả cho về. Sau đó, ông bị chủ xưởng dệt bắt thôi việc, ông có ý định về hẳn nơi chôn rau cắt rốn để làm ăn sinh sống.
Bước vào năm 1943, ruộng đồng bắt đầu bị phát xít Nhật bắt nhổ hoa màu, phá lúa để trồng đay và thầu dầu. Ở nhiều nơi chúng còn lấy thóc dùng thay than để chạy tàu hỏa. Sau cơi trầu ra mắt với làng để xin xuất trai đinh từ năm ngoái, mới cấy được một vụ thì nay xuất ruộng đinh của ông giáp với cánh đồng của tổng Thượng Ốc và cả một phần đất trại cha ông để lại cũng bị quan phủ sức giấy về cho bọn hào lý bắt phải trồng đay. Hàng hóa khan hiếm, sinh hoạt đắt đỏ nên nghề dệt, thêu bị đình đốn. Trước cảnh đời sống người dân muôn vàn khổ cực vì hết gạo, cảnh hà lạm ăn chặn của bọn tổng lý mỗi lúc thu mua thóc tạ càng khiến ông và nhiều trai tráng trong vùng thêm căm thù bọn phát xít, bọn thực dân xâm lược, núp sau chúng là bọn cường hào ác bá. Ông lại lên làng Vạn Phúc để xin đi dệt thuê với tiền công rẻ mạt, chưa đến 20 cent tiền Đông Dương (bằng khoảng hơn 40 đồng tiền Việt Nam khi đó). Là người cao to khỏe mạnh, lại biết chữ Quốc ngữ, ông được nhận ngay vào xưởng dệt. Ông làm thuê ở Vạn Phúc như thế, cốt cũng chỉ mong được tiếp tục giao lưu với các anh em trong Hội thanh niên cứu quốc làng Vạn Phúc, nơi có phong trào yêu nước lớn mạnh bậc nhất của tỉnh Hà Đông, ông cố gắng giữ lửa và tiếp tục tuyên truyền vận động xây dựng Hội Thanh niên cứu quốc của xã. Ngày 1 tháng 5 năm 1943, ông cùng anh em thợ thuyền làm thuê ở Vạn Phúc tham gia lễ kỷ niệm 1 tháng 5 lớn nhất từ trước tới nay tại đây do Mặt trận Việt Minh tổ chức. Buổi lễ diễn ra công khai ngay tại làng Vạn Phúc, tới hơn 3.000 người tham dự, cùng hô vang khẩu hiệu: "Quyết không để một đồng xu, một hạt thóc rơi vào tay giặc".
Ngày sau ngày rằm tháng Tám năm 1943, ông bị một viên Hương chưởng ở làng Vạn Phúc nghi ngờ tham gia phong trào của Việt Minh, chủ xưởng dệt đành phải miễn cưỡng cho ông nghỉ việc về quê để tránh phiền hà rắc rối. Rời xa khung dệt, ông lại về làng. Cuối năm 1943, để có điều kiện cùng anh em yêu nước trong xã Ngãi Cầu tiếp tục hoạt động cách mạng, ông đã đổi khu đất trại rộng 1,3 mẫu mà cha ông để lại để lấy một mảnh đất rộng một sào bên vệ đường 72 cách chùa Phổ Quang chỉ vài chục mét ở xóm Chợ, Ngãi Cầu. Ông dựng năm gian nhà lá làm nơi hai vợ chồng ông sớm tối có nhau, rồi nhờ ông Phó Phùng về dạy nghề cho hai vợ chồng để mở hiệu may. Từ đây, nơi ở của hai vợ chồng ông vừa là cửa hiệu nhận hàng tơ từ Vạn Phúc về để may áo, thêu ren lại vừa là hội quán của các thành viên cốt cán trong Hội Thanh niên cứu quốc của xã. Cuộc sống đơn sơ dưới mái nhà tre vách nứa dựng tạm, với chiếc máy khâu và mấy gánh hàng tơ Vạn Phúc, nhưng đầy ắp niềm vui hân hoan có anh em bè bạn chung bầu nhiệt huyết cách mạng, hàng ngày vẫn cùng ông và ông Xiển, ông Lưu qua lại kín đáo bàn bạc công việc. Được tận mắt chứng kiến đời sống khổ cực của anh em thợ thuyền đi dệt thuê ở làng Vạn Phúc dưới ách bóc lột thậm tệ của bọn thực dân phong kiến, Chu Trí Tấn cùng bao thanh niên yêu nước khác thời đó đã nhận rõ con đường duy nhất để giải phóng dân tộc chỉ có thể là con đường cách mạng.
Đại tá Chu Trí Xiển, một đảng viên 65 năm tuổi Đảng nguyên bí thư chi bộ xã An Khánh nói với chúng tôi:
"Đầu năm 1942, khi nghỉ phép về quê Ngãi Cầu, anh Chu Trí Tấn được giới thiệu về Mặt trận Việt Minh với chủ trương đánh Pháp đuổi Nhật. Anh đã cùng một số anh em yêu nước Ngãi Cầu thành lập Hội Thanh niên cứu quốc, đoàn thể Việt Minh đầu tiên của xã. Vốn người cao to, lại biết chút ít võ nghệ và mê cung kiếm từ bé, anh Tấn được giao hướng dẫn anh em tập luyện võ nghệ, học quân sự. Tôi phụ trách công tác giáo dục về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông.
Trong phiên chợ Ngãi Cầu, anh Tấn và tôi được giao nhiệm vụ cảnh giới để bảo đảm cho một đồng chí cấp trên về diễn thuyết, kêu gọi bà con trong làng đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật, ủng hộ Việt Minh.
Bọn trương tuần xã thấy đám đông tụ tập dưới lá cờ đỏ búa liềm trên đầu cổng Tam quan chùa Phổ Quang, liền chạy tới.
Chúng tôi làm ám hiệu cho đồng chí tuyên truyền viên luồn qua một lùm cây um tùm ở vườn chùa, chạy về cánh đồng phía tổng Thượng Ốc an toàn. Nhưng rồi một biến cố đột ngột đã đến với gia đình anh Chu Trí Tấn.
Tại hội làng Đông Lao vào dịp rằm tháng Giêng năm Quý Mùi (1943), hai anh em chúng tôi cùng với một số anh em trong Hội Thanh niên cứu quốc xã là anh Hòa, anh Phượng, anh Chu Trí Lưu tìm cách vận động bà con chống sưu cao thuế nặng.
Sau khi được bọn hương lý làng Đông Lao mật báo cho biết tin này, tên tri huyện Dương Kỳ Xương đã cho bắt chúng tôi đưa vào giam tại nhà lao Hoài Đức.
Gần một tháng sau, không có chứng cớ rõ ràng, chúng tôi được ra tù.
Anh Tấn lại lên làng Vạn Phúc xin đi dệt thuê tại một xưởng dệt. Thời gian này, Vạn Phúc đã có Hội Thanh niên cứu quốc, là nơi có phong trào yêu nước lớn mạnh bậc nhất tỉnh Hà Đông. Ngày 1 tháng 5 năm 1943, anh Chu Trí Tấn cùng anh em công nhân dệt Vạn Phúc đã tham gia buổi lễ kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động công khai lớn nhất từ trước tới nay. Sau đó, anh bị chủ xưởng dệt theo lệnh trên ép phải nghỉ việc. Anh về quê Ngãi Cầu cùng vợ mở một cửa hàng may. Cửa hàng của anh chị còn là nơi họp kín của một số thành viên cốt cán trong Hội Thanh niên cứu quốc An Khánh thời đó.
Từ cuối năm 1944 đến đầu 1945, nạn đói ở An Khánh cũng như các làng quê khác ở đồng bằng Bắc Bộ diễn ra rất nghiêm trọng.
Trước tình hình cấp bách đó, thực hiện chủ trương của Mặt trận Việt Minh, các anh Tấn, Lưu, Phượng và tôi đã vận động bà con trong xã góp công góp của để cứu đói cho dân làng, cử người đến các hộ vận động sẻ bớt thóc phải bán cho phát xít Nhật để cứu các hộ đang bị đói.
Những ngày tháng 8 năm 1945, dân làng Ngãi Cầu xôn xao lo lắng vì nước sông Đáy dâng cao, đê Đông Lao có khả năng bị vỡ. Anh Tấn đã cùng một số thanh niên kêu gọi sự đoàn kết giúp đỡ của các địa phương lân cận.
Anh Thạc dẫn đầu anh em tự vệ xã Tây Mỗ cùng đoàn tự vệ Ngãi Cầu do các anh Tấn, Thau và tôi dẫn đầu quần chít ống, áo nâu, bụng thắt lưng da, phấp phới cờ đỏ búa liềm, tiến thẳng về đê Thanh Quang rồi vòng về Đông Lao, vừa đi vừa kêu gọi dân làng đi hộ đê.
Ngày 16 tháng 8 năm 1945, cả làng Vạn Phúc khởi nghĩa. Đêm 17 tháng 8 năm 1945 tại làng Vạn Phúc, Xứ ủy Bắc Kỳ họp và quyết định phát lệnh tổng khởi nghĩa ở Thủ đô Hà Nội.
Vốn có mối quen biết từ ngày đi làm trên Vạn Phúc với tự vệ Tây Mỗ nên ngay từ trước ngày 19 tháng 8 năm 1945, anh Tấn và tôi cùng một số anh em khác đã vận động anh em Tây Mỗ đến giúp sức đội tự vệ Ngãi Cầu nổi dậy giành chính quyền. Sáng ngày 19 tháng 8, khi nước vẫn còn chưa rút hết, vẫn là đoàn hộ đê mấy hôm trước cùng anh em tự vệ Tây Mỗ do anh Thạc dẫn đầu đã mang theo cờ đỏ búa liềm tiến về Ngãi Cầu.
Trước khí thế cách mạng của nhân dân và áp lực của lực lượng tự vệ xã được anh em Tây Mỗ giúp sức, bộ máy chính quyền hương lý và đám quân bảo an bấy lâu nay vốn chỉ quen làm tay sai cho giặc đã tan rã nhanh chóng. Tự vệ xã đi tịch thu sổ sách bọn hương lý kỳ hào, canh gác bảo vệ nghiêm ngặt và thi hành lệnh giới nghiêm.
Ngày hôm sau, 20 tháng 8 năm 1945, giữa đình làng Ngãi Cầu, Hội Thanh niên cứu quốc xã Ngãi Cầu trịnh trọng tuyên bố thành lập Chính quyền cách mạng lâm thời ở xã giải tán vô điều kiện bộ máy chính quyền thực dân phong kiến trong xã.
Anh Chu Trí Lưu được cấp trên cử làm Chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm thời, anh Chu Trí Tấn làm Phó chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm thời khi vừa ở tuổi 20 tuổi.
Cùng ngày, chính quyên cách mạng lâm thời ở bốn làng còn lại của tổng Yên Lũng (tên đơn vị hành chính xã An Khánh) cũng được thành lập. Chính quyền cách mạng lâm thời đã thực sự trở về tay nhân dân cả năm làng của tổng Yên Lũng.
Sau ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, hai mươi vạn quân Tưởng kéo vào miền Bắc nước ta dưới danh nghĩa đồng minh. Bám theo sau chúng là một loạt các tổ chức tay sai phản động như Việt Quốc và Việt Cách. Phía nam là 6 vạn quân Anh kéo theo sau là quân đội thực dân Pháp với âm mưu cướp nước ta một lần nữa.
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định. Chính quyền cách mạng non trẻ của ta phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thù trong giặc ngoài.
Trên địa bàn xã An Khánh khi đó tuy không có quân Tưởng chiếm đóng nhưng hậu quả để lại do nạn đói Ất Dậu năm 1945, rồi hậu quả trận lụt do vỡ đê Đông Lao hồi tháng Tám thực sự rất nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ xây dựng củng cố chính quyền cùng với lực lượng vũ trang non trẻ của xã được đặt ra rất cấp bách.
Là phó chủ tịch lâm thời, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng các hội đoàn cơ sở theo sự chỉ đạo của hai đồng chí Nguyễn Văn Bủng và Bùi Xuân Lãng trên huyện cử về, anh Tấn trực tiếp chỉ đạo tổ chức xây dựng lực lượng tự vệ xã. Hàng ngày chúng tôi ra đình làng dùng loa đôn đốc chỉ đạo anh em tự vệ tập võ, tập vật ở sân chùa Phổ Quang và sân Quán (khoảng sân rộng nằm cạnh chùa Phổ Quang) diễn tập quân sự, tạo khí thế cách mạng, khơi dậy lòng yêu nước cho thanh niên và nhân dân toàn xã.
Buổi đầu cách mạng, khí tài đạn dược hầu như chẳng có gì ngoài gậy gộc giáo mác và một khẩu súng trường do một lính ngụy tình nguyện nộp.
Phối hợp với lực lượng an ninh của huyện do hai đồng chí Bủng và Lãng cử xuống, lực lượng tự vệ Ngãi Cầu đã làm tốt công tác bảo vệ trị an ngay từ những ngày đầu thành lập. Nhiều phần tử phản động của Việt Quốc, Việt Cách từ Vân Côn về xã thám thính đã bị trấn áp.
Đến đầu tháng 4 năm 1946, anh Chu Trí Tân được bầu vào Hội đồng nhân dân Ngãi Cầu. Là người có kinh nghiệm trong lĩnh vực quân sự, anh được chỉ định làm ủy viên quân sự. Anh Đỗ Đồng Vụ làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính xã. Hai anh Đỗ Đồng Chật và Nguyễn Viết Hồ cùng giữ chức Phó chủ tịch. Tôi giữ vị trí ủy viên phụ trách thanh niên và văn hóa xã hội.
Các vị trí trong ủy ban cách mạng lâm thời cũ giải thể nhường chỗ cho bộ máy quản lý hành chính mới được thành lập.
Sau cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân, anh Tấn ra Hà Đông học lớp huấn luyện khóa 3 cho các ủy viên quân sự ở Trường quân chính Hà Đông. Tháng 10 năm 1946, anh Chu Trí Tấn được chỉ định là Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Ngãi Cầu, địa phương có lực lượng tự vệ mạnh nhất trong năm làng ở An Khánh". Từ cuối năm 1944 đến đầu 1945, nạn đói ở xã An Khánh cũng như các làng quê khác ở đồng bằng Bắc Bộ diễn ra rất nghiêm trọng. Nạn đói năm Ất Dậu (1945) ở xã An Khánh đã có 504 người chết vì đói và dịch (riêng Ngãi Cầu có 234 người chết), đó là chưa kể người dân ở các tỉnh khác đi ăn xin chết gục trên địa bàn của tổng.
Trước tình hình cấp bách đó, các đoàn thể của Mặt trận Việt Minh đã tích cực vận động dân làng tham gia cứu giúp những hộ dân bị đói. Với truyền thống lá lành đùm lá rách, các ông Xiển, Tấn, Lưu, Phượng đã vận động các anh em trong hội cùng góp công góp của để cứu đói cho dân làng, cử người đến các hộ vận động xẻ bớt thóc đề-pô1 (Thóc đề-pô là thóc tạ mà các xã phải bán rẻ cho phát xít Nhật) phải bán cho Nhật để dành lại cho các hộ đang bị đói. Với mối quen biết sẵn có từ khi đi làm ở làng Vạn Phúc, ông đã bắt mối với một số thanh niên yêu nước đi dệt về qua đưa hàng cho hiệu may nhà ông. Dưới danh nghĩa là người phu đi quẩy gánh hàng tơ, nhưng lại kẹp ở trong gánh tơ khi thì là tờ báo Cứu quốc, hay báo Sao Vàng, khi lại là truyền đơn cách mạng. Là người hay chữ nên mỗi khi có đồng chí cốt cán trong Hội Thanh niên cứu quôc đến, ông lại gọi vào trong đọc báo cứu quốc cho nghe và nhất quán với anh em về chủ trương của Mặt trận Việt Minh một khi thời cơ đến. Đây chính là ngọn bấc nhỏ để giữ đốm lửa nhỏ ở xã Ngãi Cầu, rồi bất thình lình bùng cháy cho hoạt động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền sau này.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, Hội Thanh niên cứu quốc của xã đã tăng cường tuyên truyền đường lối của Mặt trận Việt Minh cho bà con trong làng: "Nhật đảo chính Pháp và hành động của chúng ta". Được sự chỉ đạo của đồng chí Ứng, cán bộ Việt Minh ở Chi bộ La Nội, ông Xiển, ông Tấn cùng nhiều anh em khác đã tích cực vận động bà con đoàn kết dưới ngọn cờ của Việt Minh, chủ động bám sát tình hình chờ thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.
Được đồng chí Ứng giao nhiệm vụ phụ trách về mảng luyện tập quân sự, ông Tấn đã vận động, bắt mối với một số bạn bè thời còn làm cùng ở xưởng dệt Vạn Phúc, nhờ họ giới thiệu ông đi các nơi khác vốn có lực lượng tự vệ mạnh hơn. Ông cùng anh em trong Đội tự vệ cứu quốc Ngãi Cầu đến một số nơi có các đội tự vệ mạnh như Vạn Phúc, La Nội, Tây Mỗ để giao lưu học hỏi làm quen với hỏa khí, cùng diễn tập để học hỏi kinh nghiệm về quân sự. Đây chính là nền tảng của trung đội dân quân tự vệ đầu tiên của xã Ngãi Cầu do xã thành lập và xây dựng, là lực lượng bán vũ trang đầu tiên của xã ngay sau ngày toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, mặc dù khi đó vũ khí của các ông chỉ toàn là giáo mác, gậy gộc và bầu nhiệt huyết trong tim.
Những ngày giữa tháng 8 năm 1945 tại Ngãi Cầu, dân làng xôn xao lo lắng vì nước sông Đáy dâng cao, đê Đông Lao khả năng bị vỡ. Những ngày này đúng 30 năm trước, tháng 7 âm lịch năm 1915, đê Liên Mạc (còn gọi là đê Hoàng Mạc) từng bị vỡ, cảnh tượng khủng khiếp vẫn chưa phai, ông Xiển, ông Tấn cùng anh em tự vệ sang Tây Mỗ ngỏ lời nhờ ông Thạc cử người tăng cường sang Đông Lao để hộ đê. Sáng ngày 15 tháng 8 năm 1945 (mùng 8-7 âm lịch), ông Thạc dẫn đầu một đoàn quần chúng vùng La - Mỗ, quần chít ống, áo nâu, bụng thắt lưng da, phấp phới cờ đỏ búa liềm, tiến thẳng về đê Thanh Quang rồi vòng về Đông Lao, vừa đi vừa kêu gọi dân làng đi hộ đê. Trong đoàn người gia nhập với Hội Thanh niên cứu quốc Ngãi Cầu đi hộ đê Đông Lao năm 1945 ấy, xuất hiện một thanh niên 18 tuổi, người cùng làng Ngãi Cầu, đó là ông Chu Công Thau, người mà sau này đã trở thành một người đồng chí trung kiên và cũng là người anh em đồng hao vối ông Chu Trí Tấn. Khí thế đông đảo là vậy, nhưng sức người có hạn. Sẩm tối ngày 15 tháng 8, đê Đông Lao vỡ, nước ngập khắp cánh đồng, mùa màng mất trắng. Cái đói lại một lần nữa thử thách lòng yêu nước của người dân xã An Khánh ngay giữa những tháng ngày cách mạng sục sôi này.
Ngày 16 tháng 8 năm 1945, cả làng Vạn Phúc khởi nghĩa. Đêm 17 tháng 8 năm 1945 tại làng Vạn Phúc, Xứ ủy Bắc Kỳ họp và quyết định phát lệnh tổng khởi nghĩa ở Thủ đô Hà Nội.
Thời kỳ đi làm trên Vạn Phúc, anh Tấn đã quen với nhiều anh em tự vệ Tây Mỗ nên ngay từ trước ngày 19 tháng 8, ông Xiển và ông Tấn đã vận động anh em Tây Mỗ đến giúp sức đội tự vệ Ngãi Cầu nổi dậy giành chính quyền. Sáng ngày 19 tháng 8, khi nước vẫn còn chưa rút hết, vẫn là đoàn hộ đê mấy hôm trước cùng anh em tự vệ Tây Mỗ do ông Thạc dẫn đầu tiến về xã Ngãi Cầu. Ông Thạc hôm đó mặc áo sơ mi trắng cộc tay, quần soóc xanh, đội mũ cối, dẫn đầu đoàn người với cờ đỏ búa liềm, rất nhiều quần chúng tham gia hưởng ứng.
Trước khí thế cách mạng của nhân dân và áp lực của lực lượng tự vệ xã được anh em Tây Mỗ giúp sức, bộ máy chính quyền, hương lý, bảo an bấy lâu nay vốn chỉ quen làm tay sai cho giặc đã tan rã nhanh chóng. Tự vệ xã đi tịch thu triện bạ sổ sách bọn hương lý kỳ hào, canh gác bảo vệ nghiêm ngặt và thi hành lệnh giới nghiêm.
Ngày hôm sau, 20 tháng 8 năm 1945, giữa đình làng Ngãi Cầu, Hội Thanh niên cứu quốc xã Ngãi Cầu trịnh trọng tuyên bố thành lập Chính quyền cách mạng lâm thời, giải tán vô điều kiện bộ máy chính quyền thực dân phong kiến trong xã. Nước vẫn còn ngập trắng cánh đồng đến từng thôn xóm, dân làng bì bõm lội nước ra đình chờ mong một luồng gió mới. Các cụ bô lão, Hội đồng tộc biểu, đại diện cho các chi họ cùng với dân làng đến tham dự. Sau nhiều cuộc thảo luận về việc tiến cử, căn cứ vào uy tín, năng lực và trình độ học vấn, dân làng đã cử ông Chu Trí Lưu (sinh năm 1922) làm Chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm thời, ông Chu Trí Tấn làm Phó chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm thời trong niềm hân hoan phấn khởi tột độ của nhân dân trong xã. Ông Chu Trí Xiển khi đó là Bí thư Xã bộ Việt Minh xã Ngãi Cầu. Cả ba ông đều là những thành viên cốt cán của Hội Thanh niên cứu quốc Ngãi Cầu từ những ngày tiền khỏi nghĩa. Năm ấy, ông Chu Trí Tấn vừa tròn 20 tuổi.
Cùng ngày, chính quyền cách mạng lâm thời ở cả bốn xã còn lại của tổng Yên Lũng (tên đơn vị hành chính của xã An Khánh ngày đó) cũng được thành lập. Chính quyền cách mạng lâm thời đã thực sự trở về tay nhân dân cả 5 thôn của xã An Khánh. Xây dựng lực lượng vũ trang đầu tiên của xã Ngãi Cầu.
Trên địa bàn xã An Khánh khi đó, do hậu quả nạn đói năm 1945 để lại, do vỡ đê Đông Lao, nhiệm vụ xây dựng, củng cố chính quyền cùng lực lượng vũ trang non trẻ của xã thật vô cùng trọng đại.
Là Phó chủ tịch lâm thời, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng các hội đoàn cơ sở theo sự chỉ đạo của hai đồng chí Nguyễn Văn Bủng và Bùi Xuân Lãng (hai cán hộ của Mặt trận Việt Minh trên huyện cử về), ông Tấn còn trực tiếp chỉ đạo xây dựng và huấn luyện lực lượng tự vệ của xã. Hàng ngày ông và ông Xiển ra đình làng dùng loa cuộn bằng sắt tây đôn đốc chỉ đạo anh em tự vệ tập võ, tập vật ở sân chùa Phổ Quang và Quán1 (Quán Ngãi Cầu: là một khoảng sân rộng nằm cạnh chùa Phổ Quang. Theo truyền thuyết đây là nơi ra đời của 4 vị Thành hoàng làng, là nơi diễn ra các nghi lễ của tín ngưỡng Thành hoàng), diễn tập quân sự, tập cách đâm lê, ném lựu đạn, đi đều mốt hai mốt từ Quán lên đê Thanh Quang rồi quay ngược trở lại. Những cuộc tập dượt ban đầu này đơn sơ là vậy nhưng tạo khí thế cách mạng hừng hực, khơi dậy lòng yêu nước cho thanh niên trong xã với truyền thống thượng võ "trăm họ đều là binh" của quê hương Hà Tây từ ngàn xưa mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng.
Đầu cách mạng, khí tài đạn dược hầu như chẳng có gì ngoài gậy gộc giáo mác. Vũ khí của lực lượng bảo an chế độ cũ bị bọn hương lý tẩu tán hết hòng phá hoại chính quyền cách mạng non trẻ của xã. Lực lượng tự vệ được trang bị chủ yếu vẫn là đao kiếm, mã tấu. Ông cùng đại diện Hội Thanh niên cứu quốc đến một hộ trong làng có con đi lính khố đỏ ở Tông (Sơn Tây) và vận động họ giao nộp vũ khí. Vậy là khi đó chỉ có duy nhất một khẩu súng trường trưng thu được, nhưng lại không có đạn. Anh em tập luyện chỉ được học cách ngắm bắn, cách lên đạn, giật chốt tiếp đạn, cách tháo súng bảo quản lau chùi để khi có đạn thật còn không bị kẹt.
Phối hợp với lực lượng an ninh của huyện cử xuống, do hai đồng chí Bủng và Lãng chỉ huy, lực lượng tự vệ xã Ngãi Cầu đã làm tốt công tác bảo vệ trị an ngay từ những ngày đầu thành lập. Nhiều phần tử phản động của Việt quốc, Việt cách từ Vân Côn về xã thám thính, manh nha gây dựng cơ sỏ đã bị ta vô hiệu hóa. Ngãi Cầu là một trong số ít các xã trong phủ Hoài Đức không có nhà thờ công giáo, một xã thuần theo Phật giáo. Ngay từ những năm 30, nhân dân trong xã nhiều lần đấu tranh chống lại bọn thực dân mang theo cha cố người Pháp do người làng dắt mối đòi mở ấp lập nhà thờ Thiên Chúa giáo. Mọi âm mưu đòi xây nhà thờ của giặc Pháp đều bị dân làng kiên quyết đấu tranh phản đối, mặc cho bị đe dọa đàn áp. Đây chính là nền tảng cho sự đoàn kết toàn dân ở trong xã, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng tự vệ bảo đảm trật tự trị an những ngày đầu lập quốc.
Song song với luyện tập quân sự, ông cùng đội ngũ cán bộ xã vận động anh em tự vệ xã học chữ Quốc ngữ để diệt giặc dốt. Cho tới năm 1945, Ngãi Cầu chỉ có vài ba người có trình độ Tiểu học Yếu lược (Xéc-ti-phi-ca) như ông. Công tác nâng cao trình độ văn hóa cho các đồng chí của mình, cho đến khi ông rút vào hoạt động bí mật, vẫn được ông đặc biệt coi trọng. Như bà Nguyễn Thị Sái, làm công tác giao thông (giao liên) cho ông Tấn từ năm 1947, là người được ông trực tiếp giác ngộ cách mạng và đào tạo nghiệp vụ. Ngay từ những ngày đầu được giác ngộ, ông đã kiên trì vận động bà và em ruột bà Sái là ông Nguyễn Huy Tấn (thường gọi là ông Tấn "con") học cho được chữ Quốc ngữ để cùng đi hoạt động cách mạng.
Ngay trong đợt bầu cử Quốc hội đầu tiên, ngày 6 tháng 1 năm 1946, tự vệ xã Ngãi Cầu không những đã hoàn thành xuất sắc việc bảo vệ an ninh cho cuộc bầu cử, mà còn tự mình kẻ vẽ những khẩu hiệu bằng chữ Quốc ngữ. Nhiều vị trí thức từ nơi khác trong phủ Hoài Đức tới chơi, thường ngày vẫn hay tự hào rằng: "Nhất Mỗ, Nhị La, thứ ba Canh, Cót" thì nay lại được chứng kiến những trai làng Ngãi Cầu trước đây chỉ mới là những nông dân cày thuê cuốc mướn mà nay lại viết được cả chữ Quốc ngữ, trước đây vốn mũ ni che tai với cách mạng, thì nay họ đã có những biến chuyển nhất định về tư tưởng. Đó là kết quả sau khóa học xóa mù chữ đầu tiên sau ngày 2 tháng 9 năm 1945 của Ban bình dân học vụ của xã do ông Chu Trí Tấn chủ trì.
Sau thắng lợi ban đầu, tự vệ xã tiếp tục luyện tập quân sự và chuẩn bị sẵn sàng bảo vệ trị an, chống gián điệp cho các sự kiện lớn trong xã. Và đến đầu tháng 4 năm 1946, cùng với chính quyền cách mạng ở các xã và tỉnh trên toàn quốc, cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân đầu tiên ở xã Ngãi Cầu để thành lập Ủy ban hành chính thay cho Ủy ban cách mạng lâm thời đã diễn ra tốt đẹp. Ông Chu Trí Tấn được bầu vào Hội đồng nhân dân xã Ngãi Cầu. Là người có kinh nghiệm tổ chức về quân sự và an ninh, ông được chỉ định làm ủy viên ủy ban phụ trách quân sự và an ninh, gọi tắt là ủy viên quân sự. Người đồng chí và cũng là người giác ngộ cho ông vào cách mạng, ông Chu Trí Xiển giữ vị trí ủy viên phụ trách công tác thanh niên và văn hóa xã hội. Ông Đỗ Đồng Vụ làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính xã. Hai ông Đỗ Đồng Chật và Nguyễn Viết Hồ đồng giữ chức Phó chủ tịch.
Đồng thời, 15 đại biểu của Hội đồng nhân dân xã Ngãi Cầu bầu ra 5 ủy viên Ủy ban Hành chính xã Ngãi Cầu. Năm vị trí ủy viên đó là: Chủ tịch, phó chủ tịch, ủy viên quân sự, ủy viên thư ký, ủy viên thanh niên. Các vị trí trong Ủy ban cách mạng lâm thời sau ngày 19 tháng 8 tự động được giải thể nhường chỗ cho bộ máy quản lý hành chính mới được thành lập.
