Liệt sĩ Chu Trí Tấn phần VII - Bình định Hà Đông, chia tay Liên Bắc
Câu chuyện về liệt sĩ Chu Trí Tấn phần VII
Ngày 18 tháng 10 năm 1950, quân ta kết thúc chiến dịch Biên giới thắng lợi, còn kế hoạch Rơ-ve1 (Đại tướng Rơ-ve, Tổng Tham mưu trưởng lục quân Pháp thời ấy) của Pháp nhằm mục tiêu khóa chặt biên giới Việt Trung bị phá sản.
Cách mạng nước ta có thêm thế và lực mới. Nhằm củng cố và giữ chắc trung du và vùng đồng bằng Bắc Bộ, thực dân Pháp thực hiện kế hoạch Đờ Lát đờ Tát-xi-nhi2 (Jean De Lattre De Tassigny là tên một vị Đại tướng Pháp trong Đại chiến thế giới lần 2 có con trai là trung úy Bernard De Lattre De Tassigny (11-2-1928) bị tử trận ở Non Nước - Ninh Bình năm 1950). Chúng đã rút bớt quân từ mặt trận Hòa Bình về để tăng cường bình định Hà Đông và Sơn Tây, đồng thời gấp rút phát triển ngụy binh với quy mô lớn để bổ sung cho quân đội viễn chinh và xây dựng quân đội quốc gia bù nhìn.
Thực hiện âm mưu bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ, với Hà Đông là trọng tâm cửa ngõ phía tây nam Hà Nội, giặc tăng cường bắt thanh niên đi lính ngụy, mở rộng xây dựng thêm đồn bốt trong khu vực. Liên xã An Khánh