Ngay sau cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân, ông được cử đi học lớp huấn luyện cho ủy viên quân sự các cấp, khóa 2 Trường Quân chính Hà Đông, tổ chức tại Ba Thá (Ứng Hòa, Hà Đông). Sau đó, ông cũng được cử ra thị xã Hà Đông học lớp chính trị ngắn ngày tại rạp Thiên Xuân Đài ở thị xã Hà Đông (đến giữa năm 2008 là trụ sở của đoàn cải lương Hoa Mai, tỉnh Hà Tây củ). Lớp học này đã từng được các đồng chí Trường Chinh và Lê Đức Thọ về giảng dạy và bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ.
Dịp kỷ niệm tròn một năm ngày quốc khánh 2-9 năm đó, tự vệ Ngãi Cầu lần đầu tiên tổ chức diễn tập quân sự với các đội tự vệ khác ở xã An Khánh, lập các tô chiến đấu ba người một nhóm, diễn tập tiến công theo đội hình thê đội 1 và thê đội 2 phối hợp. Lần đầu tiên tự vệ xã được đồng loạt bắn đạn thật do Mặt trận Việt Minh cung cấp. Tiếng chiêng trống, hò reo, cờ đỏ sao vàng tràn ngập bãi tập trên cánh đồng Hũ, tạo khí thê cách mạng ngất trời, khơi dậy lòng yêu nước của nhân dân trong toàn xã. Vụ khoai tháng 5 năm 1946 rất tốt do có phù sa sau lũ bồi đắp, vụ mùa có khá hơn, nạn đói đã bớt dần, người dân được giác ngộ, hăng hái ủng hộ cách mạng.
Trong những lần học tập được biết chiến tranh trong làng quê một khi xảy ra nhiều khả năng sẽ là chiến tranh du kích, ông Tấn tổ chức cho anh em diễn tập động tác đội ngũ, động tác chiến đấu cá nhân cấp tiếu đội, với các hình thức tác chiến theo tổ ba người, gọn nhẹ, cơ động, tránh được thương vong lớn. Mô hình tác chiến theo kiểu này cũng như các tổ Đảng ba người một nhóm ở xã Ngãi Cầu cũng là hình thức đấu tranh xuyên suốt mà ông tích cực chỉ đạo cho anh em cấp dưới nghiêm túc thực hiện trong suốt cuộc chiến tranh gian khổ sau này.
Từ sau khi ta ký Tạm ước Phông-ten-nơ-blô ngày 14 tháng 9 năm 1946, dã tâm xâm lược đất nước ta của thực dân Pháp ngày càng lộ rõ. Huyện chỉ đạo cho Ủy ban Hành chính các xã khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho cuộc trường kỳ kháng chiến cứu nước.
Theo chỉ đạo của huyện ủy, tháng 10 năm 1946, các xã đều thành lập ủy ban bảo vệ làm cơ quan trực tiếp chỉ huy lực lượng công an và dân quân tự vệ của từng xã. Đồng chí ủy viên quân sự Chu Trí Tấn được xã Ngãi Cầu chỉ định kiêm nhiệm vị trí Chủ tịch Ủy ban bảo vệ. Ở cả bốn xã còn lại, các đồng chí Chủ tịch Ủy ban Hành chính kiêm nhiệm chức vụ Chủ tịch Ủy ban bảo vệ của xã. Ngãi Cầu có vị trí then chốt án ngữ đường 72 và có lực lượng tự vệ mạnh nhất trong số năm thôn ở An Khánh.
Đêm 19 tháng 12 năm 1946, theo sự chỉ đạo mặt trận Việt Minh, toàn xã An Khánh phát động tiêu thổ kháng chiến. Thôn Ngãi Cầu có vị trí chiến lược, nằm án ngữ trên con đường tỉnh lộ 72 hướng về đê sông Đáy. Ông Chu Trí Tấn cùng Ủy ban bảo vệ xã huy động dân quân du kích và anh em công an phối hợp với nhân dân Ngãi Cầu mang theo cuốc xẻng đào giao thông hào, đắp ụ chiến đấu bằng cây cọc, dóng tre, đất đá; huy động tối đa nhân lực vật lực dựng lên một hệ thông công sự vật cản liên hoàn trong nỗ lực ngăn chặn bước tiến của giặc Pháp, đặc biệt là xe cơ giới, cả năm thôn trong xã An Khánh đều thành lập trung đội dân quân tự vệ. Ngãi Cầu có trung đội tự vệ mạnh nhất do ông Tấn trực tiếp chỉ huy xây dựng; biên chế 6 người một tiểu đội (hai tổ chiến đấu 3 người lập thành một tiểu đội), 3 tiểu đội lập thành trung đội tự vệ Ngãi Cầu, Trung đội tự vệ Ngãi Cầu thường xuyên diễn tập quân sự và làm công tác vận động thanh niên tòng quân, gây khí thế cách mạng rất sôi nổi trong vùng. Phong trào quyên góp cho "Hũ gạo nuôi quân", "Quỹ mua sắm vũ khí" được đẩy mạnh hơn bao giờ hết.
Thực hiện Thông tư 16, ngày 31 tháng 12 năm 1946 của Khu ủy, Tỉnh ủy Hà Đông đã nhanh chóng chỉ đạo các cấp chuyển Ủy ban bảo vệ thành Ủy ban kháng chiến, ở 4 xã của An Khánh là An Thọ, Yên Lũng, Vân Lũng, Phú Vinh, các đồng chí Chủ tịch Ủy ban hành chính kiêm nhiệm vị trí Chủ tịch Ủy ban kháng chiến. Riêng ở xã Ngãi Cầu, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến là ông Chu Trí Tấn. Lực lượng bán vũ trang ở địa phương (tự vệ cứu quốc, tự vệ chiến đấu, dân quân tự vệ...) được gấp rút chuyển thành dân quân du kích.
Thời gian này ở An Khánh cũng đã có những cán bộ hoang mang dao động về tư tưởng và lập trường cách mạng, ở Ủy ban xã Phú Vinh, ông chủ tịch Ủy ban Hành chính xã và Thư ký Ủy ban đã bỏ nhiệm vụ. Người dân xì xào bàn tán, nhiều anh em tự vệ tâm trạng rối bời nhưng ở Ngãi Cầu thì không có hiện tượng đó.
Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến, một số cơ quan của Trung ương đã được chuyển về địa bàn thôn An Thọ thuộc An Khánh, trong đó có Trường Huấn luyện Thiếu sinh quân. Người em vợ của ông Tấn là ông Nguyễn Ngọc Tần đã xin theo học Trường Huấn luyện Thiếu sinh quân ngay từ khi cơ quan mới chuyển về xã.
Ông Nguyễn Ngọc Tần là con trai duy nhất trong gia đình, đã tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền từ những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám. Đến khi Trường Huấn luyện Thiếu sinh quân phải rút sang vùng tự do để tránh giặc Pháp, ông cũng đi theo và đến năm 1948, ông trở về hoạt động tại khu vực Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng.
Cũng ở xã An Thọ thời gian này còn có Báo Cứu quốc và gần như toàn bộ máy móc trong xưởng in của báo được Trung ương chuyển về.
Cũng từ đây, những bản ấn loát đầu tiên in "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh" được in ra và phân phát cho các Ủy ban Hành chính và Ủy ban kháng chiến ở An Khánh.
Nhận được những bản ấn loát đầu tiên của Ngụyễn Ngọc Tần mang từ Phú Vinh xuống, ông Tấn phấn khởi cùng ông Xiển tập hợp dân làng ra đình dùng chiếc loa cuộn bằng sắt tây đọc to lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hiện nay bản sao chép từ bản gốc vẫn được lưu tại một số gia đình trong xã An Khánh. Khí thế cách mạng ở Ngãi Cầu những ngày đầu tiên thật sôi nổi, xuất phát chung là từ truyền thống yêu nước ngàn đời nay của dân tộc ta. Ở đây, chúng ta tất nhiên không xét đến một bộ phận không nhỏ những đối tượng, khi mà quyền lợi của họ gắn liền với chế độ thực dân phong kiến cũ, hoặc do tư tưởng, định kiến hẹp hòi ích kỷ. Họ quay lưng với cách mạng, đi ngược lại hoàn toàn với đường lối kháng chiến cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng viết trong thư gửi đồng bào Nam Bộ tháng 6 năm 1946: "Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy chục triệu người, cũng có người thế này, thế khác...".
Ngày 18 tháng 2 năm 1947, trận đánh kìm chân giặc Pháp ở Hà Nội kết thúc. Các đơn vị Vệ quốc đoàn bắt đầu rút ra khỏi Hà Nội. Trên địa bàn xã An Khánh khi đó có nhiều đơn vị của Trung đoàn Liên khu I (khi đó đã đổi tên thành Trung đoàn Thủ đô) về đóng quân. Nhân dân An Khánh đã tích cực giúp đỡ mọi mặt về nơi ăn chốn ở, thể hiện tình quân dân thắm thiết, một truyền thống quý báu của dân tộc mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng.
Khoảng 5 giờ 30 phút sáng ngày 2 tháng 3 năm 1947, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm thị xã Hà Đông và một phần các huyện Hoài Đức, Thanh Trì, Chương Mỹ, Quốc Oai. Nhân dân An Khánh đã sớm bước vào cuộc kháng chiến cứu nước theo lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sang đến ngày 3 tháng 3, giặc Pháp từ Phùng tiến đến đê Thanh Quang, lần đầu tiên quân và dân An Khánh phải trực tiếp đối mặt với quân xâm lược. Quân địch cho máy bay do thám phát hiện được khu giao thông hào cày nát đường 72 đoạn từ chùa Tổng qua lối rẽ về An Thọ về đến cây số 8 đầu làng. Ngoài ra, chúng cũng đánh hơi thấy sự có mặt của một số đơn vị Vệ quốc đoàn đang ém quân trong khu vực, sẵn sàng sử dụng lợi thế địa hình địa đạo ở khu giao thông hào rất bất lợi cho cơ giới để nghênh chiến. Địch chủ động đánh vào xã Ngãi Cầu theo thế gọng kìm bằng lực lượng cơ giới mạnh để phá thế phòng thủ bằng giao thông hào của ta. Một mũi quân Pháp từ cầu Diễn xuống chốt chặn ở Đại Mỗ, một mũi khác từ Phùng tiến theo đê sông Đáy xuống Mai Lĩnh đánh vào Tân Trượng (huyện Chương Mỹ). Khi đến đê Thanh Quang, một mũi quân địch tách ra, từ đấy đổ dốc theo đường 72 đánh thẳng vào xã Ngãi Cầu. Cùng lúc, mũi chốt sẵn ở Đại Mỗ xé lẻ một đơn vị tiến về hướng Ngãi Cầu để hỗ trợ cho đồng bọn.
Đứng trước khả năng bị đánh thọc vào sau lưng do chốt ở hướng Thanh Quang chưa kịp bố trí công sự đủ mạnh để có thể cản được xe tăng, sau khi thống nhất ý kiến với các đơn vị Vệ quốc đoàn, ông Tấn đã chỉ huy toàn bộ trung đội dân quân tự vệ của xã rút lui để bảo toàn lực lượng, tránh thương vong cho dân chúng. Đồng thời, vận động nhân dân trong xã tạm thời di tản, tránh va chạm với đội hình cơ giới của giặc. Không chạm trán với lực lượng nào của ta, giặc dùng súng máy đặt trên xe thiết giáp bắn bừa bãi vào nhà dân hai bên đường 72. Do được di tản kịp thời, trận này quân và dân ta hầu như không có thương vong nào đáng kể. Hội nghị quân sự toàn tỉnh Hà Đông lần thứ nhất họp tại huyện Chương Mỹ ngày 12 tháng 1 năm 1947 đã đề ra chỉ thị: "Nhiệm vụ chính lúc này là bảo toàn lực lượng để kháng chiến lâu dài. Do đó, phải tránh mũi dùi chủ lực của địch để hảo toàn lực lượng và duy trì sức chiến đấu của ta. Đồng thời, phát động chiến tranh du kích, không cho địch phát triển vị trí và tiến quân mau lẹ"1 (Hà Tây - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1998).
Đây mới chỉ là trận thử lửa đầu tiên với giặc Pháp ở trong địa bàn xã. Nhưng khi hai cánh quân Pháp hợp nhau bên những hố giao thông hào và ụ chiến đấu chống xe tăng nơi quân dân Ngãi Cầu ngày đêm xây dựng từ ngày đầu toàn quốc kháng chiến.
Thời gian này, một số cán bộ xã Ngãi Cầu đã mang cờ trắng ra đầu hàng, đem theo cả con dấu của ủy ban xã rồi chạy về thị xã Hà Đông theo giặc. Tuy vậy, một số cán bộ trung kiên vẫn còn bám trụ lại nhiệm sở cùng với Ủy ban kháng chiến do ông Chu Trí Tấn làm chủ tịch.
Sau cuộc tiến công này, địch lập Phòng tuyến II: Chèm - Cầu Diễn - Cầu Đôi - thị xã Hà Đông - Văn Điển để bảo vệ Hà Nội. Quân và dân An Khánh chính thức ở trên tuyến đầu chống giặc.
Địch nhiều lần dùng máy bay để do thám, rồi gọi pháo mặt đất từ thị xã Hà Đông, Cầu Diễn và Phú Đô bắn vào vùng ven Hoài Đức. Sau mỗi cuộc bắn phá bằng phi pháo như vậy, địch lại dùng bộ binh cơ giới tiến hành sục sạo thăm dò lực lượng của ta trong khu vực, trong đó có các thôn của An Khánh. Do phải đối đầu với một lực lượng cơ giới rất mạnh của địch, trong khi vũ khí của du kích còn rất thiếu thốn, Ủy ban kháng chiến cả năm xã ở An Khánh đã thống nhất: "Tạm thời chưa đối đầu trực diện với địch. Mục tiêu trước mắt vẫn là vận động nhân dân sơ tán khỏi khu vực giặc càn quét, tránh thương vong".
Rút kinh nghiệm từ trận càn lần trước, quân và dân Ngãi Cầu đã đẩy mạnh việc đào hào chữ chi trên khắp đường 72, suốt từ Thanh Quang tới tận chùa Tổng.
Ngày đó, chiếm được Hà Đông, giặc Pháp đã manh nha lấn ra vùng ven, cho quân đóng chốt ngay tại một số đình chùa án ngữ các vị trí quan trọng. Theo sự vận động của Mặt trận Việt Minh, để tránh việc địch sử dụng chùa Tổng làm căn cứ đứng chân lâu dài uy hiếp vùng Nam Hoài Đức, dân quân du kích đã tiến hành tháo dỡ chùa Tổng, một sự hy sinh to lớn về di sản văn hóa của nhân dân trong vùng. Trong suốt những năm kháng chiến sau này, dù càn qua càn lại chùa Tổng rất nhiều lần nhưng giặc chưa bao giờ đứng chân được tại đây.
Cùng thời gian này, thực hiện chủ trương "tiêu thổ kháng chiến", quân dân nhiều xã trên hai huyện Đan Phượng và Hoài Đức cũng phải tiến hành vận động tháo dỡ một số chùa. Ở làng Hạ Mỗ, nhân dân tiến hành tháo dỡ miếu Hàm Rồng, ở Phúc Thọ (Sơn Tây), cũng có tổng cộng 40 ngôi đình chùa được tháo dỡ1 (Hà Tây - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1998).
Ngày 4 tháng 5 năm 1947 từ mờ sáng, hai tiểu đội địch có xe tăng yểm trợ từ Cầu Đôi (Phú Đô) tiến xuống Đại Mỗ, theo đường 72 qua Tây Mỗ rồi đánh về hướng chùa Tổng. Trước tình hình đó, du kích các thôn của An Khánh đã phối hợp với Trung đội 406 Vệ quốc đoàn dựa vào hệ thống giao thông hào sẵn có, ẩn nấp vào sau từng lũy tre, bờ ngòi, vừa đánh vừa lui, kéo địch vào sâu trong hệ thống công sự chằng chịt của ta để phân tán địch, đánh tỉa nhằm làm tiêu hao sinh lực địch. Trung đội 406 với kinh nghiệm đánh xe tăng sẵn có, sử dụng cả "bom xăng" làm rối loạn đội hình thiết giáp của địch. Trận đánh kéo dài hơn một giờ thì địch phải rút lui cùng xe tăng. Đây cũng là lần đầu tiên du kích xã Ngãi Cầu được đánh địch trực diện, qua thực tế chiến đâu đã rút ra nhiều kinh nghiệm.
Sau khi trực tiếp chỉ huy du kích xã Ngãi Cầu đánh trận này, ông Chu Trí Tấn đã vinh dự được đồng chí Huyện đội trưởng Tốn giới thiệu kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngày 19 tháng 5 năm 1947, đồng chí Tốn về nhà ông Chu Phó Thuật ở xã Ngãi Cầu, chính thức giới thiệu kết nạp ông Chu Trí Xiển, Chu Trí Tấn và Chu Phó Kế vào Đảng. Chi bộ đầu tiên của xã Ngãi Cầu đã được thành lập từ đấy.
Sau trận đánh giáp mặt đầu tiên với bộ đội và du kích xã, địch vẫn chưa đủ sức tiến sâu tổng lực vào Ngãi Cầu mà chỉ lởn vởn đến chùa Tổng rồi gọi lựu pháo bắn không hạn chế vào Ngãi Cầu và tổng Sông gây cho nhân dân các thôn ở An Khánh nhiều thiệt hại.
Tháng 7 năm 1947, ông Tấn đến dự hội nghị của Liên quận huyện tổ chức tại nhà cụ Phó Nga, xã Đại Phú, Quốc Oai, Sơn Tây. Cuộc họp có đại biểu của Ủy ban kháng chiến 10 xã từ An Khánh (tổng Yên Lũng cũ) và An Thượng (tổng Thượng Ốc cũ). Hội nghị quyết định hợp nhất hai tổng Yên Lũng và Thượng Ốc thành một xã lớn, đặt tên là xã An Thượng gồm 10 làng của hai tổng này. Cấp trên điều đồng chí Hoàng Quốc Thân ngưòi thôn An Hạ, cán bộ Liên quận huyện IV (Liên huyện Đan Phượng và Hoài Đức), trực tiếp làm Bí thư chi bộ xã An Thượng.
Hội nghị này cũng quyết định hợp nhất Ủy ban kháng chiến với Ủy ban Hành chính thành Ủy ban kháng chiến hành chính, lấy nhiệm vụ lãnh đạo toàn dân, toàn quân kháng chiến làm trọng tâm then chốt trong thời kỳ mới. Ông Chu Trí Tấn được đề bạt làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính của xã mới được thành lập.
Đến đầu tháng 8 năm 1947, tại hội nghị hợp nhất và thành lập Chi bộ Liên xã An Khánh - An Thượng tổ chức tại xã Viên Nội, huyện Ứng Hòa, ông Chu Trí Tấn được cấp trên chỉ định làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên xã An Khánh - An Thượng. Khi đó, xét về trình độ văn hóa, ông Tấn là người đứng đầu ở trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong số 5 làng của xã An Khánh ngày đó. Từ đây, ông Tấn có nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo công cuộc kháng chiến cũng như các hoạt động chiến tranh du kích ngay trong lòng địch ở hai xã An Khánh và An Thượng, một địa bàn then chốt với dân số cả 10 làng tổng cộng gần 2,5 vạn người, tính theo số nhân khẩu trước năm 1945. Từ tháng 10 năm 1947 đến tháng 11 năm 1950, ông Xiển làm Bí thư chi bộ Liên xã An Khánh - An Thượng. Vào thời điểm này, Ngãi Cầu là chi bộ có số đảng viên đông nhất trong số 10 làng của Liên xã An Khánh - An Thượng mới thành lập, 3 đảng viên của Chi bộ Ngãi Cầu trên tổng số 9 đảng viên. Các chi bộ còn lại: Đào Nguyên có 2 đảng viên; Yên Lũng, Vân Lũng, Phú Vinh, An Hạ mỗi nơi có 1 đảng viên.
Tháng 9 năm 1947, địch tập trung cho chiến dịch Việt Bắc. Ta có nhiều thuận lợi để phát triển cơ sở ở Liên xã An Khánh - An Thượng. Trong thời gian có chiến dịch Việt Bắc, dân quân du kích xã đã tích cực tham gia vận chuyển lương thực trên địa bàn, tiếp nhận qua các xã để chuyển về nơi quy định của huyện.
Tranh thủ thời gian địch tập trung cho chiến dịch Việt Bắc với ý đồ đánh nhanh thắng nhanh, thực hiện chủ trương của Chi bộ đảng, ông Tấn chỉ đạo quân dân xã chủ động đào hầm cá nhân tạo thành một mạng lưới hầm hào bám chặt vào thắt lưng địch, chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Hầm được đào tại bất cứ nơi nào có thể đào được: bờ ao, ngoài vườn, bụi tre, trong bếp, ngoài đồng, có hầm còn được đào ngay tại vườn chùa Phổ Quang (chùa Ngãi cầu), dưới điện Tam bảo nhà chùa. Hệ thống 4 căn hầm tại chùa Phổ Quang (1 nằm cạnh bụi tre vườn chùa cạnh Quán Ngãi Cầu và 3 trong gian nhà chính) bắt đầu được đào ngay từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.
Cùng với việc hình thành các nhóm chiến đấu 3 người theo từng thê đội từ khi ông bắt đầu xây dựng trung đội tự vệ Ngãi Cầu, các nhóm 3 người một hầm trú ẩn cũng được ông chỉ đạo sát sao xuống từng cấp dưới, hạn chế đến mức tối đa không để quá 3 người một hầm tránh thương vong lớn. Việc tiết lộ hầm bí mật cho một người thứ tư ở ngoài nhóm biết, ngoại trừ gia đình cơ sở ở nơi đào hầm, là điều cực kỳ tối kỵ. Ngoài ra, ông khuyến khích du kích xã đào các hố cá nhân, một người một hầm, tự cung tự cấp. Những khi nguy cấp mỗi người có thể tản xuống các hố cá nhân dự phòng để bà con cơ sở che giấu.
Đối với hầm cho 3 người, đầu tiên là tranh thủ đào nông thật nhanh đủ chỗ cho một người chui xuống trước để người còn lại ở trên đậy nắp hầm. Người ở dưới dùng cái lẹm (một loại cuốc nhỏ, lưỡi khoằm) khoét rộng thêm ra đủ chỗ cho người nằm ngủ, rồi có thể khoét thêm ngách phụ và đặc biệt quan trọng là lỗ thông hơi. Đào xong, đêm đến mới được lên khỏi hầm đi đổ đất. Đổ đất cũng phải bí mật không để ai biết. Ở Ngãi Cầu, đất được đổ nhiều ở bìa đất ngoài cánh đồng Hũ. Người ở trên đi gom tre vụn, tre ngâm với mấy tấm phên nứa cũ đem xuống hầm để người ở dưới rào vách hầm, thống nhất là không được chặt tre tươi ở bụi tre trong xóm đề phòng địch phát hiện rồi truy bức gia đình cơ sở.
Để có được một căn hầm cho tổ 3 người như vậy là cả một quá trình bí mật, mất rất nhiều công sức. Nếu một khi bị chỉ điểm thì hầm mất, người cũng mất theo luôn. Còn nhớ trận càn ngày 12 tháng 7 năm 1949 vào thôn Gio Quang xã Hữu Hưng1 (Năm 1964 xã Hữu Hưng tách thành hai xã Tây Mỗ và Đại Mỗ như hiện nay, làng Giao Quang thuộc xã Đại Mỗ), được chỉ điểm báo tin, giặc phát hiện được hai căn hầm cỡ lớn nằm bên bờ tây sông Nhuệ. Trong vòng 6 giờ đồng hồ, tổng cộng có 25 cán bộ chiến sĩ xã Hữu Hưng đã hy sinh và 7 người bị giặc bắt ngay tại miệng hai căn hầm này. Một thiệt hại quá lớn cho Hữu Hưng, một ngày tang thương, để lại ngày giỗ chung cho biết bao gia đình!.
Nói về công việc trú ẩn dưới những hầm cá nhân trong vùng địch tạm chiếm ngày đó, mà cán bộ và du kích thời đó hay gọi là "nằm hầm", thật khó có thể diễn tả hết được sự khó khăn gian khổ này. Chỉ có thể nói rằng khi lòng căm thù giặc, tinh thần yêu nước quật cường được khơi dậy thì sức chịu đựng của con người là vô hạn, đến mức có thể làm được những điều ngoài sức tưởng tượng của quân giặc ngoại xâm đến từ bất cứ một đế quốc nào.
Trao đổi với chúng tôi, ông Trương Văn Thư, người du kích từng trực tiếp hoạt động với "ông Chủ tịch Tấn", nhớ lại: "Gặp trận giặc vây, phải nằm hầm với một chị giao thông (làm giao liên), địch ở trên lấy que thuốn tìm hầm, lấy cuốc gõ nhưng may mà không trúng nắp hầm. Hầm đó chưa thuốn được thêm lỗ thông hơi nên bí hơi lắm. Thấy ầm ầm ồ trên, chị này lại lo quá thở gấp, mất hết cả khí thở cho các anh khác. Có khi chưa chết vì giặc mà đã chết vì ngạt thở. Khối anh chết vì nằm hầm ngạt thở đấy...
Mỗi trận bị giặc vây như vậy là lại rút ra kinh nghiệm. Đã đi hoạt động cách mạng là xác định đối mặt với cái chết rồi...".
Nhiều hầm trú ẩn ngoài trời được đào gần bờ ao hoặc sông để khoét thêm một ngạch nhỏ thoát nước phòng khi trời mưa. Xã An Khánh không có sông lớn nào chảy qua nên ngày đó nhiều hầm được đào ở gần bờ ao. Địch biết việc này nên sục sạo quanh bờ ao khá kỹ mỗi trận càn. Hầm xa bờ ao không có ngạch thoát nước, nằm lộ thiên ngoài trời là người du kích còn phải chiến đâu với cả thiên nhiên mỗi khi trời mưa xuống, mưa trút nước ào ào như ai đó lấy chày đập lở cả vách hầm, rồi cả rắn rết theo nước mưa chui vào trong hầm. Nằm hầm gặp trận sốt rét ác tính mà hầm lại ngập nước thì như cơm đang sôi mà đun thêm lửa. Con số thương vong ngoài vòng chiến đấu, trong đó có nằm hầm, là không hề nhỏ. Những gian khổ này, chỉ mong thế hệ mai sau hiểu thấu được một phần, cũng là quý lắm rồi!
Ông Thư cho biết: "Ông Tấn là người tổ chức, trực tiếp chỉ huy du kích và công an xã phục kích quấy rối giặc, đi đánh bốt, gọi là quấy bốt, theo thế trận chiến tranh cài răng lược, đánh bốt Thanh Quang nhiều lần lắm, làm địch mất ăn mất ngủ. Làm công tác bám cơ sở, bám địch trong vùng tạm chiếm là phải cực kỳ gan dạ, nghĩa là anh vừa làm cán bộ, mà lại vừa phải làm lính chiến đấu.
Ngoài ra, ông Tấn cùng lãnh đạo xã còn tổ chức cho lực lượng an ninh và dân quân du kích xã chúng tôi vận chuyển vũ khí trang thiết bị, lương thực từ đường dây trung ương qua địa phương An Khánh về các nơi đã được quy định của huyện.
Tôi ăn cái Tết cuối cùng với ông Tấn là hôm mùng 6 tháng Giêng năm Canh Dần. Khi tôi ở tù về thì dân làng nói ông Tấn đã đi mất rồi...".
Đến giữa tháng 8 năm 1947, địch huy động một lực lượng cơ giới mạnh từ Đại Mỗ qua chùa Tổng tiến thẳng về Ngãi Cầu, hòng giải tỏa bằng được hệ thống hào chống tăng hình chữ chi chằng chịt đã ngăn cản chúng mở thông tuyến đường 72 lên Thanh Quang suốt nửa năm qua. Thiếu thốn về vũ khí đạn dược, du kích Ngãi Cầu cùng bộ đội chỉ tổ chức đánh địch lẻ tẻ, đêm đêm lợi dụng bờ thấp có địa hình địa vật che chắn hai bên đường đánh quấy rối, cản trở chúng san ủi hệ thống công sự. Địch phải rất vất vả mất cả tuần lễ mới cho xe cơ giới vượt qua được hệ thống giao thông hào kéo dài đến gần cây số 8 đầu làng (nơi hiện nay là Phòng khám đa khoa thôn Ngãi Cầu). Sau khi không còn công sự để che chắn nữa, ông Tấn buộc phải cho du kích rút lui và hướng dẫn nhân dân sơ tán.
Sáng ngày 27 tháng 8 năm 1947, sau khi đã san ủi được hệ thống giao thông hào cho xe cơ giới vượt qua, lần đầu tiên địch càn sâu vào làng đã bắn chết 4 người dân vô tội, đều là phụ nữ. Chúng rút đi vào khoảng 8 giờ tối cùng ngày. Cũng trong trận càn đó, địch bắt được một đồng chí ở nơi khác đem lên chùa Tổng tra tấn đến chết, vứt xác ra vệ đường cái rồi rút đi. Đêm hôm đó, ông Tấn cử bà Bùi Thị Kim (thường gọi là Kim Sàng), giả làm người chăn trâu đi về hướng chùa Tổng. Bà đuổi con trâu đi trước, cầm roi đi sau, thẳng về chùa Tổng để xác định chỗ liệt sĩ này nằm. Xong xuôi, bà về báo cho ông Tấn và anh em du kích biết tình hình. Mờ sáng, du kích xã ra lấy thừng buộc vào chân liệt sĩ này kéo thử để đề phòng địch gài mìn, rồi đem thi hài liệt sĩ này về an toàn để mai táng.
Vậy là, giặc Pháp rốt cuộc cũng đã mở thông được một đầu của tuyến đường 72 dẫn về đầu làng Ngãi Cầu. Chúng vẫn chưa cắm chốt trực tiếp ở đây, nhưng đã cắm được chốt ở hai hướng Thanh Quang và Đại Mỗ. Chúng lập Phòng tuyến III, còn gọi là Phòng tuyến sông Đáy, gồm các chốt: Phùng, Thanh Quang, Mai Lĩnh, Thạch Bích, Khúc Thủy, chùa Thông, hình thành tuyến phòng thủ liên hoàn để bảo vệ thị xã Hà Đông và Hà Nội, tạo được thế đứng chân trên địa bàn Hoài Đức. Kể từ cuối năm 1947, các làng của Liên xã An Khánh - An Thượng hoàn toàn nằm trong vùng kiểm soát của giặc Pháp.
Đến thời điểm này, sau hai trận đầu đánh trực diện với giặc, lực lượng lãnh đạo trong Ủy ban kháng chiến hành chính xã Ngãi Cầu còn bám trụ lại tiếp tục công tác chẳng còn được mấy người ngoài ông Xiển, ông Tấn, ông Kế, ông Thân, ông Lục... Vũ khí trang bị cho trung đội tự vệ thì rất thiếu thốn, đạn dược đã cạn. Anh em tự vệ bảo ban nhau lấy chùa Phổ Quang và Quán vừa làm nơi tập kết, luyện tập quân sự, vừa làm nơi ẩn nấp che mắt địch vì nơi đó cây cối um tùm rậm rạp, cơ động ra phía sau lợi dụng địa hình địa vật rất thuận lợi.
Tháng 12 năm 1947, bộ binh cơ giới địch từ Đại Mỗ theo đường 72 lại càn về làng Ngãi Cầu. Lúc này, đoạn đường từ chùa Tổng đến đình làng Ngãi Cầu đã gần như bị chúng giải tỏa, giao thông hào bị lấp, xe cơ giới có thể qua lại, dù tương đối chậm chạp. Qua chùa Phổ Quang, đến cống Tây thì chúng lại gặp phải hào sâu do du kích xã đào, không thể nào qua được. Địch cho xe tăng quay ngược xuống cửa đình rồi vòng thẳng qua cổng Tắt, chạy dọc theo vệ làng đến thẳng cống Lão thì vướng ngòi nước chảy đành phải quay lại không dám qua. Đến chiều hôm đó, địch tức tối dùng xe tăng kéo đổ tam quan chùa Phổ Quang rồi vào làng bắt dân đem gạch vôi của tam quan chùa để lấp đoạn hào sâu tới một mét do dân quân du kích đào ở trên đường 72 chỗ cống Tây để xe địch đi thông lên được đê Thanh Quang. (Cống Tây là một điểm trên đường 72, đoạn qua xóm Chợ về hướng Thanh Quang mà du kích Ngãi Cầu thường xuyên đào hào để chặn xe tăng địch).
Kể từ lúc này, Hoài Đức nói chung và Liên xã An Khánh - An Thượng nói riêng nằm sâu trong vành đai khép kín của giặc. Những vị trí đồn bốt được đặt vào những nơi trọng yếu để đối phó hòng tiêu diệt du kích và cán bộ Việt Minh. Các bốt trọng yếu trong khu vực gồm có: Bốt Phùng, bốt Giá, bốt Thanh Quang, bốt Mai Lĩnh, bốt Ro Lộ. Các bốt này đều có lính Âu - Phi và lính ngụy do một tên quan Pháp chỉ huy, hay gọi là "sếp bốt".
Sau khi thất bại trong chiến dịch Việt Bắc, từ cuối 1947 đầu 1948, giặc Pháp ráo riết bình định, sử dụng những tên tay sai đã từng làm việc cho Pháp cùng những hộ địa chủ đi ngược lại đường lối kháng chiến của dân tộc làm thành phần cốt cán để dựng lên bộ máy tề ngụy tay sai cùng lực lượng hương dũng1 (Hương dũng là lực lượng bán vũ trang tay sai đắc lực cho giặc Pháp) ở các làng phục vụ cho chiến lược "Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Với những đốì tượng này, thì tư tưởng và mục tiêu cho quyền lợi cá nhân của chúng đều đi ngược lại lợi ích chung của cả dân tộc. Chúng gồm đủ mọi thành phần, những tên chỉ điểm, mật vụ, lưu manh, lính đánh thuê... chung quy lại đều là tay sai đắc lực cho thực dân Pháp xâm lược. Chúng điên cuồng chống phá cách mạng, thường xuyên tiếp tay, chỉ điểm cho giặc Pháp bắt giết cán bộ của ta. Đầu năm 1948, ông Tấn nhận được chỉ thị của huyện về thực hiện công tác Tổng phá tề trừ gian, phá thế kìm kẹp của giặc, ông chỉ đạo Ban binh vận của xã, đến 90% là phụ nữ, gồm các bà như bà Nhớn, bà Sái, bà Thuyết... bí mật đến từng thôn xóm, âm thầm vận động bà con thống nhất ngày giờ đồng loạt vùng lên. Một ngày giáp hạt năm 1948, khi địch không ngờ nhất, thì nhân dân cả 10 làng đồng loạt trống mõ nổi dậy tổng phá tề trừ gian, xé giấy lát-xê-pát-xê1 (Tiếng Pháp: Laissez passer). Đây là một loại giấy thông hành do địch cấp cho người dân để ngăn chặn cán bộ ta về bám cơ sở. Ngay trong đợt nổi dậy này, quân và dân trong xã đã xử lý 3 tên lý trưởng ở ba làng: Ngãi Cầu, Vân Lũng và Phú Vinh. Bị giáng một đòn mạnh, bộ máy tề ngụy lung lay. Các nhân viên hội tề không dám ở lại làng mà phải ở tạm Hà Đông hoặc bốt Thanh Quang vì sợ du kích bắt hoặc tiêu diệt, thỉnh thoảng mới về làng xem xét các mặt để báo cáo với quan trên.
Song với sức mạnh hung bạo của quân xâm lược, giặc Pháp cũng đã dần dần củng cố lại bộ máy tề ngụy hòng đối chọi lại thế trận chiến tranh nhân dân của ta. Giặc tăng cường lính và vũ trang mạnh hơn cho bốt Thanh Quang, xây dựng thành một bốt mạnh, án ngữ tại ngã ba đường, làm điểm tựa kiểm soát cả một vùng rộng lớn. Từ bốt này, chúng thường xuyên mở những cuộc hành quân càn quét vào từng thôn xóm, có mật thám chỉ điểm, lùng bắt cán bộ ta, gây rất nhiều khó khăn cho cách mạng.
Để đáp trả, dưới sự lãnh đạo của chi bộ đảng, ông Tấn đã chỉ đạo du kích xã lập tổ 3 người luân phiên nhau quấy rối địch về ban đêm. Các hình thức quấy phá, làm gián đoạn đường giao thông của địch như tiến hành đào phá mặt đường, đặt mìn muỗi, cắt dây điện thoại của địch trên đường 72 theo phương châm "làm chủ ban đêm, tiến lên làm chủ ban ngày".
Tháng 8 năm 1948, ông Nguyễn Ngọc Tần sau hơn một năm theo Trường Thiếu sinh quân đã được huyện cử về hoạt động ở xã. Được sự hỗ trợ của ông Nguyễn Ngọc Tần, phong trào du kích trong toàn xã lại càng phát triển mạnh. Trở về thôn, ông Nguyễn Ngọc Tần tìm gặp và nói chuyện với một số thanh niên mà bản thân ông cảm thấy họ có cùng chí hướng với ông và đủ cứng cáp để chịu đựng mọi gian khổ trong cuộc kháng chiến này. Ông đã giác ngộ và vận động được một số thanh niên ở Phú Vinh, Vân Lũng và Yên Lũng đi hoạt động cách mạng.
Với những hoạt động rất tích cực, cuối năm 1948, ông Nguyễn Ngọc Tần vinh dự được kết nạp Đảng.
Đến đây, thiết nghĩ cũng phải nói về bộ máy tề ngụy mà giặc dựng lên ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, sau khi chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của giặc phá sản trong chiến dịch Việt Bắc. Như đã nói, bộ máy tề ngụy của giặc Pháp đa phần là những tên chức sắc trong bộ máy hương lý trước ngày 19 tháng 8 năm 1945. Đội quân bảo an cho giặc lúc này, hay còn gọi là địa phương quân, chính là những tên lính hương dũng, bị bắt đi lính hoặc bị ép buộc mà phải cầm súng chống lại chính đồng bào mình. Với đặc thù của thế trận "cài răng lược" như vậy, Mặt trận Việt Minh ngoài chủ trương phá tề, trừ gian, còn đẩy mạnh việc "nắm tề", lấy việc tuyên truyền giác ngộ chính nghĩa cho binh lính đối phương quay súng về với cách mạng. Đây chính là chiến thuật "lấy nhu thắng cương" mà cha ông ta vẫn làm. Trước tiên vẫn là vận động thuyết phục, tìm cách bắt mối, nhân mối một số tên tề của đối phương, cảm hóa, dần dần để họ làm việc cung cấp thông tin cho ta, hay gọi là làm việc "hai mang". Quán triệt tinh thần này, việc sử dụng bạo lực để trấn áp chỉ là hạ sách khi mà họ đã công khai hoặc gián tiếp gây hại cho cách mạng.
Công tác nắm tề thời gian ấy thường qua hai hình thức chính:
- Tuyên truyền bán công khai bằng các mối quan hệ người làng người xã bảo ban giúp đỡ nhau tiến bộ, thấy rõ phải trái để quay về với chính nghĩa, tránh làm việc hại dân hại nước là cầm súng đi theo giặc.
- Tuyên truyền bán công khai như các cuộc gọi loa vận động, rải truyền đơn quanh bốt Thanh Quang kêu gọi anh em binh lính không cầm súng theo giặc Pháp gây tội ác với nhân dân.
Công tác "lấy nhu thắng cương" này đã có những tác động không nhỏ tới tinh thần binh sĩ đối phương. Như ở Yên Lũng, có những thanh niên ban ngày làm lính tuần tra cho chính quyền tề ngụy, đến đêm lại giũ bỏ áo lính làm du kích gây cho địch rất nhiều khó khăn.
Nói về phương pháp lãnh đạo và công tác dân vận - địch vận của ông Tấn, ông Chu Công Đồng, một thầy thuốc đông y ở xóm Bắc thôn Ngãi Cầu từng sống qua thời kỳ gian khổ ác liệt đó đúc kết lại:
"Ông Tấn bao giờ cũng ôn hòa với quần chúng nhân dân. Với những đối tượng ác ôn được dân thông báo về, ông lấy công tác vận động thuyết phục là chính, ông cho chúng tôi biết: dùng vũ lực với những đối tượng này chỉ là hạ sách... ".
Bốt Thanh Quang là một ví dụ điển hình, từ khi chính thức được xây dựng nâng cấp thành lô cốt vào cuối năm 1948, bốt này liên tục bị quấy rối bằng nhiều hình thức, cả "nóng" và "lạnh": Từ việc các nữ đồng chí làm công tác binh vận được ông Tấn cử ra bắc loa tuyên truyền, rải truyền đơn kêu gọi binh lính giặc ngừng ngay việc cầm súng tiếp tay cho giặc sát hại đồng bào, cho đến cả việc phá hàng rào, bắn súng vào bốt, trong đó có một trận đánh công đồn khiến giặc phải choáng váng mà tác giả sẽ đề cập đến ở phần sau. Để phù hợp với thực tiễn cách mạng trong tình hình mới, tháng 6 năm 1948, hai huyện Đan Phượng và Hoài Đức hợp nhất thành Liên quận huyện Bắc, gọi tắt là Liên Bắc. Từ đây quân và dân hai huyện Hoài Đức và Đan Phượng cùng sát cánh bên nhau trong cuộc kháng chiến, đứng chung dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng bộ Liên Bắc. Đến tháng 4 năm 1954, huyện Liên Bắc tách thành hai huyện Đan Phượng và Hoài Đức ngày nay.
Ông Nguyễn Đức Bảo, nguyên Chủ tịch Ủy ban hành chính xã An Khánh cho biết:
"Việc đào hầm trú ẩn thời ấy được chỉ đạo nghiêm ngặt xuống từng cấp. Nếu là hầm cá nhân thì từng cá nhân mỗi du kích đào, tự cung tự cấp. Những khi nguy cấp mỗi người có thể nhảy xuống ẩn nấp tại hầm cá nhân. Bà con cơ sở gần đấy sẽ bảo vệ, che giấu. Việc đào hầm tập thể phải hạn chế tối đa không được để quá 3 người một hầm để tránh thương vong lớn. Việc tiết lộ hầm bí mật cho một người thứ tư ở ngoài nhóm, ngoại trừ gia đình cơ sở quanh khu vực mỗi hầm là điều cực kỳ tối kỵ. Mỗi hầm đều phải có lỗ thông hơi. Đào xong, đêm đến mới được lên khỏi hầm đi đổ đất. Đổ đất cũng phải bí mật không để ai biết, ở Ngãi Cầu, đất được đổ nhiều ở bìa đất ngoài cánh đồng Hủ. Người ở trên đi gom tre vụn, tre ngâm với mấy tấm phên nứa cũ đem xuống hầm để người ở dưới rào vách hầm, thống nhất là không được chặt tre tươi ở bụi tre trong xóm đề phòng địch phát hiện rồi truy bứcgia đình cơ sở.
Để có được một căn hầm cho tổ 3 người như vậy là cả một quá trình bí mật rất nhiều công sức. Một khi bị lộ thì hầm mất, người cũng mất theo.
Trong trận càn ngày 12 tháng 7 năm 1949 của địch vào làng Giao Quang thuộc xã Hữu Hưng, do được mật thám chỉ điểm, giặc phát hiện được một số hầm nằm bên bờ tây sông Nhuệ. Trong vòng 6 giờ đồng hồ, tổng cộng có 25 cán bộ, chiến sĩ xã Hữu Hưng đã hy sinh và 7 người bị giặc bắt".
Nói về công việc trú ẩn dưới những hầm cá nhân trong vùng địch tạm chiếm ngày đó, mà cán bộ và du kích thời đó hay gọi là "nằm hầm", cụ Trương Văn Thư người du kích thôn Phú Vinh đã từng trực tiếp hoạt động với ông Chu Trí Tấn nhớ lại:
"Một lần, tôi và ông Tấn cùng một số đồng chí khác xuống hầm ở sau nhà bà Sái ở Ngãi Cầu. Hầm đó có đúng hai lỗ thông hơi bí mật bằng ống trúc đã thuốn đốt. Khi bà Sái vừa đi nhận nhiệm vụ mới thì một toán địch vào thẳng vườn nhà bà. Hôm đó có mấy con gà bới đất ở trên làm tắc cả hai lỗ thông hơi. Cả hầm thiếu dưỡng khí, anh em xỉu dần. Thấy tiếng địch réo gọi nhau ở trên, mấy anh em quyết không lên, có chết thì chết chung chứ quyết không rơi vào tay giặc. Lúc địch vừa rút, chỉ còn duy nhất ông Tấn là người khỏe nhất vẫn còn tỉnh, ông Tấn đứng dậy, một mình nhấc bổng nắp hầm lên, không khí tràn vào kịp lúc. Cả hầm thoát chết. Mỗi trận bị giặc vây như vậy là lại rút ra được bao bài học kinh nghiệm.
Nhiều hầm trú ẩn ngoài trời được đào gần bờ ao hoặc sông để khoét thêm một ngạch nhỏ thoát nước phòng khi trời mưa. Xã An Khánh không có sông lớn nào chảy qua nên ngày đó nhiều hầm được đào ở gần bờ ao. Địch biết việc này nên sục sạo quanh bờ ao khá kỹ mỗi trận càn. Hầm xa bờ ao không có ngạch thoát nước, nằm lộ thiên ngoài trời là người du kích còn phải chiến đấu với cả thiên nhiên mỗi khi trời mưa xuống, mưa trút nước ào ào như ai đó lấy chày đập lở cả vách hầm, rồi cả rắn rết theo nước mưa chui vào trong hầm. Nằm hầm gặp trận sốt rét ác tính mà hầm lại ngập nước thì như cơm đang sôi mà đun thêm lửa. Con số thương vong ngoài vòng chiến đấu, trong đó có nằm hầm, là không hề nhỏ. Đã đi hoạt động cách mạng là xác định đối mặt với sự hy sinh, mất mát rồi. Khi lòng căm thù giặc, tinh thần yêu nước quật cường được khơi dậy thì sức chịu đựng của con người là vô hạn, đến mức có thể làm được những điều ngoài sức tưởng tượng.
Ngoài ra, theo chỉ thị của trên, ông Chu Trí Tấn cùng lãnh đạo xã còn tổ chức cho dân quân du kích xã chúng tôi vận chuyển vũ khí, trang thiết bị, lương thực từ đường dây trung ương qua địa phương An Khánh về các nơi đã được quy định của huyện.
Nguyễn Văn Toàn, nguyên Bí thư Huyện Ủy Liên huyện Đan Phượng - Hoài Đức thường kể lại với anh em:
"Cần phải hiểu cho đúng, rằng như thế nào mà cán bộ du kích là có đủ nguồn kinh phí để quần nhau với giặc dai dẳng đến như vậy.
Hiện nay chúng ta đang sống trong nền kinh tế thị trường lấy việc cung cầu, quay vòng vật chất tiêu thụ làm thước đo đánh giá mọi việc làm.
Phải nói ngay rằng, với cán hộ, du kích và bộ đội trong vùng tạm chiếm của giặc suốt thời gian kháng chiến chống Pháp đều không có khái niệm lương tháng, phụ phí hay phụ cấp như thời đại bây giờ. Ngân sách đài thọ cho mọi hoạt động kháng chiến chủ yếu đều do chu cấp từ chính gia đình các cá nhân đi hoạt động, do sự ủng hộ đùm bọc của đồng bào. Người cán bộ xã được cấp từ cấp trên huyện sau mỗi cuộc họp là những xấp tài liệu, chỉ thị, mìn, lựu đạn, thuốc phòng chống sốt rét.... khi thì thêm gói thuốc thơm, mấy quả cam, túi bánh. Tết đến thì có thêm cái bánh chưng vùng tự do gửi gửi về. Như thế là quý lắm rồi. Gian khổ khó khăn là như vậy, nhưng ý chí quyết tâm của mọi người cách mạng còn cứng hơn sắt thép.
Ngoài ra, phải kể đến việc lãnh đạo để có được một số nguồn thu sau:
- Thuế công lương điền thổ: Thuế này do Ban kinh tài trong Ủy ban kháng chiến vận động nhân dân đóng góp. Ban kinh tài có trách nhiệm thay mặt lãnh đạo xã vận động nhân dân đóng góp mọi mặt, chủ yếu là về lúa gạo, quần áo mùa đông.
- Công phiếu kháng chiến: Vận động người dân mua ủng hộ cho kháng chiến, trên tấm lòng thiện nguyện là chủ yếu. Vì khi đó người dân mua mà đâu phải ai cũng dám chắc kháng chiến chắc chắn sẽ đến ngày thắng lợi để bán lại cho nhà nước đâu. Khái niệm nhà nước hay Mặt trận Việt Minh ngày ấy đối với nhiều người dân còn khá mơ hồ. Chỉ thấy cán bộ du kích chịu đựng gian khổ như thế, vất vả như thế, thì người dân cảm thấy mình đặt lòng tin đúng chỗ, vậy là họ mua công phiếu để ủng hộ. Hiểu nôm na tờ công phiếu ngày ấy giống như tờ giấy công đức ngày nay. Mua trên tinh thần thiện nguyện, chứ không ai mua để mưu cầu được bồi hoàn lấy lãi sau này. Theo báo cáo của Đảng bộ Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng ngày 25 tháng 1 năm 1950, cuộc vận động mua công phiếu kháng chiến thu được kết quả lớn, tổng số tiền mua công phiếu năm 1949 thu được là 20 vạn đồng.
- Hũ gạo kháng chiến, Hủ gạo Bác Hồ khao quân do Ủy ban kháng chiến giao nhiệm vụ cho Ban kinh tài và Hội phụ nữ cứu quốc vận động.
Tất cả những cuộc vận động đóng góp này phải được làm bí mật, trước hết chỉ vận động ở những gia đình cơ sở đáng tin cậy, rồi mới đến số ít các hộ gia đình không tham gia, không cho chính quyền tề ngụy tay sai biết.
Vũ khí trang bị cho du kích trong vùng tạm chiếm Liên huyện Đan Phượng - Hoài Đức ngày đó, đa phần vẫn là tự cung tự cấp, ngoại trừ một số loại có sức công phá cao như lựu đạn tự chế, mìn cá nhân, mìn địa lôi, mìn chống tăng, súng ba-zô-ka, v.v... thì được huyện cấp xuống và chỉ thị cho du kích trước mỗi trận đánh. Hầu hết vẫn là vũ khí thô sơ như giáo mác, đao kiếm. Có gì đánh nấy, rèn chế được thứ gì thì lấy thứ ấy đi đánh. Với những loại hỏa khí thì phải "lấy mỡ nó rán nó", nghĩa là cướp súng của giặc để mà đem đi đánh lại giặc. Khi vào trận đánh, liệu mìn, lựu đạn.... ném ra có nổ được hay không thì lại còn tùy thuộc vào... may mắn. Thực chất vì khi đó trình độ bảo quản, sửa chữa vật liệu nổ của du kích là rất hạn chế. Rất nhiều lần mìn và lựu đạn của ta, sau nhiều ngày vì phải cất dưới hầm ẩm ướt, hoặc vùi trong rơm, giấu trong bùn đất mà khi đem ra sử dụng lại không nổ.
Những việc lãnh đạo ấy, chủ tịch xã Chu Trí Tấn đã thường xuyên đề cập đến trong các cuộc họp Đảng ủy xã, huyện".
Nhớ về chủ tịch Chu Trí Tấn, ông Chu Trí Liêm ở xóm Chợ kể lại:
"Ngày bé, thầy nhà tôi kể về ông Tấn nhiều lắm. Ông Tấn hoạt động bí mật nhưng vẫn về đây luôn, không đi cổng chính lối vệ đường cái vào bao giờ, mà là đi lối vào vườn nhà tôi, vào trong buồng rút súng lục rồi cả lựu đạn ra để lau chùi sẵn sàng chiến đấu. Xong đâu đấy mới cùng với anh em trèo qua rào vào nhà ông Nghĩa, anh ruột mình. Những ngày địch mới xây bốt Ngãi Cầu, ông Tấn và anh em du kích hàng đêm vẫn trèo tường từ nhà tôi vào nhà ông Nghĩa để dò la tình hình bốt địch đóng bên kia đường, ông Tấn ở trong buồng luôn phải cảnh giác, rút súng ra sẵn sàng ứng chiến, còn ông Thau thì lấy ngón tay cái móc sẵn vào chốt quả lựu đạn, lén ra ngoài sân, trèo lên cây nhãn trong vườn ngóng về hướng cửa Quán để quan sát bốt địch...
Các ông thường nói điều mà các ông rất ngại là khi có biến thì nhỡ đâu súng bị kẹt chốt, đạn không nổ vì nằm hầm lâu ngày bùn đất vào nhiều, súng đạn dễ bị hỏng. Đến con người phải nằm hầm lâu ngày rồi cũng nhiều người ốm mà chết thành tử sĩ chứ còn nói gì đến súng đạn. Ngày ấy đạn dược thiếu thốn, tiết kiệm đến từng viên đạn, đến cả việc dùng đạn thật bắn thử ở ngoài bãi để kiểm tra súng lại trở thành điều quá xa xỉ"
hật khó mà liệt kê hết được danh sách của các mẹ, các chị đã hoạt động tại An Khánh trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Trong phạm vi ngắn của cuốn sách này, chỉ xin đề cập đến một số nhân chứng hiện còn, đã được biết về ông Chu Trí Tấn. Tuy các bà đều đã trên dưới 80 tuổi đời nhưng trí tuệ cho đến giọng nói vẫn còn rất trong sáng, minh mẫn.
Đầu tiên xin kể đến câu chuyện các sư nữ chùa Phổ Quang, một ngôi chùa linh thiêng ở phía tây Ngãi Cầu. Theo một số bà con Ngãi Cầu thì những vị sư thời đó nếu còn thì cũng đã gần 90 tuổi. Được giới thiệu về sư tiểu Thích Đàm Hán sinh năm 1927 ở chùa Phổ Quang thời ấy hiện là Sư cụ chủ trì Chùa Bộc quận Đống Đa, Hà Nội. Cháu đích tôn liệt sĩ Chu Trí Tấn là anh Chu Thành Long đã cùng tôi xin đến gặp và được Sư cụ Thích Đàm Hán tiếp chuyện đến gần một tiếng đồng hồ tại Chùa Bộc. Chúng tôi được biết:
"Thời ấy, ông Chu Trí Tấn chỉ đạo quân dân xã đào hầm cá nhân tại bờ ao, ngoài vườn, bụi tre, trong bếp, ngoài đồng, có 4 hầm còn được đào ngay tại vườn chùa Phổ Quang (chùa Ngãi Cầu), dưới điện Tam bảo nhà chùa1 (Ba hầm nằm trong gian nhà chính, 1 nằm cạnh bụi tre ngoài vườn chùa). Nhiều cuộc họp kín của anh chị em cán bộ xã huyện thường triển khai tại những căn hầm này, được sự bảo vệ, giúp đỡ của các sư thầy, sư Bác trong chùa. Một lần đặc biệt, các ông Chu Trí Tấn, Chu Trí Xiển cùng một cán bộ trên huyện cử về phải họp trong một buổi sáng. Được chỉ dẫn của sư Hán, các ông đã từ ngoài chùa, trèo lên một cây cau sang nhà Tứ Ân sau vườn họp tại đây, vừa bất ngờ, vừa bí mật. Đang họp thì mấy tên lính ngụy theo sau một tên chỉ huy Pháp qua cổng Tam Quan tiến đến cửa một hầm ngoài vườn chùa. Sư Đàm Hán nói to: "Nhà tu hành chúng tôi không thấy một người lạ nào vào chùa". Biết đây là ám hiệu có địch, cả ba đồng chí đã từ nhà Tứ Ân trèo cây cau, nhảy qua tường ra ngoài về hậu cứ an toàn.
Sau này chúng tôi được Sư cụ Thích Đàm Hán kể lại:
"Mô Phật! Các anh biết đấy. Nhà Tứ Ân còn gọi là nhà Cá Voi sau Tam Bảo ít người lui tới. Các anh gặp nhau vào ban ngày, để tránh bị lộ, chúng tôi đã bàn rồi góp ý để các anh họp tại đấy. Việc dân việc nước là quan trọng. Nhà chùa chúng tôi từ trước và mãi mãi sau này sẽ hết lòng bảo vệ các anh". Bà
Bùi Thị Kim nói:
"Giặc Pháp mang quân đánh phá nhà chùa là nơi tu hành linh thiêng. Tại đây, các sư và tăng ni phật tử chỉ biết làm điều thiện cho dân lành, ai cũng căm thù quân cướp nước. Ông Tấn, Mặt trận Việt Minh, anh chị em du kích đứng lên chiến đấu bảo vệ nhà chùa, bảo vệ nhân dân nên được nhà chùa cùng toàn thể bà con hết lòng bảo vệ giúp đỡ nhà sư Hán đã kể".
Theo bà Nguyễn Thị Sái, nguyên Chính trị viên xã đội, phó chủ tịch xã An Khánh sau ngày giải phóng 1954:
"Đầu năm 1946, ông Tấn khi đó là Phó chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm thời xã Ngãi Cầu đã đến nhà tôi giác ngộ cách mạng cho bố mẹ và gia đình tôi. Đến ngày toàn quốc kháng chiến, ông vận động bố, mẹ tôi sẵn sàng làm cơ sở hoạt động che giấu cán bộ một khi giặc Pháp tràn về, đồng thời đã giác ngộ cho hai chị em tôi đi hoạt động. Được ông giác ngộ và vận động, gia đình tôi luôn là một trong nhiều gia đình cơ sở tin cậy, trung kiên với cách mạng.
Tôi được giao nhiệm vụ tuyên truyền địch vận và công tác phụ nữ, kết hợp với chị Duôi bên xã An Thượng, chị Thào ở Yên Lũng, chị Sâm ở Phú Vinh, chị Tý ở An Thọ, chị Thuyết Chọe, chị Kim Sàng, chị Chu Thị Nhớn... để thực hiện nhiệm vụ do ông Tấn giao cho. Ông Tấn thường kết hợp mỗi lần về xã họp kiểm tra tình hình rồi trực tiếp dạy chữ cho nhiều anh chị em du kích động viên mọi người cố gắng học để thêm điều kiện hoạt động cách mạng.
Được ông giao nhiệm vụ, tôi cùng ông Viễn nhiều lần lên bốt Thanh Quang gọi loa chiêu hồi địch về với cách mạng, đi rải truyền đơn, đào hào phá cầu chặn không cho xe tăng địch tiến vào. Tôi cũng là người giao liên nhiều lần đưa thư liên lạc qua lại giữa ông Tấn với cơ sở ở Phú Vinh của ông Nguyễn Ngọc Tần (em vợ ông Tấn).
Ban đầu tôi làm công tác phụ nữ trong Ủy ban. Khi giặc tràn về, ông Tấn chỉ đạo tôi ở trong ban tổ chức thành lập đội tự vệ chiến đấu, phụ trách vận động thanh niên nam nữ tham gia Đội tự vệ xã. Thời gian đó, tôi đã là người sống công khai nhưng hoạt động bí mật. Tôi đã vận động được nhiều anh chị em tham gia đội tự vệ xã từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến. Ban ngày tôi cùng một số chị em giả làm người đi chợ để đi thăm dò tình hình địch rồi bố trí cho các anh đến tối đi chiến đấu.
Đầu năm 1948, chủ tịch Chu Trí Tấn nhận chỉ thị thực hiện công tác tổng phá tề trừ gian, phá thế kìm kẹp của giặc đã chỉ đạo Ban binh vận xã, đến 90% là phụ nữ gồm các bà Nhớn, bà Thuyết, tôi và nhiều người khác... bí mật đến từng thôn xóm vận động bà con. Một ngày, nhân dân cả 10 làng đồng loạt trống mõ nổi dậy tổng phá tề trừ gian, xé giấy lát-xê-pát-xê1 (Tiếng Pháp Laissez-passer), một loại giấy thông hành do địch cấp cho dân để ngăn chặn cán bộ ta về bám cơ sở. Ngay trong đợt nổi dậy này, quân, dân xã đã xử lý 3 tên lý trưởng Ngãi Cầu, Vân Lũng và Phú Vinh.
Sau trận này, các nhân viên hội tề không dám ở lại làng mà phải ở tạm Hà Đông hoặc các bốt gần đấy vì sợ du kích bắt hoặc tiêu diệt, thỉnh thoảng mới về làng xem xét tình hình để báo cáo quan trên.
Tháng 8 năm 1948, ông Nguyễn Ngọc Tần sau hơn một năm theo Trường Thiếu sinh quân đã được huyện cử về hoạt động ở xã cùng với ông Chu Trí Tấn, đưa phong trào du kích trong toàn xã phát triển mạnh. Trở về làng, ông Nguyễn Ngọc Tần đã giác ngộ và vận động được một số thanh niên đi hoạt động cách mạng như các ông: Ông Nguyễn Văn Cầu, Nguyễn Văn Bật, Nguyễn Hữu Tý... ở Phú Vinh; ông Trương Văn Thư, ông Khói, ông Phóng, ông Năm, ông Lãng, ông Ngỗng.... ở Vân Lũng, Yên Lũng và An Thọ cùng nhau tình nguyện đi hoạt động cách mạng.
Thời gian này, bộ máy tề ngụy của giặc Pháp đa phần là những tên chức sắc chính quyền Bảo Đại trước ngày 19 tháng 8 năm 1945 bị bắt đi lính hoặc bị ép buộc phải cầm súng chống lại chính đồng bào mình.
Với đặc thù của thế trận "cài răng lược", Mặt trận Việt Minh ngoài chủ trương phá tề, trừ gian, còn đẩy mạnh việc tuyên truyền giác ngộ chính nghĩa cho binh lính đối phương quay súng về với cách mạng.
Một ngày tháng 9 năm 1948, nhân dân trong xã bàng hoàng được tin đồng chí Phan Xích, một cán bộ Huyện đội quê ở Đan Phượng, nổi tiếng gan dạ dũng cảm đã hy sinh tại thôn Yên Lũng trong một trận chống lính bốt Thanh Quang về càn.
Ngay sau khi đồng chí Phan Xích hy sinh, quân và dẫn Liên xã An Khánh - An Thượng đã lập nhiều chiến công trả thù cho đồng đội.
Có nhiều lần, ông chủ tịch Tấn cùng ông Bếp Ngọ đã trèo lên mái nhà tôi rồi nhảy xuống trốn trong căn hầm tại đấy. Mật thám địch biết tin này đã bắt giam tôi. Nhiều lần bị bắt đánh đập nhưng tôi đã không khai báo điều gì có hại cho cách mạng vì luôn nhớ những lời đồng chí Tấn căn dặn: "Làm cách mạng bị địch bắt có chết cũng không khai báo".
Có lần tôi bị địch bắt lên chùa Cả ở Vân Lũng, bị giam ở đó một đêm, chúng không tra hỏi được gì rồi cuối cùng phải trả tự do cho bà.
Lần sau, tôi bị chúng bắt lên bốt ở Đan Phượng tra hỏi về cơ sở của ông chủ tịch Tấn và ông Bích vì chúng đã lần ra manh mối ông Tấn là chỉ huy trực tiếp của tôi. Chúng tra tấn dã man, dìm vào bể nước, cho giật điện vào hai tai nhưng vẫn như lần trước, tôi quyết không khai".
Thời gian này, ông Chu Trí Tấn nhận nhiệm vụ chỉ huy du kích xã phối hợp với anh em đội công an Z, một đơn vị biệt động của Công an tỉnh Hà Đông tìm cách thủ tiêu tên N.T.T là chánh mật thám thuộc sở mật thám Hà Đông. Tên này đã gây rất nhiều tội ác chống cách mạng và nhân dân địa phương, đã chỉ điểm cho giặc Pháp tổ chức những cuộc càn quét vào vùng quê Hà Đông. Sau nhiều ngày trinh sát và bàn bạc với du kích xã, ông thống nhất với anh em lập kế hoạch, chặn đầu, đón lõng, kiên trì nhẫn nại hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Cuối cùng, đồng chí Việt Hùng trên huyện đã cử người đánh tiếng lừa được tên Trang về chợ Ngãi Cầu.
Một buổi sáng, tên N.T.T đi xe đạp một mình về Ngãi Cầu, đến trưa, ông Tấn chỉ huy một tổ công an và du kích gồm 6 người là các ông Hoàng Giang, Hoàng Long, Hoàng Hổ thuộc đội công an Z Hà Đông cùng các ông Nguyễn Huy Tấn, trưởng ban Công an xã; ông Đỗ Đình Viễn và bà Nguyễn Thị Sái. Bà Sái được phân công giả làm người đi chợ để cảnh giới phía trước.
Vừa đến cổng chợ, với bản năng của một tên mật thám lành nghề, nó đánh hơi thấy có động liền phóng xe đạp, quay ngược lại bỏ trốn, ông Tấn chỉ huy đội công an và du kích cùng một số anh em công an đuổi theo, đồng thời rút súng ngắn bắn chỉ thiên báo cho tổ chốt chặn ở đầu làng sẵn sàng hành động. Chạy đến ngoài cây số 8 đầu làng, đội du kích và anh em công an nổ súng tiêu diệt gọn tên này, thu một súng ngắn, một xe đạp, một cặp tài liệu. Ta và dân không ai có thương vong. Chiếc xe đạp chiến lợi phẩm được bán đi, mua được một khẩu súng trang bị cho du kích xã.
Cuối năm 1948, nhiều lần lính lê dương Pháp dùng xe cam nhông đến chùa Phổ Quang nhưng khi gặp những đoạn đường hào bị phá hoại phải dừng lại không đến được đê Thanh Quang. Chúng bắt dân ra san lấp đường hào do du kích đào. Du kích ta từ phía Thanh Quang bắn ra quấy rối, đêm lại ra đào phá đường tiếp gây cho địch rất nhiều khó khăn.
Để tạo thế đứng chân lâu dài ở khu vực trung tâm Liên xã An Khánh - An Thượng, địch âm mưu dựng bốt ngay tại chùa Phổ Quang. Chúng vận chuyển quân trang quân dụng, mang theo rất nhiều dây thép gai đến nơi, bắt dân tập trung san lấp cổng Tây và đường hào.
Vì thế cán bộ và chiến sĩ ta khó có thể ăn ngủ bán công khai ở đây. Các cán bộ nòng cốt như ông Tấn, ôn Xiển phải rút vào hoạt động bí mật, dựa vào dân, dựa vào xóm làng che chở.
Ở chùa Phổ Quang đi, địch kéo quân vào chùa. Do dỡ hết đồ thờ, đem cả tượng Phật lấp lối thông đường đóng chốt tại đây.
Nhận được chỉ thị của huyện, ông Chu Trí Tấn họp bàn với anh chị em du kích quyết định: "Phải đánh cho bọn địch chốt ở chùa Do rút hết ra ngoài!".
Du kích An Khánh được cấp trên trang bị một khẩu ba-zô-ka, loại súng chống tăng, phá lô cốt rất quý thời ấy.
Có ba-zô-ka, ông Chu Trí Tấn đã chỉ định ông Chu Công Thau làm khẩu đội trưởng, các ông Bùi Thế Đằng và Chu Trí Miến là pháo thủ.
Đêm nào ta cũng bắn ba-zô-ka vào đồn giặc nên chỉ sau mấy ngày, địch đã phải bỏ bốt chùa Do lên Thanh Quang, bắt dân xây đồn, đào hào đắp lũy bảo vệ.
Địch ở bốt Thanh Quang gọi pháo từ thị xã Hà Đông bắn quanh làng, rồi cho máy bay thả bom xăng rải thảm. Sau đó một tên quan Pháp cầm đầu một trung đội hnh com-măng-đô tràn vào làng đốt phá, cướp bóc, bắn giết. Hơn 120 ngôi nhà cùng nhiều tài sản, thóc lúa, lợn gà bị thiêu cháy. Một tội ác tày trời của quân giặc. Tên cai Trạc ở bốt Thanh Quang đã dẫn giặc vào làng rồi chính tay hắn châm lửa đốt nhà dân. Sau đó, công an quận IV Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng cùng du kích xã đã phối hợp bắt sống tên cai Trạc, buộc hắn phải đền tội với nhân dân Ngãi Cầu.
Ông Trương Văn Toàn, nguyên Bí thư Huyện ủy Liên Bắc, nguyên Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, từng trực tiếp chiến đấu nhiều trận cùng ông Tấn cho biết:
"Ngày 8 tháng 12 năm 1948, ông Chu Trí Tấn đã trực tiếp chỉ huy du kích An Khánh cùng du kích các vùng lân cận phối hợp với tiểu đoàn Đống Đa thuộc Trung đoàn 48 Thăng Long tiêu diệt đồn Đại Mỗ, một vị trí có 40 ngụy binh do cha con tên Bếp Tý chỉ huy. Trong trận này, ta diệt gọn hai bố con tên Bếp Tý, bắt nhiều tù binh, thu toàn bộ vũ khí, trang thiết bị".
Trong một trận càn của giặc Pháp năm 1948, ta bị địch bao vây bốh phía, ông Tấn đưa cho bà Sái cùng đi một túi tài liệu rồi bảo bà phải cố thoát vòng vây. Bà đã cho một hòn đá vào túi tài liệu rồi vứt xuống ao. Thoát được vòng vây về đơn vị, bà Sái gặp ông Tấn để xin kiểm điểm về việc đã vứt tài liệu xuống ao.
Ông Tấn động viên: "Đồng chí làm vậy là đúng vì nếu không, túi tài liệu này lọt vào tay giặc thì không biết có bao nhiêu người phải hy sinh".
Trận đánh này được ghi chép trong cuốh "Lịch sử Cách mạng huyện Hoài Đức 1926-1975" xuất bản tháng 5 năm 1997 như sau:
"21 giờ ngày 8 tháng 12 năm 1948, bộ đội du kích vừa nổ súng, vừa phát loa kêu gọi anh em nhân mối và binh lính cùng phối hợp hành động. Kết quả là đã thu được toàn bộ vũ khí đạn dược, quân trang quân dụng, phóng lửa đốt đồn, giải tù binh ra vùng tự do, đồn trưởng bị diệt. Chiến thắng Đại Mỗ đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào chiến tranh du kích ở huyện, giáng một đòn đích đáng vào âm mưu "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của địch".
Trong tập san "Sinh hoạt nội bộ" số 2 tháng 12 năm 1948, đồng chí Trường Chinh đã đánh giá thắng lợi của trận tiêu diệt đồn Đại Mỗ trong bài "Nhất định phải phá kế hoạch của Pháp chiếm hình tam giác Hà Nội - Sơn Tây - Hòa Bình". Bài này có đoạn viết:
"Về chiến lược, tất cả các khu vực, các mặt trận toàn quốc phải đánh mạnh để phối hợp với các mặt trận Trung du và Mặt trận Liên khu II Bắc Bộ, không cho địch tập trung quân và rảnh tay đánh những nơi đó. Phải phá trận tấn công Thu Đông của địch về mọi mặt, quân sự, kinh tế, chính trị... Thi hành những nhiệm vụ trên, ta đã thấy quân ta tiêu diệt vị trí Đại Mỗ (Hà Đông) đêm 8 tháng 11 năm 1948".
Cuốn "Hà Tây, lịch sử kháng chiến chông thực dân Pháp 1945-1954", Nxb Quân đội nhân dân 1998 ghi:
"Trận nội công ngoại kích đồn Đại Mỗ là niềm tự hào của các lực lượng vũ trang và ngành địch vận của tỉnh Hà Đông".
Một lần, ông Lê Chân, Bí thư Huyện ủy Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng và bà Nguyễn Thị Sái bị địch bắt về bốt Thanh Quang.
Bà Sái kể lại:
"Tên sếp bốt tra hỏi tôi:
- Mày ở đâu?
- Tôi ở làng Ngãi Cầu!
- Mày có biết thằng Chu Trí Tấn không?
- Tôi có biết!
- Thế giờ nó ở đâu?
- Trước vợ chồng anh ấy làm thợ may, đến khi quân Pháp về thì vợ chồng anh ấy chạy đi đâu tôi không rõ.
- Mày còn cãi, thằng Tấn làm chủ tịch mà mày không biết.
- Anh Tấn làm chủ tịch thì các ông biết chứ tôi người làng có biết đâu. Tôi chỉ biết vợ chồng anh Tấn làm thợ may rồi bỏ đi đâu tôi không biết.
- Thế mày biết thằng Chu Danh Bích không?
- Tôi có biết!
- Thằng Bích làm gì?
- Trước anh Bích đi buôn trâu bò, giờ anh ấy làm thầy cúng chạy đi đâu tôi không rõ nữa.
- Mày còn cãi, nó làm ở xã đội xã Sơn Trang.
- Các ông biết thì đi mà bắt anh Bích chứ tôi đâu có biết xã đội xã đung gì đâu".
Lần nữa, ông Lê Chân lại cùng bà Sái và một số đồng chí khác bị bắt, bị trói đưa về bốt. Sau khi tra tấn dã man, tên chỉ huy bốt hỏi ông Lê Chân:
- Mày làm gì bọn tao biết cả rồi. Không phải nhiều lời!
Ông nói thẳng vào mặt chúng:
- Tao không sợ chết. Chúng mày có sợ chết không?
Chúng cởi trói cho ông rồi một tên rút con dao găm cắm lên bàn. Tên đội nói:
- Mày chết thử tao xem nào!
Ông đẩy chiếc bàn làm tên đội ngã ngửa rồi nói với các đồng chí:
- Các đồng chí, hãy noi gương tôi, đừng sợ chết, tất cả vì Cách mạng.
Sau đó ông đã rút dao găm rạch bụng tự vẫn ngay trước mặt bà Sái và các đồng chí khác đang bị trói cạnh ông.
Tên thầy Đội tiếp tục tra khảo bà Sái:
- Có người nói là mày có một khẩu súng lục, có phải vậy không?
Bà ngạc nhiên, vì bà làm công tác giao liên và công tác phụ nữ thì lấy đâu ra súng lục, đến cả du kích của xã có người vẫn phải dùng đao kiếm chứ đã làm gì có súng. Nhưng rồi bà bình tĩnh nói:
- Có, tao có súng lục đấy!
- Thế súng của mày để đâu?
- Súng tao để cho ông chủ tịch Tấn và các đồng chí của tao bắn vào lũ chúng mày để trả thù cho anh Lê Chân. Tao làm cách mạng có chết cũng không tiếc đâu!
Tra tấn không khai thác được gì, chúng bắt bà đi tù ở Nhà Tiền, Hà Nội.
Bà bị bắt được một tháng thì em trai bà hy sinh cùng lúc với 9 liệt sĩ khác ngày 10 tháng 12 năm 1950 tại Ngãi Cầu do bị chỉ điểm.
Xin giới thiệu tiếp đến một nữ đồng chí khác trong "Đội quân tóc dài" An Khánh, bà Bùi Thị Kim. Bà bắt đầu tham gia cách mạng từ đầu năm 1947. Đến tháng 5 năm 1948, tại Đại hội của Ủy ban xã họp tại nhà bà Hải, bà Kim chính thức được ông Tấn cử vào hoạt động trong Ban binh vận của xã. Giặc Pháp về đóng ở Cầu Đôi lập phòng tuyến II bảo vệ Hà Nội, xây bốt Đại Mỗ. Theo chỉ đạo của ông Tấn, bà và Ban địch vận đã nhiều lần ra bốt Đại Mỗ rải truyền đơn kêu gọi binh lính ngụy buông súng về với cách mạng, góp phần vào trận diệt đồn Đại Mỗ của du kích Liên xã An Khánh - An Thượng do ông Chu Trí Tấn trực tiếp chỉ huy cuối năm 1948.
Nữ du kích Bùi Thị Kim cùng các chị trong Ban binh vận đã nhiều lần cùng nhau vận động dân làng đi đào hào chữ chi ngang đường đoạn cống Tây vào chùa Phổ Quang để ngăn không cho xe tăng đi qua. Bà được ông Tấn giao nhiệm vụ trinh sát và cảnh giới. Cứ sáng ra là đội nón xách theo đôi quang gánh giả vờ đi chợ, nếu thấy có địch hoặc thấy động thì hạ nón xuống khoác vào cánh tay để các anh em biết mà lánh. Nếu phát hiện thấy dấu hiệu địch chuẩn bị có hoạt động quân sự là lại báo về cho cơ sở của ông Tấn biết. Sẩm tối là bà lại treo nắm cơm trên nóc hầm cho các ông lên ăn rồi đi hoạt động. Bà từng cùng nhiều chị em góp tiền mua vũ khí cho du kích. Thường các cuộc họp bí mật của Huyện ủy được tổ chức tại cơ sở bí mật trong So Sở, cán bộ đi họp bịt mặt bằng khăn vuông, không biết mặt, chỉ biết tiếng. Trong các đồng chí lãnh đạo huyện trực tiếp họp bàn giao chỉ thị cho ông Tấn, bà Kim còn nhớ có ông Việt Hùng, cán bộ công an huyện, ông Chấn Hưng và ông Hoàng Lễ.
Và tiếp theo là bà Nguyễn Thị Cúc, con gái nhà cụ Rậm ở xóm Bắc, một gia đình cơ sở trung kiên với cách mạng. Nhà bà là cơ sở từng che giấu rất nhiều cán bộ và du kích. Bà chỉ lo cơm nước cho anh em về hoạt động, còn lại bà không tham gia các cuộc họp của cán bộ Việt Minh theo nguyên tắc bí mật. Vườn nhà bà có cái ao và bụi tre rất rộng nên rất thuận lợi cho cán bộ và du kích đào hầm làm cơ sở ra vào xã. Thường xuyên ở cơ sở nhà bà là ông Tấn, ông Xiển, ông Bích, ông Thau, ông Chu Hữu Thông và các anh em bộ đội C36. Nhớ về ông Tấn, bà Cúc nói:
"Tôi nhớ nhất có một lần sẩm tối, sau giờ xơi cơm, tôi ra sân lấy đôi đũa cả gõ vào cái ống tre đựng đũa làm ám hiệu cho các anh trong hầm lên ăn cơm. Vừa lên được một lúc thì địch càn về vây tứ phía. Mỗi anh em chạy một nơi. Ông Tấn nhảy lên ngay đỉnh đống rạ góc sân nhà, lấy rạ đắp lên người. Địch đi qua lấy bồ cào bới gốc rạ. Ông Tấn nằm ngay trên đấy mà chúng không biết. Khi không bắt được ai, chúng bỏ đi. Thấy yên, tôi gõ đũa làm ám hiệu cho anh em. Ngay hôm sau bọn địch lại đến nhà tôi đập cửa. Ông Tấn với anh em nấp trong vườn chuẩn bị sẵn sàng đối phó. Tôi mở cửa cho chúng nó vào sân. Chỉ mấy phát súng của ông Tấn, chúng nó bỏ chạy tán loạn".
Chị em nữ du kích xã thường nói với nhau về việc Chủ tịch Tấn rất quan tâm đến đội quân tóc dài vì theo ông chị em có lợi thế là ít bị địch theo dõi. Chúng cho phụ nữ chỉ là những người nội trợ đi chợ mua, bán. Ông Tấn hay giáo dục chị em bằng hình thức kể những câu chuyện lịch sử yêu nước của hai chị em bà Trưng Trắc, Trưng Nhị đã tuyển quân, chỉ huy quân trong đó có đến hàng chục nữ tướng tóc dài đánh tan đội quân xâm lược của Thái thú Tô Định đời nhà Hán, lần đầu chấm dứt chế độ thống trị 246 năm của đế quốc xâm lược phương Bắc. Sau Hai Bà Trưng tiếp đến Bà Triệu, với một đội quân có rất nhiều chị em đã đánh tan quân xâm lược đời Đông Ngô. Dưới thời Pháp thuộc là bà Đặng Thị Nhu, vợ ông Hoàng Hoa Thám đã giúp chồng trong chỉ huy cuộc khởi nghĩa Yên Thế, Bắc Giang, tạo điều kiện cho ông Hoàng Hoa Thám được tôn vinh là "Đề Thám - con Hùm sám vùng Yên Thế".
Từ năm 1949, thực dân Pháp đã chiếm đóng hoàn toàn Liên huyện Đan Phượng - Hoài Đức (huyện Liên Bắc), gồm 7 phân khu quân sự lớn ở Thụy Phương, Hạ Trì, Phùng, Giá (Đắc sở), Thanh Quang, Diễn (Phú Diễn) và Lai Xá; cùng nhiều đồn bốt khác do lính ngụy và tề vũ trang chiếm đóng. Địa bàn xã An Khánh nằm sâu trong vùng tạm chiếm, việc vận động khí tài từ xưởng quân giới tỉnh Hà Đông đóng ở Mỹ Đức và cấp dưỡng cho dân quân du kích đánh địch là rất khó khăn.
Cho tới cuối năm 1949, lực lượng vũ trang tỉnh Hà Đông đã hình thành hai thứ quân: Dân quân du kích ở thôn, xã và bộ đội địa phương ở tỉnh, huyện. Dân quân du kích toàn tỉnh Hà Đông có 114 súng trường, 5 tiểu liên, chủ yếu vẫn là mìn, lựu đạn, địa lôi: bộ đội địa phương các huyện của tỉnh Hà Đông đã có 319 súng trường, 14 trung liên, 41 tiểu liên và 2 khẩu súng cối.
Ngày 10 tháng 2 năm 1949, được mật thám báo tin ông Tấn đang họp với du kích mấy làng ở thôn 14 Phú Vinh, địch từ bốt Thanh Quang bủa về vây bắt ông. Ông Tấn đã chỉ huy du kích dùng lựu đạn đánh chặn địch ngay ở cổng thôn rồi rút lui về đầu ngõ nhà ông Sơ ở làng An Thọ. Địch đuổi theo hòng bắt bằng được ông chủ tịch xã. Bị vây chặt bốn bề, ông Tấn đã ném một quả lựu đạn về phía bọn địch đang đuổi ông. Thừa lúc địch nằm rạp hết xuống tránh lựu đạn nổ, ông Tấn và ông Nguyễn Đức Bảo (có thời đã là bí thư đảng bộ xã An Khánh) chạy vào nhà ông Sơ rồi nấp vào căn hầm ở ngay bụi tre trong vườn sau nhà và thoát được trận vây này an toàn.
Không bắt được ông Tấn, địch kéo nhau đến Phú Vinh gọi dân ra đình làng rồi bắt 8 người đi tù. Sau này, kể lại kỷ niệm với ông Chu Trí Tấn trong trận đánh ngày 10 tháng 2 năm 1949, ông Bảo đúc kết sáu chữ để mô tả về vị chủ tịch xã đầu tiên này: "Gan dạ - Mạo hiểm - Mưu lược".
Mờ sáng ngày 19 tháng 4 năm 1949, lính Com-măng-đô từ Hà Đông có xe tăng yểm trợ tổ chức một trận càn lớn theo đường 72 về hướng đê sông Đáy để giải vây cho đồng bọn ở bốt Thanh Quang đang bị du kích Liên xã An Khánh - An Thượng và Vân Côn, Đại La vây lỏng suốt 7 ngày 7 đêm.
Rơi vào thế trận báo động liên hoàn chiến của ta, không quá bất ngờ, ông Tấn cùng du kích xã đã bình tĩnh tổ chức đánh chặn địch bằng lựu đạn chày ngay khi một cánh quân của chúng mới đánh qua chùa Tổng tới Ngãi Cầu, đẩy lui trận càn này của giặc sau nhiều giờ chiến đấu. Chiến thắng này được Tỉnh ủy biểu dương ngay sau đó là một trong những "trận chiến đấu chống càn điển hình của dân quân du kích", đồng thời "đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang địa phương".
Cùng với những trận phục kích địch ngay giữa ban ngày ở khu Biển Sắt (ngã ba Hà Đông - Tây Mỗ - Ngãi Cầu) trong năm 1950, lực lượng vũ trang Liên xã An Khánh - An Thượng với hạt nhân nòng cốt là anh chị em du kích thôn Ngãi Cầu xứng đáng với 8 chữ được nhân dân trong vùng vẫn tôn vinh: "Tây cự Thanh Quang - Đông chiến Biển Sắt".
Tháng 4 năm 1949, ông Tấn được huyện giao nhiệm vụ cùng đồng chí xã đội trưởng dẫn đầu một số anh em du kích xuất sắc của xã và bộ đội địa phương sang vùng tự do bên tả ngạn sông Hồng tham dự Đại hội dân quân du kích toàn huyện để chính thức thành lập một đơn vị bộ đội địa phương đầu tiên của huyện, đặt phiên hiệu là Đại đội 36 Liên Bắc. Ông Chu Công Thau, ông Chu Danh Bích, ông Trần Thọ Châu và nhiều đồng chí khác đã đi cùng ông Tấn trong chuyên hành trình dài tới 120km đường chim bay cả đi và về lần đó. Trước ngày lên đường, ông nói với vợ: "Anh đi công tác mãi bên tả ngạn sông Hồng, có khi đến vụ khoai mới về". Vì cần giữ bí mật công việc nên khi vợ ông gặng hỏi đi xã nào ông đều không nói.
Đây là cuộc hành quân lâu nhất và dài nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông. Những trận ông và anh em đi quấy bốt Phùng, bốt Trôi, bốt Lai Xá, hay sang vùng tự do Hòa Bình học khóa quân sự - chính trị ngắn ngày tuy có nằm xa địa bàn xã An Khánh nhưng cũng không xa bằng chuyến đi trên 100km lên Phúc Yên lần này. Những ngày trước đây, ông từ Quốc Oai sang Hòa Bình, vợ ông vẫn theo sang để lo cơm nước cho ông nhưng lần này, ông không thể để vợ đi theo được.
Giặc đã chiếm được Sơn Tây, nếu đi vòng qua Hòa Bình, Phú Thọ thì an toàn nhưng sẽ rất xa, không thể đến kịp ngày dự Đại hội. Chỉ còn cách luồn thẳng qua vùng địch kiểm soát, lấy điểm tập kết là bến đò Liên Trì mà thẳng tiến.
Lấy đêm làm ngày, bí mật luồn lách ngay trong lòng địch mà vẫn phải đảm bảo hành quân thần tốc cho kịp ngày khai mạc đại hội. Sẩm tối ăn vội nắm cơm xong là lại lên đường. Ban ngày ngủ lại trong hầm bí mật của những gia đình cơ sở do huyện sắp đặt, nhiều lần phải rúc ngoài bãi trên đồng để ngủ, tránh địch đi càn. Các ông phải tìm cách vượt qua đường 11A (nay là đường 32 Hà Nội - Sơn Tây), khi đó địch đã kiểm soát rất gắt gao để nối thông mạch tiếp tế cho thị xã Sơn Tây mà chúng vừa đánh chiếm được. Được bà con cơ sở thôn Nội xã Đức Thượng chỉ dẫn và che chở, các ông tìm được điểm cắt ngang an toàn là những bãi ngô bãi mía rậm rạp ở hai bên đường. Trong một đêm tối trời mù mịt đứng cách nhau vài bước chân mà còn không nhìn rõ mặt người, ông dẫn anh em du kích băng qua đường 11A, lủi nhanh vào bãi ngô, rồi thẳng tiến về hướng Tân Hội.
Đến được bờ sông Hồng tại bến đò Liên Trì, các ông bí mật tập kết bằng thuyền nan của cơ sở cung cấp. Vừa chèo được mấy con nước thì thấy tiếng địch gọi nhau từ phía sau lưng. Các ông cho thuyền tấp vội vào bãi nổi ở giữa sông Hồng, lau sậy um tùm. Bãi này được các ông gọi là bãi sậy Kim Cường, bí danh của một đồng chí cán bộ huyện đã hy sinh ở đấy. Thuyền chuẩn bị vào bãi, tất cả súng đều lên đạn, lựu đạn chày đã sẵn sàng nếu có địch phục kích nấp ở trong bãi bắn ra. Rất may bãi này đã được người của ta ém sẵn làm điểm trung chuyển cho cán bộ trong đợt tập kết này. Suốt cả một thời gian dài, bãi sậy trở thành nơi đứng chân, ra vào nội địa của lực lượng kháng chiến Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng. Thuyền vừa tấp vào bờ là anh em mỗi người một tay đưa thuyền đi giấu ở mạn sau bãi. Địch cho xe tải đến lia đèn pha ra bãi nhưng không thấy gì. Chúng quanh quẩn một lát rồi bỏ đi. Anh em ém quân trên bãi đến gần sáng, rồi cử hai đồng chí chèo thuyền lên bờ tả ngạn trước để dẫn đường, vào gặp được người của ta rồi mới đốt lửa ra hiệu cho toàn đội ra khỏi bãi sậy đi thuyền đến địa điểm dự họp an toàn.
Cuộc hội quân chuẩn bị cho Đại hội dân quân toàn huyện diễn ra tại rừng Sặt, làng Thái Lai, tỉnh Phúc Yên. Trên 500 du kích, bộ đội, cán bộ, đảng viên và 2000 đại biểu nhân dân trong huyện đã vượt qua sông Hồng, tập trung sang vùng tự do Vĩnh Phúc mở Đại hội làm lễ ra mắt Đại đội 36.
Tuy có một số mất mát hy sinh trên đường hành quân, nhất là khu vực quanh bãi sậy Kim Cường khi bị địch truy kích, nhưng việc một lực lượng lớn cán bộ du kích từ trong vùng địch kiểm soát luồn ra được tả ngạn sông Hồng để tập trung đông đến như vậy đã là một cố gắng không nhỏ của ta.
Nếu không có nhân dân đùm bọc che chở, không có sự nhất quán về ý chí của người lãnh đạo từ trên huyện xuống các tổ Đảng từng thôn, sẽ không thể có ngày hội quân đông đảo với khí thế hùng hậu như vậy.
Ngoài khóa học được đặt tên là lớp Trần Phú để nâng cao tư tưởng chính trị ngắn hạn cho cán bộ, huyện đội cũng tổ chức diễn tập, giao lưu quân sự giữa du kích các xã với bộ đội. Tổ chức diễn tập chống càn theo đội hình "cuốn chiếu" để chống lại chiến thuật thọc sâu đánh vu hồi bằng cơ giới của địch. Tuy trong hoàn cảnh khó khăn nhưng lễ thành lập Đại đội 36 bộ đội liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng vẫn được tổ chức trang trọng.
Đồng chí Lê Thao được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 36, chọn ra những dân quân, du kích xuất sắc nhất thành lập ba trung đội (gồm 9 tiểu đội). Xã Ngãi Cầu vinh dự được đóng góp hai trong số ba trung đội trưởng của Đại đội 36 là ông Chu Công Thau và Chu Danh Bích.
Khi trở về vùng tạm chiếm, dự kiến mỗi trung đội sẽ đóng trên địa bàn một số xã như Tân Hội, Trung Kiên, Phương Sơn, Đại La, Liên xã An Khánh - An Thượng...
Sau lễ thành lập, Đại đội 36 Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng được trang bị thêm đạn dược và lựu đạn tự chế để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ mới. Việc thành lập Đại đội xuất phát từ đường lối chiến tranh nhân dân của Mặt trận Việt Minh: cần phải có ba thứ quân là bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích.
Đến cuối năm 1949, Đại đội 36 từ lúc chỉ có 124 chiến sĩ, biên chế thành 3 trung đội, du kích tập trung của các xã đã tăng lên đến 2.196 chiến sĩ biên chế thành 21 tiểu đội hoạt động, chiến đấu trong phạm vi Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng.
Với riêng ông Chu Trí Tấn, điều làm ông và anh em du kích xã đi theo bất ngờ trong dịp này không chỉ là ở mức độ tập trung đông đảo với các loại vũ khí mới được trưng bày và hướng dẫn cách sử dụng, tháo lắp đạn... mà còn là ở sự xuất hiện của chính người vợ thân yêu của ông.
Biết ông phải đi công tác xa, sợ không có người lo cơm nước đến nơi đến chôn, bà gặng hỏi mãi, một đồng chí của ông mới cho bà biết ông phải hành quân đi họp ở Phúc Yên.
Không quản ngại đường xa, bà đã mang theo đôi quang gánh chất đầy võng đay (Ngãi Cầu thời đó vẫn còn nghề đan võng đay), luồn qua nhiều vùng địch kiểm soát gắt gao mới đến được Phúc Yên.
Tại đây, trong suốt thời gian hơn một tháng diễn ra Đại hội, bà vào làm thuê trong làng gốm Hương Canh, chiều lại mang theo đôi quang gánh đi nhờ xe bò về làng Thái Lai, nơi ông học để cơm nước cho ông ăn.
Bà đã "cầm" cả chiếc nhẫn hồi môn hai đồng cân vàng, lấy tiền nuôi ông đi học những ngày ở Phúc Yên.
Đến khi kết thúc khóa học, ông Tấn và anh em trở về xã, bà vẫn ở lại làm thuê cho lò gốm ở Hương Canh một thời gian để chuộc lại chiếc nhẫn và có thêm ít tiền để về vùng tự do Hòa Bình.
Chỉ ít ngày ngay sau khi bà về quê chăm sóc chồng và em trai hoạt động cách mạng, tháng 8 năm 1949, địch chiếm Phúc Yên, Vinh Yên.
Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng hoàn toàn nằm trong vòng vây của giặc.
Sau khi thành lập Đại đội 36, anh em đại đội cùng du kích Liên xã An Khánh - An Thượng đã lập chiến công trong trận đầu ra quân đánh giặc.
Cuối tháng 6 năm 1949, du kích Liên xã An Khánh - An Thượng do ông Chu Trí Tấn chỉ huy phối hợp với du kích xã Đại La và xã Hữu Hưng cùng Trung đội 1 của Đại đội 36 (do đồng chí Thau làm Trung đội trường) chống lại cuộc càn quét đông tới hơn một tiểu đoàn của địch tại thôn Tây Mỗ, giành thắng lợi vang dội. Mìn, lựu đạn nổ rền suốt từ sáng sớm khi chúng vừa đặt chân tới cho đến tận chiều tối. Nhiều xe cam-nhông của địch bị phá hủy.
Địch phải dùng đến cả bao tải đựng xác đồng bọn mà không xuể. Chúng phải đem xăng thui cháy xác đồng bọn rồi bỏ lại địa phương.
Đây là một trong số các trận đánh mà Chu Trí Tấn chỉ huy và điều động du kích tham chiến ở khu vực ngoài địa bàn Liên xã An Khánh - An Thượng.
Sau trận đánh này, ông Chu Công Thau vinh dự được kết nạp Đảng vào ngày 30 tháng 8 năm 1949.
CỦNG CỐ TINH THẦN CÁCH MẠNG
Trong những ngày tháng khó khăn đầu cuộc kháng chiến, với những cuộc tàn sát, khủng bố bắt bớ dã man của giặc, không thể tránh khỏi có một số quần chúng và cả một bộ phận cán bộ đảng viên hoang mang dao động.
Cuối năm 1948, giặc thường xuyên cho bọn hương dũng đến gia đình mẹ con, anh em ông Nghĩa, ông Tấn truy bức và khủng bố, dỡ gần hết ngói ở gian nhà thờ tổ, đòi đập bể nước mưa trong nhà để lấy gạch xây bốt Thanh Quang. Không biết bao nhiêu lần anh trai ông và mẹ ông đã phải chạy vạy lạy lục chúng, chúng mới cho qua. Từ khi biết vợ ông Tấn mới đẻ con trai, chúng truy lùng hai mẹ con rất dữ. Bà phải bế con là Chu Trí Thắng chạy trốn khi thì ở Vân Canh, khi ở Phùng, lúc lại ở So Sở, rồi ra đến vùng tự do Hòa Bình, không dám về xã.
Một ngày giữa năm 1950, ông Tấn nhận thư hỏa tốc phải lên huyện họp gấp. Trong cuộc họp với đồng chí Việt Hùng và các đồng chí đại diện của Tổng bộ Việt Minh tại núi Trầm, huyện Quốc Oai, các ông nhận chỉ thị:
"Khắp nơi trên các chiến trường đồng bằng Bắc Bộ cần tăng cường quây rối địch, tiêu hao sinh lực địch, tạo điều kiện để bộ đội chủ lực mở chiến dịch Biên giới. Đây là một chiến dịch quyết định mang tính bản lề trong cuộc kháng chiến chống Pháp: Khai thông tuyến biên giới Việt - Trung, phá thế bao vây cô lập của giặc, mở toang cánh cửa giao lưu với khối các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên toàn thế giới".
Về lại Ngãi Cầu, ông chỉ đạo du kích thực hiện một loạt các cuộc đánh mìn liên hoàn trên đường 72, trong đó có trận đánh mìn ngày 20 tháng 6 năm 1950 cùng lúc tại 3 điểm: Chùa Tổng, cửa trường tiểu học cũ cạnh đình làng và cống Tây đầu chợ Ngãi Cầu. Sáng sớm hôm đó, giặc từ bốt Thanh Quang xuống đường 72 tuần tiễu. Đi đến cổng Tây đầu chợ Ngãi Cầu, đoàn quân địch đã bị trúng mìn địa lôi của du kích, bị thương một số. Chúng hoảng loạn kéo nhau về bốt Thanh Quang cố thủ, đánh điện gọi chi viện từ bốt Phùng sang ứng cứu.
Ngay đêm hôm ấy, một đại đội lính ngụy từ bốt Phùng do tên Xích Tộ chỉ huy lợi dụng đêm tối bí mật đột nhập vào làng Ngãi Cầu - cơ quan đầu não chỉ huy kháng chiến của Liên xã An Khánh - An Thượng. Đến sáng, địch đồng loạt nổ súng tấn công hai khu du kích tập trung của xã tại nhà ông Chu Hữu Bào (nhà cụ Rậm) và nhà ông Chu Công Xứng (nhà cụ Lượng).
Hai bên đánh nhau rất quyết liệt, tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ vang trời, cả gia đình nhà cụ Rậm, rồi cả ông Thông, bà Hải, bà Thảo... người thì chạy ra hô hoán để đánh lừa địch, người thì nghi binh đánh lạc hướng địch, tạo điều kiện cho du kích vừa đánh vừa rút. Với quân số và hỏa lực vượt trội, địch chiếm được các cứ điểm án ngữ trong làng. Bọn chúng kéo đến nhà cụ Rậm, cụ Lượng cướp phá, tịch thu hết nồi niêu, thóc gạo, lợn gà...
Ông Tấn chủ động chỉ huy anh em du kích chiến đấu cho đến tận trưa rồi lợi dụng bờ ngòi phía bắc làng, phân tán lực lượng về phía cánh đồng Hũ (nông trường An Khánh ngày nay), rút về hậu cứ an toàn.
Trong trận này, ta tiêu diệt 2 tên địch, một số tên khác bị thương.
Từ thời điểm ấy cho đến hết vụ mùa năm 1950, du kích xã đã thay đổi chiến thuật: Đêm vào làng hoạt động, còn ngày thì ra đồng trú ẩn để bảo toàn lực lượng, tránh mọi sự va chạm ngoài mong muốn vì giặc thường càn vào làng ban ngày.
Để nâng cao thanh thế của Việt Minh và củng cố lòng tin cho nhân dân, dịp rằm tháng Tám năm đó, ông đã chỉ đạo Ban binh vận gồm các bà Chu Thị Nhớn, Chu Thị Mùi, Nguyễn Thị Sái, Nguyễn Thị Chọe... cùng anh em du kích tổ chức cho trẻ em trong làng Ngãi Cầu rước đèn trong đêm trung thu. Tổ du kích trực tiếp dẫn đầu và lót hậu bảo vệ đoàn. Một tổ khác chốt gần bốt Thanh Quang sẵn sàng bắn súng chỉ thiên báo hiệu nếu có biến. Đoàn rước đèn khắp trong làng, đi dọc làng ra cây số 8 đến gần Thanh Quang. Du kích đọc thư Bác Hồ cho các em nghe, kể chuyện chiến đấu của bộ đội du kích, chia bánh kẹo xong lại đưa các em về từng ngõ xóm. Một cuộc phiêu lưu ngay trong lòng địch, gây tiếng vang rất lớn. Sau cuộc rước đèn này, do bị chỉ điểm loan tin, bà Sái, bà Viên bị địch từ bốt Thanh Quang càn về bắt hai bà đi tù, tra tấn rất dã man nhưng chúng không thể khai thác được điều gì.
Ngày 10 tháng 12 năm 1950, được chỉ điểm, giặc Pháp đã tổ chức một cuộc càn lớn vào xã, gây một số thương vong cho quân dân Ngãi Cầu.
Để trừng trị tội ác của giặc, ông Tấn đã cử một tiểu đội du kích do ông Chu Công Thau chỉ huy phôi hợp với du kích tổng Sông chặn đánh một đơn vị lính Pháp - ngụy càn vào An Thọ. Mở đầu trận đánh, du kích ta đã dùng kiếm, dao găm xông lên đánh giáp lá cà với địch, tiêu diệt một lính Pháp, một tên ngụy, thu được một số vũ khí đạn dược và trang thiết bị rồi rút lui an toàn.
Không những ông Chu Trí Tấn là một cán bộ chỉ huy xuất sắc, lãnh đạo tài năng mà ông còn rất tích cực hoạt động văn nghệ, làm thơ ca, đóng kịch yêu nước, ông Nguyễn Đức Bảo, nguyên Bí thư Đảng ủy xã An Khánh 1965-1983, thường kể lại với các bạn về thời hoạt động của ông cùng ông Chu Trí Tấn:
"Ngoài công tác về chỉ huy quân sự, ông Tấn còn tích cực làm thơ động viên thanh niên xã An Khánh - An Thượng gia nhập lực lượng du kích, lột tả tội ác khủng bố của giặc Pháp - ngụy, v.v... Rất nhiều lần, tôi là người trực tiếp được đọc thơ ông Tấn viết, rồi cho in typo hàng trăm bản để phân phát cho du kích và người dân trong xã làm công tác vận động, tuyên truyền".
BÌNH ĐỊNH HÀ ĐÔNG, CHIA TAY LIÊN BẮC
Ngày 18 tháng 10 năm 1950, quân ta kết thúc chiến dịch Biên giới thắng lợi, còn kế hoạch Rơ-ve1 (Đại tướng Rơ-ve, Tổng Tham mưu trưởng lục quân Pháp thời ấy) của Pháp nhằm mục tiêu khóa chặt biên giới Việt Trung bị phá sản.
Cách mạng nước ta có thêm thế và lực mới. Nhằm củng cố và giữ chắc trung du và vùng đồng bằng Bắc Bộ, thực dân Pháp thực hiện kế hoạch Đờ Lát đờ Tát-xi-nhi2 (Jean De Lattre De Tassigny là tên một vị Đại tướng Pháp trong Đại chiến thế giới lần 2 có con trai là trung úy Bernard De Lattre De Tassigny (11-2-1928) bị tử trận ở Non Nước - Ninh Bình năm 1950). Chúng đã rút bớt quân từ mặt trận Hòa Bình về để tăng cường bình định Hà Đông và Sơn Tây, đồng thời gấp rút phát triển ngụy binh với quy mô lớn để bổ sung cho quân đội viễn chinh và xây dựng quân đội quốc gia bù nhìn.
Thực hiện âm mưu bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ, với Hà Đông là trọng tâm cửa ngõ phía tây nam Hà Nội, giặc tăng cường bắt thanh niên đi lính ngụy, mở rộng xây dựng thêm đồn bốt trong khu vực. Liên xã An Khánh - An Thượng nằm trong vùng bị tạm chiếm nên thường xuyên bị địch đánh phá quyết liệt. Chỉ trong hai tháng cuối năm 1950, 25 cán bộ, đảng viên, du kích và quần chúng cơ sở của 5 làng thuộc xã An Khánh hy sinh.
Cuối năm 1950, trước tình hình mới có nhiều biến động, ông Chu Trí Tấn được huyện chỉ định làm Huyện ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính Liên huyện Đan Phượng - Hoài Đức.
Thời gian sau, ông Chu Trí Tấn được đề bạt lên cấp huyện là một trong số năm huyện ủy viên của Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng gồm đồng chí Chủ tịch huyện, Phó Chủ tịch huyện và ba đồng chí Huyện ủy viên khác.
Ngoài ra ông Chu Trí Tấn còn là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên xã An Khánh - An Thượng.
Từ cuối năm 1950, giặc bắt dân Ngãi Cầu đi chặt tre, gánh gạch, phá tường bao nhà của dân lấy gạch xây bốt. Tệ hại hơn, chúng đào cả sân đình để lấy gạch, phá cả sàn đình để lấy gỗ. Tất cả vật liệu được chất tập trung ngay tại nền Tam quan chùa Phổ Quang nơi cách đó 3 năm, giặc đã dùng xe tăng kéo đổ. Rồi chúng bắt dân đi phu xây bốt Ngãi Cầu ở cửa Quán. Một số người dân phản đối chặt tre dỡ gạch ngói đã bị chúng bắn chết. Gia đình ông Nghĩa vì có em trai là ông chủ tịch Tấn đi hoạt động nên thời gian này cũng thường xuyên bị giặc về nhà đe dọa sách nhiễu, dỡ ngói, cạy gạch lát sân đi xây bốt. Nhiều lần chúng lấy căn nhà gác của ông làm nơi tổ tôm nhậu nhẹt. Chúng còn bắt gia đình ông Nghĩa và nhiều hộ khác trong làng phải nấu cơm cun phụng lính hương dũng và Hội đồng hương chính ăn uống.
Cuối tháng 12 năm 1950, địch cho xe cam nhông về làng bắt đi nhiều thanh niên lớn tuổi cùng với những người trước Cách mạng Tháng Tám đã từng đi lính cho Pháp. Ba tuần sau đó, chúng đưa chính những người này về làng với quân phục, mũ phớt lệch vành, mỗi người mang một khẩu súng trường. Họ đã trở thành lính hương dũng, lính tề vũ trang, được huấn luyện và trang bị mạnh hơn trước để kìm kẹp, chuẩn bị giết hại chính đồng bào mình. Sang năm 1951, giặc xây dựng thêm 4 bốt tề vũ trang trong xã là bốt Ngãi Cầu, bốt Vân Lũng, bốt An Hạ và bốt Đào Nguyên.
Trung bình mỗi bốt có 25 lính được trang bị súng trường và lựu đạn. Thời gian này bắt đầu xuất hiện tại bốt Ngãi Cầu một loại súng trường mạnh do đế quốc Mỹ tài trợ cho Pháp hòng xâm lược nước ta. Ngoài loại súng trường mút-cơ-tông còn có thêm súng trường Rơ-minh-tông đời 1934 do Mỹ sản xuất, có uy lực lớn, độ sát thương cao. Ở tầm bắn 10 đến 15 mét, người trúng đạn súng Rơ-minh-tông có thể bị xé cả chân tay. Địch lấy tre rào hai đầu đường 72, gom chợ Ngãi Cầu họp ngay gần bốt để dễ bề kiểm soát. Các bốt này đều thuộc quyền chỉ huy của bốt Thanh Quang, một vị trí quân sự trọng yếu của giặc trên phòng tuyến đê sông Đáy.
Bốt Thanh Quang lúc cao điểm có tới 150 sĩ quan và binh lính. Bốt này do một tên quan Pháp chỉ huy, có lính Âu - Phi và lính ngụy hỗn hợp. Chúng có đại liên, 89 súng trường, tiểu liên và đặc biệt có cả súng cốỉ 82mm, có khả năng bắn yểm trợ cho đồng bọn tại bốt Ngãi Cầu.
Bốt Thanh Quang là cơ quan đầu nào đã chỉ đạo xây các bốt ở gần như An Hạ, Đào Nguyên cho đến các bốt ở xa như La Phù, v.v...
Nhiều lần bộ đội và du kích Liên xã An Khánh - An Thượng đã quấy rối, bắn súng vào đồn, phá rào, cắm cờ, rải truyền đơn, tuyên truyền địch vận. Một lần du kích xã phối hợp với du kích Vân Côn vây bốt Thanh Quang liền hai ngày hai đêm, lần khác phối hợp với du kích Đại La, Vân Côn vây bốt này nguyên một tuần lễ. Du kích xã còn có nhiều sáng tạo như gài lựu đạn giả nhồi rơm quanh bốt, thậm chí treo cả đạn Ba-zô-ka vào các rặng rào quanh bốt, thả diều ban đêm để giật cờ 3 vạch của địch. Sau mỗi trận mưa, du kích xã còn có sáng kiến là ném "lựu đạn vôi" (vôi cục cho vào lọ thủy tinh to) vào rãnh hào ngập nước tạo ra những tiếng nổ và mảnh sành bắn tung tóe không kém gì lựu đạn thật, quấy rối làm cho địch mất ăn mất ngủ.
Vào một đêm mùa xuân năm 1950, ông Tấn đã trực tiếp chỉ huy du kích xã bí mật kéo đổ một đoạn hàng rào bốt Thanh Quang rồi dùng cối 82mm chiến lợi phẩm vừa thu được bắn trúng công sự một khẩu đội súng máy 12,7mm của địch.
Trong trận này ta bắn chết hai tên lính Âu - Phi, một tên lính ngụy bị thương nặng, phá hỏng một súng 12,7mm của địch. Chúng đánh điện gọi pháo từ Ba La bắc bắn chi viện quanh bốt Thanh Quang suốt một ngày. Ông Tấn cùng toàn bộ anh em du kích rút ra an toàn trong niềm hân hoan của anh em du kích trận đầu dùng súng cối chiến đấu thực nghiệm thắng lợi việc đánh đồn, tiêu hao sinh lực địch.
Từ cuối 1950 tới đầu 1951 sau khi ta đã giải phóng toàn bộ một dải biên giới Việt - Trung, địch dồn quân về tập trung bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ mà một trong những trọng tâm là hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây. Chúng tăng cường bắt thanh niên đi lính ngụy, xây dựng thêm hàng loạt đồn bốt hương tổng dũng liên hoàn. Thời gian cuối năm 1950, Đại đội 36 đã gặp nhiều khó khăn, tiêu hao mất gần một trung đội; đồng chí Đại đội trưởng Lê Thao hy sinh anh dũng. Lực lượng dân quân du kích nhiều người hy sinh. Tổn thất của Liên Bắc và dân quân du kích lúc này nhiều hơn các huyện khác.
Đến đầu năm 1951, Đại đội 36 phải chuyển hướng hoạt động, phân tán lực lượng về tỉnh tăng cường cho quân chủ lực, một số cán bộ chiến sĩ được điều động về địa phương, chuyển hướng hoạt động sang gây dựng cơ sở chính trị. Các đồng chí trung đội trưởng Chu Công Thau, Chu Danh Bích trở về An Khánh cùng ông Tấn chỉ huy du kích địa bàn nam Hoài Đức.
Đầu năm 1951, cơ sở đảng ở xã Thọ Nam bị thiệt hại nặng, huyện chỉ định ông Chu Trí Tấn kiêm nhiệm làm Bí thư Chi bộ xã Thọ Nam1 (Xã Thọ Nam hiện nay đã được tách thành 2 xã Vân Canh và Lại Yên).
Vậy là một loạt cán bộ, chiến sĩ Đại đội 36 từ đầu toàn quốc kháng chiến đành phải chia tay Liên Bắc, chia tay người đồng chí Chu Trí Tấn và xóm làng An Khánh thân yêu đi nhận nhiệm vụ mới.
Xin giới thiệu một số kỷ niệm về các đồng chí Trần Thọ Châu, nguyên Chính trị viên Đại đội 36 Liên Bắc và Nguyễn Văn Toàn (bí danh Bình Tâm), Bí thư Huyện ủy Liên Bắc từ tháng 10 năm 1949 đến tháng 10 năm 1951, khi đã hòa bình, đồng chí đã được cử giữ chức Thứ trưởng thường trực Bộ Giao thông Vận tải từ tháng 1 năm 1979 đến lúc nghỉ hưu đầu năm 1982.
Đầu năm 1951, đồng chí Trần Thọ Châu được huyện điều về huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình chuẩn bị xây dựng lực lượng để thành lập Trung đoàn 46, đoàn Sông Đào. Cùng thời gian này, đồng chí Bình Tâm được tin ông chuẩn bị đi nhận công tác ở huyện khác, và rồi một ngày mùa thu năm 1951, đồng chí Bình Tâm đã rời xa Liên Bắc để nhận công tác mới ở huyện Phú Xuyên.
Nói về những ngày tháng chiến đấu sát cánh cùng du kích Liên xã An Khánh - An Thượng chông thực dân Pháp xâm lược, đồng chí Bình Tâm bồi hồi nhớ lại:
"Đồng chí Chu Trí Tấn là chủ tịch một xã trọng điểm ở vùng nam Hoài Đức. Xã ngày đó tên là xã An Thượng, gồm tất cả 10 làng; xã có đóng góp rất nhiều cho phong trào của huyện nói chung và khu vực tổng La thời đó (La Dương, La Nội, La Phù, La Khê, La Cả, v.v...) nói riêng. Xã có số đảng viên đông hơn các xã khác, phong trào rất mạnh. Làng Ngãi Cầu nằm ở vị trí then chối trong xã, có phong trào mạnh hơn cả so với 9 làng còn lại là 4 làng Sống và 5 làng Thượng Ốc, nên Ngãi Cầu cũng là nơi địch tập trung đánh phá mạnh. Làng Ngãi Cầu là một làng điển hình tốt về nhiều mặt:
- Xuất sắc về mặt chiến đấu;
- Xuất sắc về xây dựng lực lượng công an và dân quân du kích;
- Xuất sắc về đóng góp nhân lực cho việc thành lập Đại đội 36 Liên Bắc, cụ thể là 2 đồng chí trung đội trưởng là ông Chu Công Thau và Chu Danh Bích. Cả hai đồng chí này đều là người cùng làng Ngãi Cầu với đồng chí Chu Trí Tấn.
Ngãi Cầu nhiều năm là vùng tề trắng, vẫn nằm trong tầm ảnh hưởng đáng kể của ta: Không đóng thuế cho địch, không đi lính cho địch, không thành lập chính quyền tề cho địch; nổi bật phong trào tổng xé thẻ căn cước lát-xê - pát-xê và vận động quần chúng nhân dân nổi dậy diệt tề trừ gian...
Đồng chí Tấn là người trực tiếp điều động du kích xã tham gia phối hợp với Đại đội 36 bộ đội huyện Liên Bắc đánh nhiều trận, điển hình như:
- Trận diệt đồn Đại Mỗ;
- Đánh chống càn ở Ngãi Cầu;
- Đánh phục kích từ Biển Sắt đến La Dương.
Biển Sắt là khu vực ngã ba Ngãi Cầu - Tây Mỗ - Hà Đông. Tại đây ngày đó có một tấm biển chỉ đường bằng sắt rất to nên người dân thường quen gọi là "ngã ba Biển Sắt". Nơi này có địa hình là một vùng đồi cây cối rậm rạp, người dân không trồng trọt canh tác gì ở đây, lại có lắm mả mới mả cũ lẫn lộn. Trong năm 1950, du kích Liên xã An Khánh - An Thượng, mà hạt nhân nòng cốt chiếm đa số là du kích Ngãi Cầu, từng nhiều lần cùng bộ đội huyện phục kích địch ở đây theo chiến thuật "Bạch binh độn thổ".
Nói về cách đánh "Bạch binh độn thổ", đồng chí Bình Tâm nhớ lại: "Bạch là trắng, binh là quân, nghĩa là quân đội tay trắng không có vũ khí gì ngoài dao găm và lựu đạn. Khi lính "ba-tui"1 (Tiếng Pháp "Patrouille" có nghĩa là lính tuần tra) đi tuần qua, du kích bật nắp hầm xông lên ném lựu đạn làm cho địch hoảng loạn bỏ chạy, rồi dùng dao găm xông vào cướp vũ khí, truy kích cho đến khi chúng về đến gần đồn.
Du kích Tân Hội ở trận đê Liên Mạc, du kích Ngãi Cầu ở trận Biển Sắt và du kích La Dương là ba đội du kích điển hình từng nhiều lần tham gia phối hợp với bộ đội huyện đánh bạch binh độn thổ. Đặc biệt là ở Biển Sắt, ta đã đánh bạch binh độn thổ nhiều lần rồi...
Thời đồng chí Tấn còn sống, phong trào phát triển mạnh. Bởi thế mà đến năm 1951, nó bắt được đồng chí Tấn nên đã trả thù dã man đến như vậy"
NĂM 1951 - NĂM ÁC LIỆT
Sau dịp Tết Nguyên đán năm Tân Mão 1951, bọn tề vũ trang ở Ngãi Cầu bắt đầu có những thủ đoạn xảo quyệt, vỗ về, xoa dịu tội ác với nhân dân.
Ngày hội làng mùng 8 tháng Giêng năm đó, các chức sắc và hương dũng yêu cầu người dân mở hội, tổ chức rước kiệu từ đình về Quán dưới sự bảo vệ nghiêm ngặt của lính hương dũng. Bọn chỉ huy bốt cho dân phá lối rào, dọn đường từ Cột đồng trụ vào Quán để dân rước kiệu vào tế lễ. Ở khu vực chợ Ngãi Cầu, chúng cho mở một số trò chơi như: đánh bạc, đánh thò lò, tam cúc điếm, buổi tối có hát chèo.
Tổ chức lễ hội như thế, giặc và đám tay sai muốn chứng tỏ với Việt Minh rằng: với 4 bốt tề vũ trang mới dựng lên trong Liên xã An Khánh - An Thượng, giờ đây địa phương này đã là địa bàn của chúng, dân đã nằm trong tay chúng! Nhận định đây là một bước đi quan trọng hòng phô trương sức mạnh của giặc, Chủ tịch Chu Trí Tấn quyết định sẽ cùng một số anh em công an xã và tổ du kích xuất hiện trong dịp lễ, gây thanh thế cho Việt Minh, để nhân dân biết Việt Minh có ở khắp mọi nơi, ngay cả tại nơi nguy hiểm nhất, ông cùng ông Đỗ Đình Viễn, cán bộ địch vận, mặc áo dài, đội khăn xếp, trà trộn vào đám đông. Ông Chu Công Thau làm nhiệm vụ cảnh giới và yểm trợ. Sau bữa cơm tối, cả ba người từ trong xóm đi ra. Vào sân chợ giữa lúc người dân đang xem đám hát chèo réo rắt, đi được mấy vòng thì bọn lính hương dũng mới nhận ra các ông. Chúng hô to: "Việt Minh! Việt Minh!".
Thế là từ đám hát chèo cho đến người xem và cả lính canh nháo nhác như ong vỡ tổ. Đồng chí Chu Công Thau đã rượt đuổi tên lính vào tận sân bốt, vặn quặt tay cầm lựu đạn, tay kia bắt vứt dao găm ra xa, hỏi và tuyên bố tha tội chết. Trong nhốn nháo hỗn độn giữa dân và lính, cả ba ông và anh em du kích, công an đều rút lui an toàn. Cuộc đột nhập đã làm cho bọn tề vũ trang ở Ngãi Cầu cũng như các bốt khác phải kinh ngạc, nhân dân thêm một lần cảm phục những người cán bộ Việt Minh.
Sau vụ hoạt động của Việt Minh trong hội làng năm ấy, địch ở bốt Thanh Quang cho dán cáo thị, truy lùng gắt gao ông Chủ tịch xã Chu Trí Tấn. Giặc treo thưởng hàng ngàn đồng bạc Đông Dương cho ai lấy được đầu của ông Tấn đem về nộp cho chúng. Đồng thời kết hợp với hệ thống đồn bốt mới xây dựng, giặc đẩy mạnh nhiều cuộc lùng sục càn quét, dùng mọi thủ đoạn, kể cả mua chuộc dụ dỗ để đánh phá phong trào.
Từ cuối 1950 sang năm 1951 là giai đoạn cực kỳ khó khăn và khốc liệt, hàng loạt cán bộ và du kích bị lùng bắt, các gia đình bị nghi ngờ là cơ sở che giấu cán bộ bị truy bức, bị khủng bố. Nhiều cán bộ cơ sở phải bật sang vùng tự do lánh mặt tạm thời vì đồn bốt địch đã xây dựng khắp nơi, thế đứng chân lâu dài đã không còn.
Cuốn "Lịch sử Cách mạng huyện Hoài Đức 1926-1975" đã ghi rõ về giai đoạn khó khăn này như sau:
"Mặc dầu quân dân liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng chiến đấu anh dũng nhưng trước sự đánh phá quyết liệt bằng nhiều lực lượng, nhiều thủ đoạn nguy hiểm nhất là chúng dùng tề vũ trang kết hợp với do thám chỉ điểm, nên nhiều cán bộ đảng viên hy sinh. Cuối 1950 đến đầu 1951, hầu hết các khu du kích liên hoàn ở Liên Bắc bị đánh phá, trên 500 cán bộ, bộ đội và du kích bị bắt hoặc hy sinh, số còn lại phải bật sang vùng tự do. Riêng tháng 2 năm 1951, đã có tới 40 cán bộ, đảng viên bị bắt, bị giết. Lực lượng dân quân du kích bị tan rã. Từ đầu năm, Đại đội 36 phải phân tán lực lượng, chuyển hướng sang hoạt động chính trị gây cơ sở, đến nay đã tiêu hao một trung đội. Hầu hết cán bộ xã phải lưu vong ra Hòa Bình, Bãi Sậy và các vùng lân cận trong tỉnh. Phong trào kháng chiến ở Liên Bắc lâm vào tình thế vô cùng khó khăn. Cho đến giữa 1951, toàn Liên Bắc đã có đến 52 làng tề vũ trang...".
Sau khi xây dựng được 4 bốt tề vũ trang trong địa bàn xã, bốt Vân Lũng đóng ở chùa Cả nổi lên là địa điểm tập trung những tên ác ôn khét tiếng trong vùng. Đặc biệt là toán lính ba-tui của bốt này đội mũ nồi đen, mặc quần áo đen, thắt lưng đeo lựu đạn dao găm, mỗi tên một khẩu súng trường; đây là những hung thần khát máu đối với người dân trong xã. Sẩm tối, chúng đi tuần đến đâu là người dân nơm nớp lo sợ không dám thắp đèn, cửa đóng then cài kín mít. Địch rào dậu kín khuôn viên chùa Cả làm nơi đóng quân với một trung đội được trang bị hỏa lực mạnh.
Giữa lúc tình thế chung trên các vùng địch tạm chiếm đặc biệt nguy nan, Chủ tịch Chu Trí Tấn chỉ đạo cho du kích xã tổ chức một trận đánh vào bốt Vân Lũng.
Tối ngày 8 tháng 2 năm 1951 toán lính ba-tui đi tuần vừa ra khỏi cửa chùa để sục sạo càn quét. Sau phát súng hiệu lệnh cùng tiếng hô xung phong của ông Chu Trí Tấn, ông Thau dẫn đầu du kích xã xông lên đánh giáp lá cà với lính ba-tui bốt Vân Lũng; đồng thời hai đồng chí, một công an và một du kích nấp sẵn trên ngọn cây cao ở cửa chùa đồng loạt ném lựu đạn vào đúng khu vực bọn địch.
Địch hoảng hốt bỏ chạy tán loạn. Ta thu một số vũ khí và lựu đạn, diệt và cảnh cáo nhiều tên ác ôn của bốt Vân Lũng. Địch thực sự chỉ là những tên ác ôn ức hiếp, đàn áp dân thường chứ khi gặp dân quân du kích địa phương tổ chức tiến đánh chúng đã tan rã nhanh chóng.
Được tin bốt Vân Lũng bị tập kích, địch ở bốt Thanh Quang càng thêm điên cuồng. Tên sĩ quan Pháp chỉ huy bốt Thanh Quang treo thưởng hàng vạn đồng bạc Đông Dương cho bốt nào bắt được ông Tấn đem nộp cho chúng.
Cuối tháng 5 năm 1951, nhận chỉ thị của trên, ông bí mật vào núi Trầm, Quốc Oai để dự cuộc họp Hội nghị mở rộng của Huyện ủy Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng.
Cùng thời gian này, bộ đội ta mở chiến dịch Quang Trung đánh vào phòng tuyến sông Đáy. Tại vùng tạm chiếm Đan Phượng - Hoài Đức, địch tăng cường càn quét khủng bố phong trào suốt các tháng 5 tháng 6 năm 1951, gây những thiệt hại vô cùng to lớn cho cách mạng và quần chúng cơ sở.
Để chuẩn bị kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5, ngay từ giữa tháng 4 năm 1951, ông Tấn đã báo chỉ huy du kích xã sắp đặt một trận đánh tập kích bí mật ở triền đê đoạn nằm giữa nhà thờ làng Lại Dụ và nhà thờ làng Đông Lao. Ông Tấn cùng ông Chu Công Thau, ông Chu Danh Bích, ông Đỗ Đình Viễn, và ông Nguyễn Trân Đường phối hợp với du kích Đông Lao đào hai hầm đối diện nhau ở hai bên triền đê, rào kín bởi nắp hầm ngụy trang bằng vạt cỏ tươi và cành cây khô. Mọi công tác chuẩn bị và cấp dưỡng cơm nước cho trận đánh này được giao cho các nữ du kích Ngãi Cầu.
Trận đánh được chuẩn bị rất chu đáo nhưng vào phút chót thì kế hoạch bị lộ.
Địch từ bốt Thanh Quang tổ chức ém quân đánh úp hai căn hầm bí mật của ta. Một ngụy binh được ta nhân mối trong bốt Thanh Quang đã kịp thời báo tin này cho du kích ta biết từ hôm trước nên ông Tấn và tô du kích mai phục đã kịp thời rút lui.
Đến khi tổ nữ du kích Ngãi cầu do bà Kim Sàng dẫn đầu mang theo quang gánh giấu đầy cơm nắm và nước uống giả làm người đi chợ về hướng Đông Lao, từ xa đã thấy nhiều tên lính bốt Thanh Quang do tên quan Pháp chỉ huy đang vây đầy quanh miệng hầm. Không bắt được một cán bộ Việt Minh nào, địch càng thêm điên cuồng mất ăn mất ngủ vì du kích Ngãi Cầu.
Đến đầu tháng 6 năm 1951, ông Chu Trí Tấn sang Quốc Oai tham dự Hội nghị mở rộng do Huyện ủy Liên Bắc tổ chức về đẩy mạnh bám và gây dựng cơ sở, phê bình và tự phê bình. Tại Hội nghị này, Huyện ủy viên Chu Trí Tấn nhận quyết định làm Phó chủ tịch Liên huyện Đan Phượng - Hoài Đức, trực tiếp chỉ đạo phong trào ở địa bàn liên huyện.
Khoảng thời gian giữa năm 1951, phong trào trên toàn tỉnh gặp muôn vàn khó khăn dẫn đến tư tưởng bi quan, dao động trong một số đảng viên, cán bộ1 (Hà Tây, Lịch sử khảng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân. 1998).
Những ngày cuối năm 1951 địch đã tổ chức nhiều cuộc càn quét bắt bớ giết hại cán bộ của ta, tổn thất của phong trào cả 5 làng của xã An Khánh thời gian này không gì có thể diễn tả hết được.
Tháng 7 năm 1951 tại Phú Vinh, địch sục hầm bắn chết một lúc 6 cán bộ do huyện cử về. Tháng 11 năm 1951, đồng chí Bật, phó chủ tịch xã bị bắt, tra tấn đánh đập rất dã man nhưng không khai thác được gì, chúng đã thủ tiêu đồng chí.
Cùng thời gian ở Yên Lũng, đồng chí Quang người La Cả được huyện điều về và đồng chí Khoát làm giao thông huyện cũng bị địch bắn chết. Đồng chí Thào cũng tiếp tục bị địch bắt.
Sau đó ở Vân Lũng, đảng viên Trương Văn Năm bị giặc truy đuổi, đồng chí bắn trả quyết liệt rồi cho nổ lựu đạn hy sinh anh dũng.
Cả Phú Vinh, Yên Lũng, Vân Lũng lúc này đều thành cơ sở trắng.
Đêm 24 tháng 6 năm 1951, lính bốt Ngãi Cầu phục kích, bắn chết cụ Thiện.
Cũng trong tháng 6 năm 1951, chúng vây chặt xóm Mái Sau, bắn chết đồng chí Chu Hữu Viết là bộ đội Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng vừa được cử về liên lạc với địa phương.
Tháng 7 năm 1951, được chỉ điểm, lính bốt Ngãi Cầu kéo vào vây nhà cụ Yên ở xóm Mái Sau, bắn chết hai đồng chí Quang và Phú, quê xã Thọ Nam vừa được huyện cử về làm việc.
Đêm 16 tháng 7 năm 1951, đồng chí Nguyễn Viết Phượng, xã đội phó An Khánh bị địch phục kích hy sinh tại xóm Cầu, An Thọ.
Đêm 19 tháng 7 năm 1951, chúng phục kích ở xóm Tây lẻ nhưng không bắt được ai.
Suốt thời gian này, tại Ngãi Cầu, bọn lính hương dũng ngày đêm đi thuốn hầm, phục kích nhằm bắt cán bộ Việt Minh những con mồi lớn nhất mà chúng đang săn đuổi chính là ông Chủ tịch Chu Trí Tấn.
Chúng nhận thấy rõ còn Việt Minh thì chúng còn ăn ngủ không yên.
NHỮNG NGÀY CUỐI ĐỜI CỦA CHỦ TỊCH CHU TRÍ TẤN
Sau cuộc họp với các đồng chí trong Ủy ban kháng chiến Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng giữa tháng 6 năm 1951 tại một cơ sở gần thôn Đông Thành, thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, ông Chu Trí Tấn vượt sông Tích, sông Đáy trở về xã với hai nhiệm vụ hệ trọng:
1. Bám chặt địa bàn, cộng tác với các cán bộ do huyện cử về để phục hồi cơ sở tại Liên xã An Khánh - An Thượng, nơi địch đang càn quét rất dữ dội.
2. Phối hợp với lực lượng bán công khai còn bám trụ tại xã tổ chức quấy rối địch ở vùng ven phía đông xã giáp Tây Mỗ, Đại Mỗ, La Nội nhằm kéo giãn đội hình bố phòng của địch trên toàn huyện, tạo điều kiện cho các lực lượng kháng chiến lập khu du kích tập trung tại bắc Chương Mỹ và nam Quốc Oai. Mục tiêu huy động du kích địa phương chủ động đánh tiêu hao sinh lực địch như mục tiêu thời gian cuối năm 1948 đầu 1949 tạm thời chưa được đặt ra vì những cơ sở còn đủ khả năng hoạt động ở trong các xã hiện còn quá mỏng.
Trước khi về Ngãi Cầu, ông qua cơ sở xã Vân Canh đế gặp vợ, bế trên tay cậu con trai Chu Trí Thắng còn chưa đầy hai tuổi.
Ông đưa vợ ít tiền để chăm sóc con. Bà Quyết nói với chồng:
- Anh đừng về Ngãi Cầu vội, dưới đó địch đang càn dữ lắm.
Nhưng vì cách mạng, một lần nữa ông lại lên đường.
Về đến xã, nằm hầm ngoài đồng được một ngày thì ông bị ốm.
Để tiện thuốc thang chăm sóc, ông vào nằm hầm nhà cụ Thập, một cán bộ cơ sở.
Nhận tin này, vợ ông hàng đêm sắc thuốc rồi đi bộ lên cơ sở giao thông bí mật để đưa thuốc cho ông uống. Được mấy hôm, bệnh tình không giảm, ông dặn cụ Thập:
ĐÊM ĐỊNH MỆNH
Từ mấy ngày trước, ông đã bắt liên lạc được với cơ sở ở Ngãi Cầu và báo cho địa phương chuẩn bị tổ chức cuộc họp bí mật giữa ông với ba đồng chí huyện vừa tăng cường về tại nhà bà Hựu, một cơ sở cách mạng tin cậy vào đêm 9 tháng 8 năm 1951.
Sau khi thống nhất, nhóm 3 đồng chí này sẽ đi đường riêng đến điểm hẹn tại nhà bà Hựu. Ông Tấn chủ trì cuộc họp nên sẽ có mặt đầu tiên từ sẩm tối.
Hôm ấy, ngày mùng 7 tháng 7 Tân Mão, ông ăn cơm chiều sớm hơn thường lệ tại nhà cụ Phó Đình Tụ ở xóm bắc Ngãi Cầu, một gia đình cơ sở trung kiên với cách mạng. Ăn cơm chiều xong, ông bí mật hẹn gặp ông Tất ở xóm Đông để lên kế hoạch đi vào nhà bà Hựu, nơi tổ chức cuộc họp.
Ông vào nhà cụ Thất ở xóm Đông gặp ông Tất, bàn với ông Tất tìm đường đi vào nhà bà Hựu sao cho an toàn nhất.
Ông Tất là một cố nông đi cày ruộng thuê cho nhà cụ Thất. Cả ông Tất và cụ Thất đều là những người có cảm tình với cách mạng nên ông Tất đã tình nguyện đi trước dẫn đường cho ông Tấn.
Ngoài đồng nhiều bà con đang cấy lúa. Ông Tất mặc cái áo tơi lá, đội nón, xách cái điếu cày đi trước để dò la tình hình.
Ông đi ra từ cổng nhà cụ Thất nơi có tượng con chó nhỏ bằng đá đã mòn, ngang qua miếu xóm Đông, rồi quặt vào lối rẽ về ngõ nhà bà Hựu.
Trên đường đi, ông Tất cố ra vẻ lấm lét để dò xem có tên hương dũng nào nấp quanh đây không.
Bọn hương dũng trong làng đã được tên sếp bốt Thanh Quang người Pháp treo thưởng hàng vạn đồng tiền Đông Dương cho ai bắt được ông Tân đem nộp nên chúng đã quyết tìm bắt ông Tấn.
Trời quang mây, ánh trăng khi mờ khi tỏ đủ cho bọn chúng thấy được người núp sau cái áo tơi đi qua mặt chúng không phải là ông chủ tịch Tấn, vốn là người cao lớn có tiếng trong vùng mà chúng ít nhiều đã từng biết mặt trước khi ông rút vào hoạt động bí mật.
Đợi cho ông Tất đi rồi, chúng vẫn kiên nhẫn núp trong vệ rặng rào với mấy bụi xương rồng nhìn chéo ra cửa miếu xóm Đông.
Không thấy có gì nghi ngờ, ông Tất an tâm đi thẳng về nhà. Ông Tấn khi đó đang nấp sau cánh cổng nhà cụ Thất. Tuy ông có thể trèo rào thẳng vào nhà bà Hựu nhưng vì cơ sở nhà bà Sái cạnh nhà bà Hựu đã bị lộ và cũng để đề phòng chó sủa khi có người lạ trèo rào nên ông Tấn quyết định một mình vào thẳng cổng chính nhà bà Hựu. Theo kế hoạch, khi ông đã vào được nhà bà Hựu an toàn thì ba đồng chí trên huyện như đã hẹn sẽ lần lượt có mặt lúc nửa đêm để họp và ông sẽ phân phát tài liệu cho các đồng chí như dự kiến.
Một lát sau, khoảng 9-10 giờ đêm, ông Tấn mặc bộ quần áo nâu may bằng vải gụ, thắt lưng da cài bao súng ngang hông, đeo túi xà cột bằng da đựng tài liệu lặng lẽ ra khỏi nhà cụ Thất rồi đi về phía nam hướng đến ngõ nhà bà Hựu. Qua cửa miếu xóm Đông, đến cổng nhà bà Khuê, ông nhìn bốn phía thăm dò rồi chuẩn bị rẽ phải hướng về ngõ nhà bà Hựu. Tại ngay ngã tư đầu ngõ có hòn đá thiêng mấy trăm năm nay, chỉ to bằng cái mai rùa mà chưa ai cậy được lên hay xê dịch đi đâu được.
Khi ông chỉ còn cách hòn đá thiêng đó độ hai ba bước thì ba tên lính hương dũng nấp sẵn trong vệ rào nhảy ra chặn đường. Từ phía sau, hai tên khác núp sẵn trong căn miếu chạy ra bao vây ông. Hai tên đứng trước chĩa súng trường vào ông, tiếng súng kéo chốt lên đạn răng rắc, sắc lẹm. Theo một nhân chứng cho biết cả năm tên hương dũng này đều là người thôn Ngãi Cầu. Tên chỉ huy đứng giữa rút súng ngắn kiểu Ru-lô của Pháp hỏi:
-Ai?
Biết rằng đã bị lộ, ông nhìn thẳng vào mắt hắn rồi quát to:
- Tao, tao đây...!
Ông Tấn vùng nhanh ra khỏi vòng vây của bọn chúng, chạy vào ngõ đổ về hướng đông thẳng ra vệ làng. Tên cầm đầu hô:
- Đứng lại! Đứng lại không tao bắn!
Hắn bắn một phát súng ngắn nhưng không trúng. Được lệnh khai hỏa, hai tên hương dũng đi theo đồn loạt nổ súng. Một viên đạn trúng ngay vào cánh tay bên phải, ông Tấn kêu vang lên một tiếng rồi theo đà chạy ngã chúi xuống bên cạnh bờ ao nhà bà Sề. Tay phải bị thương, ông phải dùng tay trái rút khẩu súng lục ra, lấy răng kéo chốt lên đạn rồi bắn trả. Do bắn súng ngắn bằng tay trái, trời lại tối, nên đường đạn đi không chính xác. Ngay sau phát đạn bắn trả đầu tiên, bọn lính hương dũng theo phản xạ đã nằm rạp hết xuống đất để tránh đạn. Chừng đó cũng đủ thời gian để ông Tấn vùng chạy tiếp.
Ra đến vệ làng, ông vùi súng xuống bùn ở bờ chuôm nhanh giấu đi, chạy tiếp về hướng Đông Mả Dược ở cánh đồng Giữa. Chạy ra đến vệ làng thì bọn lính hương dũng mất dấu của ông. Khi đó, ông đã lần ra đến gần Đông Vuông, cố gắng chạy tiếp. Bất ngờ, ông vấp phải bò ruộng ngã dúi xuống. Phía trên con đường đất, một tên lính hương dũng nghe thấy tiếng động lạ liền gọi đồng bọn ra chạy về phía Đông Vuông. Bị thương nặng, máu ra nhiều, biết rằng khó có thể chạy thoát, ông lấy xấp tài liệu từ trong túi xà cột, với đầy đủ danh sách các đồng chí nằm vùng của ông cùng vị trí các hầm bí mật cất giấu vũ khí cho kế hoạch sắp tới. Ông xé nát tài liệu rồi lâp xuống bùn. Vừa kịp lúc chúng soi đèn dầu chạy lại bủa vây và bắt được ông. Tại bờ ngang nơi ông ngã, cả một vũng máu to loang rộng vát sang cả bờ lúa.
Bắt được ông Tấn, bọn hương dũng gọi tất cả những nhà dân ở xóm Đông phải thắp đèn sáng, ai ở yên nhà nấy tuyệt đối không được đi đâu nếu chưa có lệnh của chúng, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Chúng vào nhà ông Ôn ở xóm Đông lấy ra cái chõng tre, rồi bắt hai người thanh niên ở xóm Đông là ông Ôn và ông Ngôn ra khiêng ông Tấn đang bị thương về bốt Ngãi Cầu.
Khiêng được nửa đường đến cổng xóm Trại, đám lính hương dũng vào nhà ông Chu Đắc Thương, bắt ông Thương và ông Nguyễn Gia Lân ra khiêng ông Tấn về thẳng bốt Ngãi Cầu. Chúng đuổi ông Ngôn và ông Ôn về. Ông Lân khi đó đang ở nhà ông Thương tại xóm Trại để ngủ vì sáng hôm sau cả hai ông còn đi đánh dủi (đánh cá) sớm. Thấy ông Lân vẫn còn ngái ngủ, lúi húi xỏ cái quần dải rút mãi chưa xong, một tên hương dũng xông vào đánh ông Lân ngay giữa sân nhà ông Thương. Rồi chúng bắt hai ông Lân và Thương khiêng ông chủ tịch Tấn lên bốt. Cùng lúc đó, lực lượng hương dũng cả 4 bốt trong xã đã túa đi khắp nơi để lùng bắt các đồng chí của ông trên đường đến tham gia cuộc họp.
Do một tên phản bội là người trong làng chỉ điểm, nên bọn hương dũng ở bốt Ngãi Cầu và mật thám của bốt Thanh Quang đã nắm được hết các chi tiết về ngày, giờ, địa điểm cũng như thành phần tham gia cuộc họp. Cơ sở nhà bà Hựu bị lộ hoàn toàn. Chúng lên kế hoạch chi tiết, bố trí 3 tốp hương dũng mai phục ông Tấn cả ở cổng chính và cổng sau nhà bà Hựu. Đoạn ngõ ở xóm Đông hướng rẽ về cổng chính nhà bà Hựu lúc này đã có năm tên lính hương dũng mai phục. Ở hướng từ phía nam rẽ về cổng chính là một nhóm khác, nhóm còn lại chốt ở cổng sau.
Sau khi bắt được ông Tấn, lập tức chúng huy động tối đa lực lượng lính hương dũng của các bốt trong xã cùng bọn mật thám bốt Thanh Quang chỉ điểm sục vào những gia đình bị nghi ngờ che giấu cán bộ để bắt cho bằng được các đồng chí còn lại. Chúng đã lần lượt vào lùng soát trong nhà các cụ Miều, cụ Vận, cụ Cán, cụ Bào, cụ Mai, cụ Thực, cụ Tình... nhưng kết quả chúng không bắt được ai.
Khiêng ông Tấn về đến cổng bốt, tên Quản Hán và bọn lính bốt reo lên:
- Bắt được thằng Tấn rồi đây này!
Từ trên cái lô cốt hình vuông, tên Đức là sếp bốt chạy xuống hỏi:
- Đứa nào bắt được thằng Tấn?
Một tên hương dũng giơ cao tay:
- Tôi bắt, tôi bắt đây!
Sếp Đức ra lệnh cho hắn:
- Mày bắn hai phát súng gọi sếp bốt Thanh Quang sang đây ngay.
Hắn bắn liền hai phát súng chỉ thiên làm ám hiệu gọi bốt Thanh Quang. Chúng khiêng ông Tấn vào bốt, đặt ông nằm lên sàn, máu ra loang lổ. Giở cái túi dết của ông ra, thấy bên trong chỉ còn lại có cân đường và một hộp sữa, khi đó ông vẫn đang bị ốm chưa khỏi.
Một lát sau, tên Đội người Pháp đi cùng một tên cai già với đám lính hộ vệ từ bốt Thanh Quang sang đến nơi. Tên cai già hỏi sếp Đức:
- Thằng Tấn đâu?
- Nó trong kia.
- Anh nào bắt được thằng Tấn đây?
Tên Quản Hán gọi tên hương dũng lại gần, chỉ vào hắn nói:
- Là anh này.
Tên cai già ở bốt Thanh Quang rút một túi vải nhỏ quẳng về phía hắn:
- Đây, thưởng riêng cho chú một vạn đồng Đông Dương1 (Vào thời điểm đó 1.000 tiền Đông Dương mua được 500 ki-lô-gam gạo)!
Bọn hắn cùng tên thầy Đội người Pháp bước thẳng vào trong bốt. Ông Tấn vẫn đang nằm trên sàn, máu ra nhiều. Tên quan Pháp ngồi phịch xuống ghế. Người thông ngôn đi cùng xì xồ vài tiếng với hắn rồi mở cái cặp ra đưa cho tên quan Pháp mấy tờ tài liệu. Đọc lướt qua, tên quan Pháp biết là đã bắt được một cán bộ Việt Minh trong cơ quan đầu não chỉ huy kháng chiến của Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng; một trong năm huyện ủy viên từ lâu đã bị đặt trong tầm ngắm của chúng.
Hắn ra hiệu cho tên cai già gần đấy. Tên này xắn cao ống tay áo, bước lại gần rồi cúi xuống hỏi ông Tấn vẫn đang nằm trên sàn:
- Tấn, mày về với ai?
- Mình tao!
- Bố láo, mày về cùng thằng nào?
- Tao không thèm nói với mày!
Tên cai già liền tát vào mặt ông Tấn rồi đứng phắt lên. Cùng lúc đó, mấy người được gọi lên để băng bó cho ông Tấn cũng vừa tới nơi. Đó là ông Chu Công Mão, bị bọn tề ngụy bắt đi làm y tá cứu thương, ông Mão vốn cũng có họ hàng bà con với ông Tấn, nhưng vì xung quanh là cả một đám những tên ác ôn đang say máu, ông Mão chỉ còn biết cố nuốt cho nước mắt chảy ngược vào trong, ông Mão cúi xuống băng bó cho ông Tấn rồi hỏi:
- Anh có đau lắm không?
- Có! Đau lắm. Khéo tôi chết mất.
- Cố gắng lên anh...
Ông Tấn lặng người đi không nói thêm được gì. Ông Mão băng bó được một lúc thì tên cai già lại gần kéo ông Mão đứng lên, nói với ông:
- Mày và hai thằng đang ngồi kia, đi ra ngoài!
Hai người vừa khiêng ông Tấn từ xóm Trại lên bốt Ngãi Cầu là ông Thương và ông Lân vẫn ngồi bệt xuống đất, tựa lưng vào tường ngồi xem ông Mão băng bó. Nghe tên cai già ra lệnh, hai ông cùng ông Mão bước ra ngoài. Ông Tấn nói với theo ông Mão:
- Mão với các chú về nhé...
Ba người vừa ra đến cửa, tên chỉ huy nói vọng ra với bọn lính gác:
- Chúng mày giữ mấy đứa chúng nó ở lại ngoài sân, không cho về vội. Khi nào tao bảo mới được cho về, rõ chưa!
Hắn nói thêm:
- Bảo phó Dần đi gọi ngay thằng Nghĩa anh thằng Tấn đến đây.
Ở trong bốt, chúng dựng ông Tấn ngồi lên cái ghế tựa, trói hai tay ông quặt ra sau. Tên sếp Đức lại gần, ngọt nhạt nói:
- Tấn, mày nghe tao nói, mày về với ai thì cứ nói tao biết.
- Tao về mình tao!
Tên cai già xông đến cầm tóc ông Tấn, vật ngửa đầu ông lên, gằn giọng hỏi tiếp:
- Mình mày về thôi à, còn mấy thằng kia đâu?
- Tao không bao giờ khai với lũ chúng mày!
Tên cai già đấm thẳng vào mặt ông Tấn nói:
- Mẹ mày, không được báo thì sao tao biết mày về cùng mấy thằng kia?
Ở ngoài sân, mấy tên thám báo từ các bốt khác gọi sếp Đức ra báo cáo:
- Bọn em đã cho vây chặt tất cả các lối về Sông rồi.
- Có vậy thôi hả?
- Đã vào mấy nhà sếp hướng dẫn rồi, chỉ thấy toàn ông bà già với con nít thôi.
- Đã soi kỹ xem tài liệu thằng Tấn giấu ở đâu chưa?
- Chỉ thấy cân đường với một hộp sữa nó mang theo, còn thì chả thấy gì cả.
Tên sếp Đức vào lại vào trong bốt, đóng rầm cánh cửa. Hắn nhìn tên cai già, lắc đầu. Tên cai già rút cây roi đay, vụt liên tiếp vào người ông Tấn.
- Mấy thằng kia đang nằm ở hầm nào, nói!
Cái áo nâu ông Tấn mặc bằng vải gụ do phải nằm dưới hầm ẩm thấp lâu ngày nên chỉ sau một loạt roi đã bắt đầu rách.
Hùa theo quan thầy, một tên hương dũng cũng xông vào đánh:
- Tài liệu và cả súng mày giàu ở đâu hay vứt đi rồi hả?
Ông Tấn nhất định không chịu khai. Đánh xong một hồi, chiếc áo nâu ông mặc rách tả tơi, máu từ vết thương lại chảy tuôn ra ướt đẫm chiếc ghế.
- Có nói không?
- Có biết tao cũng không nói cho lũ khốn nạn chúng mày!
Chúng lại lao vào đánh đập ông theo lệnh của tên quan Pháp để moi bằng được lời khai của ông. Nhưng tất cả những gì ông nói chỉ là:
"Tao không thèm nói với lũ chúng mày!".
Được một lát, tên quan Pháp lên xe cam nhông bỏ về Ngãi Cầu.
Ở trong bốt, tên cai già vẫn tiếp tục đánh đập tra tấn ông chủ tịch xã. Chúng tìm mọi từ dụ dỗ ngon ngọt cho đến đánh đập thẳng tay, với hy vọng lấy được lời khai của ông Tấn hòng quơ một mẻ thật lớn để báo công với bọn quan thầy người Pháp ở bốt Thanh Quang.
Tên Phó Dần nãy giờ vẫn chưa tìm được ông Nghĩa, anh trai ông Tấn. Hắn về bốt, rồi lại gần ông Tấn ngọt nhạt:
- Tấn, mày có một con giai rồi phải không? Mày biết tí gì về mấy thằng về cùng thì nói riêng tao biết. Xong rồi chúng tao cho mày về Hà Đông với vợ con mày.
- Tao chẳng có gì để nói, tao có cái mạng này thôi!
Tên quan Pháp vừa đi khỏi một lát thì một tên hương dũng chạy về đưa cho tên Quản Hàn cái túi xà cột bằng da của ông Tấn mà chúng tìm được gần đống Vuông, bên trong không còn gì. Quản Hàn giơ cái túi ra trước mặt ông Tấn, hắn hỏi:
- Cái gì đây, hả?
Tên cai già bốt Thanh Quang đánh liên tiếp vào người ông:
- Tài liệu mày giấu chỗ nào, nói!
Rồi chúng lại xông vào đánh đập ông như một bầy chó săn đang tranh nhau cắn xé con mồi...
Đến hai giờ đêm, khi ông giáo Mão và hai người phu ở xóm Trại đứng ngoài bốt nghe thấy chuông đồng hồ điểm hai tiếng boong boong, họ thấy trong bốt yên ắng dần, những tiếng láo nháo gần như tắt hẳn. Được một lúc thì cửa bốt mở ra. Một tên hương dũng bước ra nói:
"Thôi, cho chúng mày về!".
Các ông lại gần cửa bốt nhìn vào trong thì thấy ông Tấn nằm bất động trên sàn, cả một vũng máu loang ra ướt sẫm bộ quần áo nâu đã bị đánh đến rách tơi tả. Bị ốm chưa khỏi, rồi bị tra đánh đập tấn đến tận nửa đêm, mất nhiều máu, ông đã vĩnh viễn ra đi vào 2 giờ sáng ngày 10 tháng 8 năm 1951 tức mùng 8 tháng 7 năm Tân Mão1 (Theo lời kể của những nhân chứng khi xảy ra sự việc, có bổ sung tư liệu trong bản chép tay "Nhớ lại và suy nghĩ" của các ông Chu Công Thau và Chu Danh Bích).
Sáng hôm sau, khi trời còn chưa rạng, bà Bùi Thị Kim, một giao liên cốt cán của ông Tấn ra tận nơi ông bị phục kích để xem lại hiện trường. Tổ du kích do bà Kim phụ trách đem theo quang gánh giả làm người đi bán mạ non từ sớm, mỗi người một hướng đi quan sát hiện trường.
Đến bờ chuôm nhìn thẳng ra đống Vuông, bà Kim Sàng thấy ngoi lên cái gì nhìn như cái chuôi của khẩu súng lục. Bà lấy tay vục xuống đất bùn, móc lên được một khẩu súng lục với bao súng bằng da mà ông Tấn đã vùi lại bên bờ chuôm từ đêm hôm trước. Bà rút lõi súng ra thì đã thấy hết sạch đạn. Bà vội vùi khẩu súng xuống bờ chuôm rồi lấy chân đạp nó ngập sâu xuống bùn, lấy đất phủ lên giấu đi. Trong lúc cố chiến đấu vượt vòng vây, bị thương, súng lại hết đạn, ông vẫn cố gắng giấu đi khẩu súng lục để bảo vệ vũ khí cho cách mạng, không để súng bị rơi vào tay kẻ địch.
Tổ du kích của bà Kim ỏ dưới ruộng, giả tiếng người gọi nhau đi cấy làm ám hiệu, gọi bà ra gần đống Vuông. Tại đây, bà phát hiện thấy cả một vũng máu to loang rộng từ bờ ngang sang cả vệ lúa đang cấy. Trước đó, lần theo vết máu, tổ du kích đã moi lên từ dưới bùn xấp tài liệu mà ông Tấn đã xé nát rồi vùi xuống. Cầm xấp giấy nát trộn bùn trên tay, bà Kim vội vùi thật sâu xuống ruộng rồi lấy chân lấp bùn lên, lấy mấy nhánh mạ cấy xuống rồi đạp nát để ngụy trang, chôn vùi vĩnh viễn tên tuổi, danh sách, vị trí của các cán bộ du kích nằm vùng cùng những hầm bí mật trong xã.
Trên con đường đất nằm sát vệ làng, bà nghe dân làng bị bắt đi phu gánh gạch xây bốt đang láo nháo gọi nhau ra cửa Quán Ngãi Cầu xem chúng dựng xác ông Tấn ở đó, bà xách vội đôi quang gánh rồi chạy ra xem.
Sáng hôm đó, chúng đã dựng xác ông Tấn vào vệ rặng ngay nơi cổng chợ. Chợ khi đó được chúng gom lại, rào kín, chỉ có duy nhất một lối ra vào ở cửa Quán. Chiếc áo nâu ông mặc bị đánh rách nát đến tơi tả. Chúng trói dang ngang hai tay ông ra bằng cái khăn dài vải len. Dân làng sáng hôm đấy bị bắt đi gánh gạch xây bốt qua lại rất đông. Đến gần trưa, tên chỉ huy lại gần nơi dựng xác ông, người nào lại gần để xem là hắn túm lại rồi hỏi:
- Mày biết thằng nào đây không?
Ai nói "đó là Chủ tịch Tấn" thì hắn cho đi. Ai nói "không biết" thì hắn lấy roi quất tới tấp vào người đó. Đánh xong, hắn quát:
- Mẹ mày! Thằng Tấn đây mà mày không biết hả!
Hắn vừa nói lại vừa lấy roi quật vào xác ông Tấn.
Đến trưa, ông Nghĩa ra xin bọn chúng cho ông mang xác em trai về chôn cất. Viện cớ phải đợi ông quan Ba về để khám nghiệm tử thi, chúng không cho ông Nghĩa hạ xác ông Tấn xuống đem chôn, mặc cho ông khóc lóc van xin. Đến khoảng 3 giờ chiều, ông Chu Trí Nghĩa và gia đình ra nài nỉ van xin chúng mới cho hạ xác ông xuống, nhưng vẫn đắp chiếu để ở vệ rặng chứ không cho ông Nghĩa đem về chôn cất ngay. Đứng cạnh xác ông Tấn, tên phó lý nói: "Nghĩa, cho tao xin cái đầu thằng Tấn treo lên cổng chợ!".
Ông Nghĩa van xin, rồi vội vã chạy về qua nhà hàng xóm vay tạm mấy con gà mang ra biếu thì hắn mới cho qua. Đến 5 giờ chiều, rốt cuộc chúng cũng để cho ông Nghĩa đưa xác ông Tấn vào áo quan mang ra đồng chôn cất. Chiếc áo quan được thợ mộc mang gỗ ra đóng ngay cạnh xác ông Tấn cho vừa với khổ người cao lớn của ông.
Trời chạng vạng, mặc cho bọn hương dũng lởn vởn trên vệ đường cái, người dân xóm Chợ khiêng ông ra đồng khá đông. Đoàn người tiễn đưa ông đi lặng lẽ, ánh trời chiều từ phía đê Thanh Quang đổ ập về héo hắt. Trên vệ đường cái, nhiều người dân nhìn theo đoàn người đang khiêng ông ra đồng rồi ngả nón chào ông lần cuối, xung quanh là mấy tên hương dũng. Bộ quần áo nâu của ông bị đánh rách tơi tả đã được thay bằng bộ quần áo khâm liệm mới may xong, vải mua ở làng La Phù.
Cho đến tận khi đưa ông vào áo quan, mắt ông đã nhắm lại như bao giấc ngủ vĩnh hằng khác vẫn phải đến với mỗi con người. Những người khâm liệm đưa ông vào áo quan lại thấy miệng ông cười, hàm răng trắng đều tăm tắp của một người thanh niên mới 26 tuổi, ông ra đi mà miệng vẫn cười cho niềm tin vào ngày chiến thắng. Nơi ông an nghỉ nằm ở rìa khu trại ra đến sát vệ làng. Nơi ấy khi xưa chính là phần đất ruộng rộng 1,3 mẫu mà ông Tấn đem đổi để cùng vợ dọn ra dựng căn nhà lá trên miếng đất bên vệ đường cái; rồi mở hiệu may để tham gia hoạt động cách mạng những ngày tiền khởi nghĩa 19 tháng 8. Khu trại này sau đó vẫn được dân làng gọi là "Trại ông Tấn".
Suốt cả ngày hôm đó, lính hương dũng đi sục sạo tìm kiếm từ xóm Đông ra tận cánh đồng nơi ông bị bắn nhưng không tìm thấy tài liệu gì của ông. Xấp tài liệu ông mang theo với đầy đủ tên và bí danh các đồng chí hoạt động nằm vùng trong xã cùng với khẩu súng lục ông bắn đến viên đạn cuối cùng đã được ông giấu đi an toàn. Sự hy sinh của ông là một mất mát không thể bù đắp của phong trào kháng chiến Liên xã An Khánh và An Thượng. Đến tận lúc chết, ông vẫn quyết không khai lấy một lời, bảo vệ an toàn trọn vẹn cho các anh em đồng chí của ông. Trong đêm đó cho đến tận ngày hôm sau, chỉ có một mình ông Tấn bị bắt, các cơ sở ít ỏi còn lại trong xã cùng nhiều hầm bí mật chưa bị phát hiện vẫn được bảo toàn nguyên vẹn.
Ông hy sinh, để lại người vợ và cậu con trai Chu Trí Thắng mới 2 tuổi. Lịch sử lại một lần nữa lặp lại: ông mồ côi cha năm 2 tuổi khi còn chưa rõ mặt người cha đẻ ra mình, nay lại đến lượt con trai ông rơi vào cái vòng xoáy định mệnh đó. Từ đấy, vợ ông một mình thủ tiết thờ chồng nuôi con cho tới khi bà đột ngột qua đời năm 1988.
Tháng 6 năm 1952, được một tên đầu hàng làm chỉ điểm báo tin, lính hương dũng đi thuốn hầm ngoài đồng phát hiện được một căn hầm bỏ hoang ở gần đống Mả Dược nằm trên cánh đồng Giữa, lấy được một khẩu súng trường đã gỉ sét. Đây được cho là căn hầm mà ông Tấn định chạy ra ẩn nấp trong lúc bị truy đuổi, nhưng do bị thương kiệt sức nên ông bị bắt gần đống Vuông. Sau ngày giải phóng, khoảng năm 1955, một người dân đi cày ở xóm Đông tìm thấy khẩu súng lục đã hết đạn. Khẩu súng này đã được đem lên trưng bày tại Phòng truyền thống của xã An Khánh, một thời gian thì bị thất lạc.
Ngày 15 tháng 6 năm 1954, bộ đội huyện cùng du kích xã đánh diệt bốt Ngãi Cầu. Bộ đội cho nổ một quả bộc phá cực mạnh, xé tan cái lô cốt đầy rẫy những tội ác phản động này. Cùng thời gian, lính Pháp và Âu - Phi rút về tập kết tạm thời ở thị xã Hà Đông để chuẩn bị rút khỏi miền Bắc theo Hiệp định Giơ-ne-vơ đã ký kết. Cuối tháng 7, ta bức hàng đồn Thanh Quang, 150 lính ngụy ra hàng cùng toàn bộ vũ khí. Lá cờ ba vạch bị hạ xuống vĩnh viễn, thay vào đó là lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong nắng hè. Làng quê nơi ông chủ tịch Tấn sinh ra và lón lên nay đã sạch bóng quân thù!
Nơi địch dựng xác ông tại Cửa Quán cạnh Tam quan chùa Phổ Quang chính là nơi ông đã đứng canh gác cho lá cờ đỏ búa liềm của Mặt trận Việt Minh lần đầu tiên tung bay tại Ngãi Cầu ngay giữa phiên chợ một ngày mùa thu năm 1942. Đây cũng là nơi Lê Lợi và Nguyễn Trãi hạ trại, đóng quân (bên dòng Giang xưa - sông Đáy ngày nay), tạo thành mũi tiến quân bao vây Thăng Long đánh tan quân Minh ngày 10 tháng 10 năm Bính Ngọ (1426).
TIẾP BƯỚC THẾ HỆ ĐI TRƯỚC
Năm 1990, phần mộ của liệt sĩ Chu Trí Tấn được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ xã An Khánh ngày nay.
Để tưởng nhớ và trân trọng sự hy sinh, đóng góp của ông cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Đảng bộ và nhân dân xã An Khánh đã trân trọng đặt phần mộ của ông nằm đầu tiên trong khuôn viên tiền sảnh nghĩa trang gồm trên 100 mộ liệt sĩ.
Liệt sĩ Chu Trí Tấn được Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng truy tặng bằng Tổ quốc ghi công số za 630c, Nghị định số 176/TTg, cấp ngày 4 tháng 5 năm 1959; và Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Lệnh số 99/LCT cấp ngày 6 tháng 7 năm 1968, truy tặng bởi Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Hồ Chí Minh.
Ngày 26 tháng 4 năm 2002, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định số 232-QĐ/CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho lực lượng vũ trang nhân dân xã An Khánh.
Ngày 1 tháng 9 năm 2002, Đảng bộ và nhân dân xã An Khánh long trọng tổ chức lễ đón nhận danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".
Sau ngày ông Tấn hy sinh, địch càng truy lùng ráo riết hai mẹ con bà. Bà mang đứa con trai hai tuổi từ Vân Canh chạy vào So Sở, Quốc Oai. Tại đây, bà gặp được các đồng chí của chồng bà ở trên huyện, đồng chí công an Việt Hùng, đồng chí Chấn Hưng và đồng chí Hoàng Lễ. Để tránh cho người mẹ nuôi con nhỏ này đột ngột nghe phải tin dữ, các đồng chí vẫn chưa vội báo tin chồng bà đã hy sinh. Ở So Sở được mấy ngày thì bà gặp được bà Kim Sàng từ Ngãi Cầu về báo tin chồng bà bị bọn hương dũng làng Ngãi Cầu sát hại, bà đã khóc hết nước mắt. Các đồng chí và bà Kim Sàng khuyên bà đừng vội về Ngãi Cầu lúc này, như thế rất nguy hiểm. Nhưng bà vẫn xin gửi lại các đồng chí đứa con trai 2 tuổi rồi bí mật về Ngãi Cầu để thăm mộ chồng. Cũng như chồng bà khi xưa hành quân, bà lấy đêm làm ngày, bí mật vượt qua sông Đáy, luồn qua vùng địch đang kiểm soát gắt gao mới về được cánh đồng thôn Ngãi Cầu để thắp hương lên mộ người chồng thân yêu vừa mới nằm xuống cô quạnh giữa cánh đồng lúa đang trổ đòng đòng.
Ăn xong bữa cơm mà không dám thắp đèn với người mẹ chồng ỏ Ngãi cầu, bà chào từ biệt rồi lại về So Sở ngay. Từ đấy cho đến ngày giải phóng, bà ở So Sở rồi ra vùng tự do Hòa Bình đi buôn bán vặt để nuôi con. Sau ngày giải phóng, bà mang con về ở với mẹ chồng. Đến giữa năm 1956, mẹ chồng bà tự vẫn chết trong cuộc cải cách ruộng đất nhiều oan trái. Sau đó, bà mang con về quê ở thôn Phú Vinh, bỏ lại sau lưng thôn Ngãi Cầu với căn nhà bên vệ đường chất đầy những kỷ niệm đau buồn. Là con cả trong nhà, em trai đã hy sinh, bà một mình thờ chồng nuôi con và thay người em trai phụng dưỡng cha mẹ. Tiếp bước tấm gương mẫu mực của người chồng, bà công tác rất tích cực trong Ủy ban hành chính xã. Là gia đình cán bộ, vợ liệt sĩ, nêu cao tinh thần phấn đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhà nước giao phó, năm 1958 bà vào Tổ đổi công và góp hết đất đai tài sản vào Hợp tác xã. Bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3 tháng 10 năm 1964 và được bầu vào Hội đồng nhân dân xã An Khánh. Bà từng đảm nhiệm nhiều vị trí trong Ủy ban xã như Bí thư Ban chấp hành Hội phụ nữ xã An Khánh, Đảng ủy viên Đảng ủy xã An Khánh, Công an viên thôn Phú Vinh, Ủy viên Ban quản trị Hợp tác xã nông nghiệp, v.v... cho đến khi về hưu.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ở vị trí Bí thư Ban chấp hành Hội phụ nữ xã, bà đã tích cực cùng Hội phụ nữ đến các gia đình trong xã vận động bà con đóng góp sức người, sức của cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Được chính người vợ của "Ông chủ tịch Tấn" tích cực vận động, con em nhiều gia đình trong xã đã tình nguyện tòng quân vào Nam đánh giặc, tiếp bước truyền thống vẻ vang của những lớp người đi trước trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nưởc, An Khánh luôn là lá cờ đầu trong huyện Hoài Đức về số thanh niên thực hiện nghĩa vụ quân sự lên đườn vào Nam chiến đấu, đúng với phương châm: "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" và "Tất cả vì miền Nam ruột thịt".
Từ năm 1965 đến 1975, An Khánh thực hiện 36 đợt tuyển quân, đưa tiễn 2.450 người vào bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến. Kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, toàn xã có 222 liệt sĩ hy sinh trên các chiến trường và 113 thương binh. Khi có chiến tranh phá hoại, nhân dân các thôn dành 20ha đất để xây dựng trận địa pháo, 22ha đất xây dựng trận địa ra-đa tên lửa phòng không bảo vệ Thủ đô. Toàn xã huy động 80.000 ngày công xây dựng trận địa, 3.000 cây tre, gỗ xây dựng hầm cho bộ đội, 1.400 hộ dành một phần nhà cửa cho bộ đội và các cơ quan, xí nghiệp của Trung ương, nhân dân Hà Nội về sơ tán. Trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, An Khánh cũng bị máy bay giặc ném bom bắn phá. Quân dân An Khánh vừa phục vụ chiến đấu vừa phối hợp cùng các đơn vị bộ đội, ra-đa tên lửa bắn trả máy bay giặc Mỹ, góp phần cùng quân dân cả nước đánh thắng đê quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước1 (Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã An Khánh 1930- 2006, tr. 320, 321).
Trong những ngày giặc Mỹ leo thang đánh phá ác liệt miền Bắc nước ta, bà hăng hái vận động nhân dân xã hỗ trợ tích cực cho các trận địa pháo phòng không trong xã, tải thương, tiếp đạn, lo cơm nước cho bộ đội phòng không. Chính tay bà đã nhiều lần nấu cơm, đun nước chè xanh cùng bà con thôn xóm mang ra những trận địa pháo của bộ đội phòng không đang mải miết tìm diệt những Con Ma, Thần Sấm của đế quốc Mỹ. Căn nhà ngói ba gian của bà ở thôn Phú Vinh cũng chính là nơi đón nhận che chở cho nhiều đồng bào về tản cư tại xã An Khánh. Tình quân dân trong những ngày lửa đạn này thật đáng quý biết bao.
Thấy cảnh đồng chí nữ cán bộ xã mẹ góa con côi mà hoạt động hăng say tích cực, đảm việc nước giỏi việc nhà, nhiều đồng chí cán bộ trên tỉnh trong thời gian công tác ở xã đã đến tìm hiểu và ngỏ lời với bà. Nhưng lần nào cũng như lần nào, bà đều cự tuyệt từ chối, một lòng thờ chồng nuôi con cho đến cuối đời, đúng như những gì bà đã thề nguyện trong lần đầu tiên về thăm mộ chồng trên cánh đồng làng Ngãi Cầu đang mùa lúa chín. Cho đến khi về hưu năm 1981, bà đã tròn 20 năm hoạt động tích cực trên cương vị Chủ tịch Hội phụ nữ xã An Khánh (1961-1981), xứng đáng với truyền thống cách mạng của gia đình, xứng đáng vởi sự hy sinh của chồng và em trai bà.
Với những đóng góp rất tích cực của bà trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bà được tặng thưởng nhiều huân huy chương, trong đó vinh dự nhất là Huân chương Kháng chiến hạng Ba do Hội đồng Nhà nước truy tặng theo Quyết định số 77/KT-HĐNN, ngày 27 tháng 2 năm 1988, chỉ vài tháng trước ngày bà đột ngột qua đời do tai biến mạch máu não.
Cậu con trai duy nhất Chu Trí Thắng biết thương yêu bố mẹ đã luôn phấn đấu, học tập. Luôn là một học sinh xuất sắc, tốt nghiệp phổ thông trung học, năm 1967 anh được cử đi học ở Trường Đại học Quốc gia Baku, Azerbaijan, Liên Xô.
Trước khi Chu Trí Thắng lên đường sang Liên Xô, anh Chu Trí Nhượng, một người anh con chú con bác, viết thư cho Chu Trí Thắng kèm theo một bài thơ gửi tặng anh, nhắc đến liệt sĩ Chu Trí Tấn và vợ ông Tấn như những tấm gương mẫu mực về hình ảnh người chiến sĩ cách mạng, người vợ tảo tần một lòng thờ chồng nuôi con.
Xin được giới thiệu bức thư khuyến học này:
"Giữa lúc thanh niên ta nô nức tòng quân, giữa lúc toàn dân ta đang dồn sức đánh dập đầu con quỷ Mỹ xâm lược, em lên đường đi học!
Vậy em học tập ra sao cho xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của cha ông, truyền thống Việt Nam anh hùng để sau này phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân.
Dặn em: xa đất nước, xa mẹ, nhớ nhà, em nên đọc bài thơ này cho đỡ nhớ.
Chúc em: Vui, khỏe, trẻ, tươi Học tập chăm, điểm năm phơi phới.
Anh
Chu Trí Nhượng".
Về nước năm 1973, Chu Trí Thắng được cử làm giáo viên Nga văn tại Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Sau một thời gian công tác, học tập anh bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ rồi chuyển về Vụ Hợp tác Quốc tế Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Tiến sĩ Chu Trí Thắng còn giữ và giới thiệu với bạn bè nhiều bức ảnh lưu niệm giá trị thời kỳ anh công tác tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong đó có bức ảnh anh phiên dịch cho Đại tướng Võ Nguyên Giá đang làm việc với một chuyên gia Liên Xô tại nhà riêng Đại tướng năm 1978.
Chu Trí Thắng, nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, khi nghỉ hưu vẫn làm việc trong đề tài cấp Nhà nước về "Nghiên cứu và khai thác tài nguyên Biển Đông".
Vợ Chu Trí Thắng là cô giáo Đào Thị Thọ, tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, dạy học ở Cổ Nhuế, luôn luôn được sự tin yêu của học sinh, phụ huynh và bà con địa phương.
Con gái lớn Chu Trí Thắng, Thạc sĩ Chu Thị Phương Vân, cán bộ giảng dạy Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, chồng là bác sĩ Trần Quốc Khánh, khoa Quốc tế Bệnh viện Châm cứu Trung ương; con gái thứ hai, Cử nhân Kinh tế Chu Phương Chi, chồng là Kỹ sư Thủy lợi; con út, anh Chu Thành Long, sinh viên Trường Đại học Munich Cộng hòa Liên bang Đức, mọi người trong gia đình đều luôn phấn đấu xứng đáng với truyền thống các thế hệ đi trước.
Một điều mà Chu Trí Thắng thường suy nghĩ là làm sao có được cuốn sách viết về người cha của mình, liệt sĩ Chu Trí Tấn, nguyên Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính Liên xã An Khánh - An Thượng 1946-1951, nguyên Huyện ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chính Liên huyện Đan Phượng và Hoài Đức 1950-1951.
Đầu năm 2013, Thắng và gia đình đã cố gắng sưu tập một số tư liệu lịch sử của địa phương rồi cùng Đại tá Đỗ Sâm về tận quê An Khánh tìm gặp một số đồng đội cũ của ông Chu Trí Tấn, tìm về một số gia đình cơ sở đã nuôi giấu che chở cho ông những ngày hoạt động cách mạng khu vực huyện Đan Phượng và Hoài Đức, cũng như những vùng lân cận hai bên bờ sông Đáy.
Chu Trí Thắng nói:
"Quá trình hoạt động cách mạng của bố tôi cũng như các trận đánh do ông tham gia chỉ huy và lập kế hoạch tác chiến từ ngày ông tham gia Mặt trận Việt Minh năm 1942 cho đến khi hy sinh ở khắp khu vực huyện Hoài Đức; các nguồn tài liệu sưu tầm được đều là những nguồn tài liệu chính thống được các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nườc và Đảng bộ địa phương thẩm định và cho phép xuất bản. Thêm vào đó là những bản chép tay, những tư liệu hồi ký có bút tích xác nhận của một số đồng chí đã từng chiến đấu với bố tôi".
Trong những lần gặp mặt ôn lại những ngày chiến đấu gian khổ ác liệt thời kháng chiến chống Pháp ở Hoài Đức, Đan Phượng, anh chị em An Khánh thường nhắc đến người bạn chiến đấu Chu Trí Tấn.
Có lần ông Nguyễn Đức Bảo, nguyên Bí thư Đảng bộ xã An Khánh, nguyên Chủ tịch Ủy ban hành chính xã An Khánh liên tục 27 năm liền, năm nay đã ở tuổi 86 xúc động nhớ lại:
"Tôi đã được tiếp xúc với đồng chí Chu Trí Tấn từ ngày đồng chí làm Chủ tịch xã An Thượng. Được biết đồng chí Tấn là một cán bộ đảng viên gan dạ mưu lược, đã cùng với anh em công an và du kích diệt tên Trang trùm mật thám giữa ban ngày... Đồng chí Tấn đã cùng tôi nằm hầm tại nhà cụ Sơ, thôn An Thọ trong trận càn quét của địch ngày 10 tháng 2 năm 1949...
Sau khi đồng chí Tấn hy sinh, bà Nguyễn Thị Quyết vợ đồng chí Tấn đã ở lại một mình trông nom mẹ già và nuôi cậu con trai duy nhất từ khi mới 2 tuổi cho đến khi học hành thành đạt. Bà Quyết đã là Hội trưởng Hội phụ nữ từ 1961 đến 1981, luôn là một cán bộ phấn đấu tốt, có trách nhiệm tốt...".
SAU NGÀY ÔNG TẤN HY SINH
Sau ngày ông Tấn hy sinh là khoảng thời gian khó khăn chung của phong trào trên khắp liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng. Nhiều chi bộ xã được huyện đề nghị giải thể vì không còn đảng viên như ở chi bộ xã Đại La giải thể tháng 3 năm 1952, chi bộ xã Phú Lãm giải thể đầu năm 1952, v.v...
Cơ sở nhà bà Hựu không còn được sử dụng, thay vào đó là cơ sở nhà bà Hải. Sau ngày giải phóng 1954, bà Hựu đã vào Nam sống cho đến những năm tháng cuốỉ đời, mang theo những bí mật về cái đêm ông Tấn hy sinh.
Tháng 11 năm đó, đồng chí Bật là Phó chủ tịch xã hy sinh.
Nhiệm vụ duy trì phong trào của xã đặt lên vai các đồng chí Nguyễn Văn Thọ, Chu Công Thau, Chu Danh Bích, Đỗ Đình Viễn cùng hai nữ đồng chí Thái và Trúc với cơ sở bí mật là ba căn hầm được đào từ ngay đầu năm 1947: chiếc đầu tiên ngay dưới điện Tam bảo, chiếc thứ hai dưới tượng Hộ pháp và Thánh Hiền thông ra vườn, chiếc thứ ba nằm giữa bụi tre vườn chùa Phổ Quang và Quán, cạnh ngòi nước.
Tại ba căn hầm này, hai nhà sư Đàm Hán và Đàm Thắng ngày ngày lo cơm nước và nhận giao phát tài liệu. Gặp sư cụ Đàm Hán tại chùa Bộc dịp đầu tháng 5 năm 2013 khi sư cụ đã là sư trụ trì tại chùa này được hơn 40 năm, tác giả được sư cụ xúc động kể lại những kỷ niệm về ông Chu Trí Tấn. Sư cụ nói: "Ông ấy tướng mạo oai linh bệ vệ lắm. Ngày bé tôi đã làm tiểu ở trong chùa Phổ Quang, hồi đó chùa hay bị làng bên sang quấy nhiễu, tôi và sư Bác thường phải tránh nhờ sang nhà ông Tấn bên vệ đường đối diện, nhiều lần phải ngủ nhờ ở căn nhà gác nhà ông Tấn. Từ tấm bé khi tôi còn làm tiểu đến khi ông ấy hy sinh đã là chỉ huy du kích cả huyện Hoài Đức mình rồi, lúc nào ông Tấn củng gọi tôi là Tiểu Hán".
Sư cụ kể tiếp: "Ngày ấy ông Tấn hay tổ chức họp cho cán bộ huyện ở nhà Tứ Ân ba gian trong chùa, tôi ngoài việc chăm lo cơm nước cho các ông ấy còn cùng anh em du kích phân công bố trí nhau canh gác tứ bề cho ông Tấn họp ở trên chùa. Mỗi lần về chùa họp bí mật, ông Tấn hay vào bằng lối tường bên, đu lên cây cau ở góc Quán để nhảy vào khu nhà bếp của chùa, rồi đi vào chỗ nhà Tứ Ân ba gian để họp.
Sáng hôm ông ấy hy sinh, tôi ở chùa bên về đến làng thì thấy chúng nó đã dựng xác ông ấy trước cửa Quán. Đau xót thế đấy...".
Hệ thống hầm bí mật của ta được nhà chùa cho đào ngay trong chùa Phổ Quang, ngay sát nách địch để nắm tình hình địch. Các hầm này được đào ngày 2 tháng 5 năm Nhâm Thìn (1952), năm ngày sau khi đồng chí Xuân Thọ điều đồng chí Thau cùng bà Nguyễn Thị Thái và Nguyễn Thị Trúc vừa được huyện tăng cường xuống ra vùng tự do Hòa Bình học lớp chính trị ngắn ngày từ 25 tháng 7 đến 15 tháng 8 năm Tân Mão (1951). Cả ba căn hầm này bị mật thám chỉ điểm cho địch trên bốt Thanh Quang biết. Chúng đã đưa lính về càn quét, bắn chết đồng chí Xuân Thọ và đồng chí Viễn ngay tại cửa hầm trong vườn. Đồng chí Bích bị bắt đi tù. Đây là một tổn thất lớn của cơ sở Ngãi Cầu, trong lúc phong trào kháng chiến ở bốn làng còn lại của An Khánh đã bị giặc kiềm tỏa.
Học xong lớp chính trị, đồng chí Thau tiếp tục được điều về xã để khôi phục và củng cố phong trào, về đến xã Diên Hồng, huyện Chương Mỹ, do địch phong tỏa chặt đường quốc lộ 6 nên sau nhiều lần tiếp cận tìm cách trở về xã nhưng không thành vì dân ở hai bên ven đường quốc lộ 6 liên tiếp bị địch khủng bố kiểm soát gắt gao không qua được. Trước tình hình đó, huyện điều đồng chí Thau đi xã Phú Lãm, huyện Thanh Oai. Tháng 10 năm đó, đồng chí bắt đầu liên lạc lại được với cơ sở ở Ngãi Cầu. Tháng 11 năm 1952, đồng chí Thau trỏ về củng cố cơ sở ở Ngãi Cầu, đồng thời bắt môi gây dựng lại cơ sở ở thôn Yên Lũng. Phong trào và cơ sở đảng ở Ngãi Cầu vậy là vẫn được duy trì xuyên suốt. Ngày 18 tháng 4 năm 1954, Liên khu ủy tách huyện Liên Bắc thành hai huyện cũ là Đan Phượng và Hoài Đức. Đồng chí Thau được giao chỉ đạo phong trào tại năm làng của xã An Khánh cho đến sau ngày giải phóng.
Viết những trang cuối cùng của cuốn sách này, một điều làm tác giả cảm thấy đau xót, đó là thương vong của du kích xã (không tính tới số thương vong của dân) phần lớn lại không nằm trong những trận đánh đối mặt với quân địch.
Có thể kể ra ba trận điển hình sau:
- Trận chống càn vào bốn làng Sống hồi giữa tháng 10 âm lịch năm 1948;
- Trận chống càn vào bốn làng Sống hồi cuối năm 1949;
- Trận đại đội địch từ bốt Phùng đánh xuống khu du kích xã đóng tại nhà cụ Rậm và nhà cụ Lượng ở Ngãi Cầu.
Ở cả ba trận này, quân địch với sức mạnh hung bạo vượt trội là phía chủ động, còn ta thì bị động, nhưng thương vong của ta ở cả ba trận này hầu như không đáng kể.
Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp ở xã An Khánh, đặc biệt là ở làng Ngãi Cầu, thương vong lớn nhất chính là ở việc bị lộ hầm, lộ chỉ vì do mật vụ tay sai chỉ điểm. Còn những gia đình cơ sở trong xã An Khánh thì rất đáng tin tưởng. Bà con cho biết, nhiều ngưòi trong thế hệ ông, bà của họ dù bị giặc đánh đập tra tấn đến chết vẫn không khai ra những căn hầm giấu cán bộ.
Nếu nhìn vào cả cuộc kháng chiến chống Mỹ, với lượng bom đạn mà đế quốc Mỹ rải xuống hai miền Nam Bắc Việt Nam bằng cả tổng số bom đạn mà tất cả các phe sử dụng trong hai cuộc chiến tranh thế giới trước đó.
Không tính số thương vong của người dân cả hai miền Nam Bắc thì thương vong của quân ta so với tổng số thương vong của quân Mỹ và đồng minh là tương đương nhau, mỗi bên chịu thiệt hại khoảng 1,7 triệu cán bộ, sĩ quan và quân nhân chết và bị thương.
Ở đây chúng ta hiểu rộng ra số thương vong là tổng số người chết và bị thương trong suốt cuộc chiến dù với bất cứ lý do gì. Vậy nếu xét về năng lực tác chiến, ta không chịu khuất phục trước bất cứ một đế quốc hùng mạnh nào hiện nay!
Nghệ thuật đánh giặc của cha ông ta chính là lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều, tìm cho được chỗ yếu của giặc mà đánh. Đó cũng chính là tác nhân quan trọng giúp quân dân ta vượt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ với thắng lợi vẻ vang lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
Trước đây Na-pô-lê-ông, vị tướng chỉ huy nổi tiếng người Pháp đã nói:
"Nhìn chung quân đội của tôi hiếm có khi mạnh hơn đốiì phương, nhưng quân đội của tôi lại mạnh hơn ở những vị trí nhất định trong những thời điểm quyết định".
Sau ngày giải phóng, một số người Việt làm tay sai cho địch đã được hưởng chính sách khoan hồng của Chính phủ Hồ Chí Minh, được tha tội.
Các ông Chu Trí Xiển, Chu Công Thau và Chu Danh Bích giới thiệu với tôi cuốn sách do các ông biên soạn, cuốn "Lịch sử xây dựng và chiến đấu xã An Khánh" trong đó có đoạn viết:
"Tổng kết lại, thời điểm cao nhất chi bộ xã có 77 đảng viên, trong đó hy sinh 36 đồng chí, bị địch bắt và tù đày 15 đồng chí, điều vào bộ đội chủ lực 1 đồng chí, gửi đi học ở Trung Quốc 1 đồng chí".
Tới khi hòa bình được lập lại năm 1954, đảng viên ở Ngãi Cầu chỉ còn lại duy nhất đồng chí Chu Công Thau.
MỘT SỐ BÀI BÁO NÓI ĐẾN LIỆT SĨ CHU TRÍ TẤN
LIỆT Sĩ CHU TRÍ TẤN NGƯỜI CHỦ TỊCH XÃ BẤT KHUẤT KIÊN CƯỜNG*
(Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng số 235 tháng 7-2013)
Thăm nghĩa trang liệt sĩ xã An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội, xã đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, chúng tôi thấy phần mộ của liệt sĩ Chu Trí Tấn, nguyên chủ tịch xã, nguyên huyện ủy viên, nằm đầu tiên trong tiền sảnh nghĩa trang. Một số cán bộ đã cùng hoạt động với ông Tấn thời chống Pháp cùng một số nhân chứng khác giới thiệu với chúng tôi về người huyện ủy viên - chủ tịch xã hất khuất kiên cường này.
Những ngày đầu tham gia cách mạng Ông Chu Trí Tấn, sinh năm 1925 xuất thân trong một gia đình nho giáo tại Ngãi Cầu, tổng Yên Lũng, thuộc phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông cũ; nay thuộc địa phận thôn Ngãi Cầu, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, Hà Nội.
Học xong tiểu học, ông ra làm việc tại một xưởng dệt lớn ở Vạn Phúc. Được giác ngộ lòng yêu nước qua nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân Hà Đông, khi về lại quê ở Ngãi Cầu, ông Tấn đã cùng ông Chu Trí Xiển tổ chức thành lập Hội Thanh niên cứu quốc xã, đoàn thể Việt Minh đầu tiên của địa phương. Trong một phiên chợ, mặt trận Việt Minh tổ chức một buổi nói chuyện tuyên truyền chính sách đánh Pháp, đuổi Nhật, ủng hộ Việt Minh. Ông Tấn cùng ông Xiển đứng gác tại đầu làng. Bọn lính địch phát hiện thấy nhân dân tụ tập dưới lá cờ đỏ búa liềm đã kéo đến. Hai ông Tấn, Xiển lập tức báo cho đồng chí Việt Minh đang diễn thuyết rút lui an toàn.
Cuối năm 1942, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Quyết, con một gia đình nho giáo hiếu học. Sống với nhau được mấy tháng, một hôm, các ông Tấn, Xiển, Lưu, Phượng, Hòa.... trong hội Thanh niên cứu quốc xã tổ chức tuyên truyền vận động bà con cùng đứng lên chống chính sách hà khắc của chính quyền địa phương. Các ông Tấn, Xiển và nhiều ông khác đã bị tên tri huyện Dương Kỳ Xương bắt giam tại nhà lao Hoài Đức. Ra tù, ông tiếp tục lên Vạn Phúc xin làm công nhân dệt tại nơi làm việc cũ.
Ngày 1 tháng 5 năm 1943, ông đã tham gia cuộc mít tinh của Mặt trận Việt Minh tổ chức kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động với hơn 300 công nhân dệt ngay tại làng Vạn Phúc.
Bọn Hương chưởng đã ép chủ xưởng dệt phải cho ông Tấn thôi việc. Trở về sống ở Ngãi cầu, ngôi nhà nhỏ của hai ông bà trở thành nơi gặp gỡ của các thành viên cốt cán trong Hội Thanh niên cứu quốc xã, đôi khi còn là nơi họp kín của các ông Tấn, Xiển, Lưu... trong Mặt trận Việt Minh cho đến ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945.
Ngày 20 tháng 8 năm 1945, chính quyền cách mạng lâm thời xã Ngãi Cầu được thành lập. Ông Chu Trí Tấn được đề cử làm Phó chủ tịch, được bầu vào Hội đồng nhân dân xã, được phân công làm Ủy viên quân sự rồi làm Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ xã.
Toàn quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946, ông Chu Trí Tấn được giao nhiệm vụ tổ chức thành lập trung đội tự vệ vũ trang đầu tiên của xã Ngãi Cầu.
Ngày 31 tháng 12 năm 1946, ông Chu Trí Tấn nhận quyết định làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến xã Ngãi Cầu.
Sau nhiều lần chiến đấu chống những trận càn lớn của giặc Pháp, ngày 4 tháng 5 năm 1947 một lực lượng quân viễn chinh Pháp có xe tăng yểm trợ từ Phú Đô tiến xuống Đại Mỗ rồi đánh chùa Tổng, An Khánh, ông Chu Trí Tấn đã chỉ huy du kích Ngãi Cầu phối hợp với Vệ Quốc đoàn chiến đấu dũng cảm đánh lui cuộc tiến công của giặc Pháp.
Sau trận này, ông Chu Trí Tấn được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, được chỉ định làm Chủ tịch ỦY ban Kháng chiến hành chính Liên xã An Khánh - An Thượng vừa có quyết định sáp nhập rồi được bầu làm Huyện ủy
Những ngày dũng cảm bất khuất của Chủ tịch Chu Trí Tấn
Nói về ông Chu Trí Tấn, đầu năm 2013, ông Trần Thọ Châu, nguyên chính trị viên Đại đội 36 bộ đội Liên huyện Hoài Đức và Đan Phượng thời chống Pháp kể lại:
Tháng 6 năm 1949, du kích Liên xã An Khánh - An Thượng do Chủ tịch Chu Trí Tấn trực tiếp chỉ huy đã phối hợp chiến đâu với Đại đội 36 chúng tôi giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu chống cuộc càn quét lớn của hơn một tiểu đoàn quân địch vào Tây Mỗ.
Sau đó tháng 5 năm 1950, đại đội chúng tôi gặp lại ông Tấn cùng du kích liên xã của ông trong trận phục kích toán lính com-măng-đô tại Cầu Triều. Đây vốn là địa bàn quen thuộc của ông Tấn từ thời tiền khởi nghĩa khi ông sang học quân sự với anh em tự vệ khu vực này. Do đó đội quân du kích của ông đã phối hợp với chúng tôi tiêu diệt tên sĩ quan chỉ huy Pháp cùng nhiều tên lính khác, thu nhiều vũ khí, đạn dược.
Thời gian đầu 2013, bà Nguyễn Thị Sái, nguyên Phó chủ tịch xã An Khánh, nguyên xã đội trưởng rồi chính trị viên xã đội, nguyên đội trưởng một đội tự vệ xã cho biết bà đã được ông Tấn trực tiếp giao nhiệm vụ đào hào, phá cầu chặn không cho xe tăng địch hoạt động, vận động thanh niên nam nữ tham gia tự vệ, du kích xã, trinh sát tình hình địch để quân ta bí mật tập kích địch. Thời gian này tên Nguyễn Tiến Trang, chánh mật thám Hà Đông đã nhiều lần chỉ điểm, tổ chức cho bọn lính Pháp - ngụy càn quét đánh phá, gây nhiều tội ác với nhân dân địa phương. Ngày 12 tháng 11 năm 1948 nhận nhiệm vụ trên, ông Tấn đã chỉ huy một đội du kích trong đó có một số đồng chí thuộc đội Công an Z Hà Đông bắn chết tên Trang khi tên này đến gây tội ác tại Ngãi Cầu.
Thời gian này, bọn tề - ngụy kéo đổ cổng chùa Phổ Quang là nơi các đồng chí Chu Trí Tấn, Chu Trí Xiển và một số cán bộ huyện thường họp riêng. Sau đó các đồng chí được sự giúp đỡ của sư tiểu Thích Đàm Hán đã thường phải họp tại một số nơi kín đáo khác trong một số căn hầm gần đấy được sư tiểu và những cơ sở tốt trong xóm làng che chở. Hiện sư Thích Đàm Hán đang chủ trì chùa Bộc ở Đống Đa - Hà Nội.
Cuối tháng 4 năm 1949, được chỉ điểm của mật thám Hà Đông, phát hiện hai căn hầm bí mật ở Ao Nền, Ao Dài thuộc Yên Lũng, giặc Pháp đã tổ chức tiến đánh. Một số cán bộ chủ chốt hy sinh. Trả môi hận thù này, đồng chí Chu Trí Tấn đã trực tiếp chỉ huy một lực lượng du kích xã phối hợp với bộ đội chủ lực huyện tổ chức một trận phục kích ở Phổ Quang, Thanh Quang diệt 3 tên lính Âu - Phi, thu nhiều vũ khí đạn dược.
Bà Sái kể chuyện ông Tấn thường nhắc nhủ mọi người: "Vì Cách mạng, chết vinh còn hơn sống nhục. Thà chết chứ không bị địch khuất phục". Nhớ lời răn của ông Tấn, nhiều lần bà đã bị địch bắt giam tra tấn nhưng bà vẫn bất khuất không một lời khai báo.
Đại tá quân đội Chu Trí Xiển, nguyên bí thư chi bộ Liên xã An Khánh - An Thượng cho biết nhiều chuyện về lòng dũng cảm của ông Tấn từ thời kỳ đầu hoạt động trong thanh niên cứu quốc đến những ngày nằm hầm đánh giặc trong vùng tạm chiếm, phá âm mưu xây đồn bốt của Pháp - ngụy tại Ngãi Cầu, An Khánh, An Thượng...
Dịp Tết Tân Mão 1951, trong ngày hội làng, Mặt trận Việt Minh chủ trương đưa một tổ du kích trà trộn vào hoạt động. Các đồng chí Chu Trí Tấn, Đỗ Đình Viễn, Chu Công Thau mặc áo dài, đội khăn xếp mang theo vũ khí đứng cảnh giới yểm trợ.
Được chỉ điểm, bọn lính hương dũng phát hiện ra nhóm du kích, hô to: "Việt Minh! Việt Minh" rồi tháo chạy về bốt Thanh Quang gần đấy. Đồng chí Chu Công Thau đuổi theo, bắt một tên lính địch, tước lựu đạn. Các đồng chí và cả nhóm du kích đã rút an toàn ra ngoài. Sau đó, bọn địch dán cáo thị khắp làng treo giải thưởng mấy nghìn tiền bạc Đông Dương cho ai lấy được đầu chủ tịch Chu Trí Tấn mang nộp.
Bọn chúng đã tăng cường bảo vệ, xây thêm 4 bốt trong địa phận xã, trong đó có bốt Vân Lũng ở Chùa Cả là lớn nhất. Buổi sáng ngày mùng 3 tháng 3 năm Tân Mão (8-4-1951), ông Chu Trí Tấn trực tiếp chỉ huy một nhóm du kích tiến đánh bốt Vân Lũng, diệt nhiều tên ác ôn, thu một số vũ khí. Biết tin này, tên sĩ quan chỉ huy Pháp đã treo giải thưởng hàng vạn tiền Đông Dương cho bốt nào bắt được ông Chu Trí Tấn.
Đêm 9 tháng 8 năm 1951, ông Tấn nhận nhiệm vụ chủ trì cuộc họp tại gia đình một cơ sở tin cậy ở xóm Đông với 3 đồng chí huyện mới tăng cường về xã. Vừa đến đầu xóm Đông, ông Tấn gặp 3 tên lính hương dõng. Chúng đồng loạt nổ súng, một viên đạn đã làm thương cánh tay phải của ông. Tuy vậy ông vẫn kịp thời dùng súng ngắn bắn trả rồi đứng lên chạy về phía đống Vuông ngoài vệ làng. Bọn địch đuổi theo bắt được ông đưa đến đầu nhà ông Chu Đắc Thương, bắt ông Thương và ông Nguyễn Gia Lân khiêng ông Tấn về bốt Ngãi Cầu. Tên chỉ huy đã thưởng ngay một vạn tiền Đông Dương cho tên lính hương dũng đã bắt được ông Chu Trí Tấn.
Một tên cai già đến gần ông Tấn đang nằm trên một vũng máu ồ sàn hỏi:
- Tấn, mày về với ai?
- Mình tao!
- Bố láo, mày về cùng thằng nào, có mang theo tài liệu gì không?
- Không! Tao không thèm nói với mày.
Sau nhiều lần tra tấn, hành hạ dã man ông Tấn, bọn địch vẫn không nhận được một lời khai báo nào của ông ngoài những câu nói trên.
Và ông Chu Trí Tấn đã vĩnh viễn ra đi hồi 2 giờ ngày 10 tháng 8 năm 1951 khi vừa 26 tuổi.
Sáng hôm đó bọn địch đã dựng thi hài ông Tấn ở cổng chợ nhằm hăm dọa dân làng.
Ông hy sinh, để lại người vợ hiền và cậu con trai mới vừa 2 tuổi. Sau khi ông mất, vợ ông, bà Nguyễn Thị Quyết ngoài việc ở lại một mình nuôi con khôn lớn thành đạt còn tham gia nhiều hoạt động chính trị xã hội ở địa phương: Đảng ủy viên, Ủy viên Hội đồng nhân dân, Bí thư Ban chấp hành Hội phụ nữ xã An Khánh.
Cậu con Chu Trí Thắng biết thương yêu bố mẹ đã luôn phấn đấu, tốt nghiệp Trường Đại học Quốc gia Baku, Azerbaijan, Tiến sĩ nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Tuy hiện nay đã nghỉ hưu nhưng anh vẫn làm việc trong đề tài cấp Nhà nước về "Nghiên cứu và khai thác tài nguyên Biển Đông", vợ là giáo viên tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, các con đều đã trưởng thành tốt, xứng đáng với truyền thống ông, cha thời trước.
Kỷ niệm ngày thương binh liệt sĩ (27-7-1947 - 27-7- 2013), tôi cùng gia đình liệt sĩ Chu Trí Tấn đến thăm phần mộ liệt sĩ trong nghĩa trang liệt sĩ xã An Khánh, huyện Hoài Đức - Hà Nội. Nhiều bà con cùng hoạt động với chủ tịch Chu Trí Tấn và giúp đỡ ông thời kháng chiến chống Pháp đã chỉ cho chúng tôi những nơi trước đây, khi sinh thời, ông đã dũng cảm chiến đấu chống những trận càn của giặc Pháp, tập kích vào đồn giặc và nơi ông đã bị giặc Pháp bắt rồi tra tấn đến lúc ông hy sinh khi mới ở tuổi 26.
Mọi người dân An Khánh đều thương tiếc người Chủ tịch xã, người huyện ủy viên bất khuất, kiên cường đã dành suốt tuổi thanh xuân chiến đấu vì dân vì nước.
SƯ NỮ THÍCH ĐÀM HÁN THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
Bà con xã An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội, xã Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thường nhắc đến những thành tích hảo vệ cán bộ, du kích xã hoạt động, chiến đấu thời kháng chiến chống Pháp của Sư tiểu Thích Đàm Hán tại chùa Phổ Quang trong xã. Hiện nay Sư Cụ đang chủ trì Chùa Bộc tại Hà Nội, đã trên 80 tuổi, vẫn minh mẫn kể lại những chuyện trên 60 năm trước ở An Khánh.
Chùa Phổ Quang thuộc địa phận Ngãi Cầu, xã An Khánh, huyện Hoài Đức - Hà Nội, không những chỉ được biết đến như một ngôi chùa cổ linh thiêng mà còn bởi những vị sư có công lớn trong việc bảo vệ, giúp đỡ cán bộ, du kích hoạt động, chiến đấu, góp phần cùng toàn quân dân xã xây dựng, chiến đấu, đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Theo bà con Ngãi cầu, những vị sư thời đó, nếu còn thì cũng đã đều gần 90 tuổi.
Được biết Sư tiểu Thích Đàm Hán ở chùa Phổ Quang thời ấy hiện là Sư Cụ chủ trì Chùa Bộc, Đại tá Đỗ Sâm đã cùng tôi đến gặp và được Sư Cụ tiếp tại Chùa Bộc.
Chu Thành Long:
- Bạch Cụ! Con là cháu đích tôn ông Chu Trí Tấn, Chủ tịch xã An Khánh những năm Cụ tu hành tại chùa Phổ Quang trong xã. Hôm nay, bác Đỗ Sâm của con và con xin đến thưa chuyện với Cụ.
Sư Thích Đàm Hán:
- Mô Phật! Tôi đã được báo và đã chuẩn bị đón bác và anh.
Đỗ Sâm:
- Bạch cụ! Được bà con xã An Khánh cho biết, thời gian đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, ông chủ tịch xã Chu Trí Tấn đã được sự giúp đỡ của nhà chùa cho xây dựng 4 hầm tại vườn chùa Phổ Quang. Nhiều cuộc họp kín của anh chị em cán bộ xã huyện thường triển khai tại những căn hầm này, được sự bảo vệ, giúp đỡ của các sư Thầy, sư Bác trong chùa. Một lần, các đồng chí Chu Trí Tấn, Chu Trí Xiển cùng một đồng chí trên huyện cử về phải họp trong một buổi sáng. Được chỉ dẫn của sư Hán, các đồng chí đã từ ngoài chùa, trèo lên một cây cau sang nhà Tứ Ân sau vườn họp vừa bất ngờ, vừa bí mật. Đang họp thì mây tên lính ngụy theo sau một tên chỉ huy Pháp qua cổng Tam Quan tiến đến cửa một hầm ngoài vườn chùa.
Sư Hán nói to: " Nhà tu hành chúng tôi không thấy một người lạ nào vào chùa". Biết đây là ám hiệu có địch, cả ba đồng chí đã từ nhà Tứ Ân trèo cây cau, nhảy ra ngoài an toàn. Xin được Cụ cho biết thêm về sự kiện này.
Sư Thích Đàm Hán:
- Mô Phật! Đúng vậy. Nhà Tứ Ân còn gọi là nhà Cúng Vong sau Tam Bảo, ít người lui tới. Hôm ấy để tránh bị lộ, chúng tôi đã bàn rồi góp ý để các anh họp tại đấy. Việc nước là quan trọng. Nhà chùa chúng tôi từ trước và mãi mãi sau này đều hết lòng bảo vệ các anh hoạt động. Ngoài các anh còn nhiều chị như chị phó chủ tịch Sái, chị Kim, chị Cúc. Việc liên lạc giữa du kích xã với nhà chùa thường do các chị làm.
Phụ nữ vào chùa coi như đi cúng lễ, bọn địch ít để ý đến.
Đỗ Sâm:
- Bạch cụ! Nghe anh em du kích nói, biết các sư sãi trong chùa luôn bảo vệ giúp đỡ nên đã nhiều lần tổ chức các cuộc mít-tinh tại ngoài cổng chùa.
Sư Thích Đàm Hán:
- Mô Phật! Tôi nhớ có lần trong một phiên chợ, xã cử người đến nói với nhà chùa để được treo một lá cờ trên đầu cổng Tam Quan chùa, đón một đồng chí cấp trên về diễn thuyết kêu gọi bà con đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật, ủng hộ Việt Minh. Chúng tôi nhận lời ngay, ông có biết chuyện này?
Đỗ Sâm:
- Thưa có! Bà Sái vừa cho biết, sau khi được nhà chùa nhất trí, hôm ấy ông và ông Tấn đã cho treo một lá cờ đỏ búa liềm trên đầu cổng Tam Quan chùa. Trong khi các đồng chí cấp trên diễn thuyết, ông Tấn và ông Xiển đứng gác ở ngoài cửa Quán.
Bọn lính hương dõng trong làng thấy đám đông tụ họp dưới lá cờ đỏ búa liềm, biết có Việt Minh liền kéo đến.
Hai ông ra hiệu cho đồng chí diễn thuyết rút an toàn về phía Thượng Ốc.
Sư Thích Đàm Hán:
- Mô Phật! Hôm ấy, tôi và Sư Thầy hơn tuổi tôi là Sư Soạn chủ trì chùa đứng trong điện Tam Bảo đã chú ý lắng nghe diễn thuyết để biết thêm về Việt Minh vì trước đó chúng tôi có biết gì về Việt Minh đâu.
Đỗ Sâm:
- Bạch cụ! Đã nhiều lần giặc Pháp kéo đến gây thiệt hại cho nhà chùa?
Sư Thích Đàm Hán:
- Đúng vậy! Tôi nhớ một buổi sáng cuối năm 1948, một xe chở nhiều lính Pháp về bắt lính lấp cổng Tây chùa, san lấp các đường hào quanh chùa rồi kéo quân sang cả Chùa Do, xây đồn bốt, luôn quấy nhiễu bà con trong làng và chúng tôi.
Nhà chùa lại càng hiểu Việt Minh hơn, càng thấy luôn phải ủng hộ, bảo vệ các anh. Nhà chùa rất quý chủ tịch Tấn và anh em du kích trong xã.
Chu Thành Long:
- Bạch Cụ! Cụ thấy ông Tấn của con thế nào ạ?
Sư Thích Đàm Hán:
- Ông Tấn là một con người luôn hăng hái, chân thật, nghe nói ông giữ một chức vụ cao trên huyện, thường chỉ cùng một số ít anh em về trú và làm việc ở chùa vào ban đêm, ban ngày lại ra đi. Anh hỏi về ông? Chỉ biết ông lúc nào cũng oai phong bệ vệ, đã chỉ huy nhiều trận đánh làm bọn địch phải hoảng sợ. Chúng đã treo thưởng hàng vạn tiền Đông Dương cho bốt nào bắt được ông Tấn.
Đêm 9 tháng 8 năm 1951, trên đường đi họp, ông Tấn đã bị địch bắn bị thương rồi đưa ông về bốt tra tấn nhưng không nhận được một lời khai nào có hại cho cách mạng.
Và ông Chu Trí Tấn đã hy sinh ngày 10 tháng 8 năm 1951 khi vừa 26 tuổi. Sáng hôm đó địch đã dựng thi hài ông Tấn ở cổng chợ nhằm hăm dọa dân làng, ông hy sinh, để lại người vợ hiền và cậu con trai mới vừa 2 tuổi.
Sau khi ông mất, vợ ông, bà Nguyễn Thị Quyết ngoài việc ở lại một mình nuôi con thành đạt còn tham gia nhiều hoạt động chính trị xã hội ở địa phương: Đảng ủy viên, Ủy viên Hội đồng nhân dân, Bí thư Ban chấp hành Hội phụ nữ xã An Khánh.
Nói về ông Tấn, bà Phó chủ tịch Sái khi đi lễ chùa cho biết đã ba lần bà bị giặc Pháp bắt tra tấn dã man nhưng bà luôn nhớ lời căn dặn của ông Tấn: "Bị địch bắt, phải kiên định lập trường. Thà sống vinh còn hơn chết nhục".
Năm 1952 khi được ra tù ở trại giam Nhà Tiền Hà Nội, tôi tự hào đã giữ vững khí tiết nhưng lúc ấy thì ông Chu Trí Tấn đã không còn nữa.
Thương tâm thế đấy!
Sau cuộc giao lưu bổ ích gần một tiếng đồng hồ với Sư Cụ Thích Đàm Hán, khi tiễn chúng tôi ra cổng, dừng lại trước Tam Quan, Sư Cụ nói tiếp:
- Trước những câu hỏi của các anh, tôi biết các anh đang làm một việc thiện: nêu những tấm gương sáng thời kháng chiến chống Pháp của quân dân An Khánh - Hoài Đức anh hùng, của các ông Chủ tịch Chu Trí Tấn, ông Bí thư Chu Trí Xiển, bà Phó chủ tịch Nguyễn Thị Sái cùng biết bao người quê hương ta để thế hệ trẻ học tập.
Đó là những việc thiện. Nhà chùa chỉ biết theo Đức Phật làm việc thiện.
Tôi đã kể lại những điều đã biết thời gian ấy chứ không hề có ý kể công.
Việc Dân cũng như việc Phật, việc Phật cũng như việc Dân.
Đỗ Sâm và Chu Thành Long:
- Cám ơn Sư Cụ!


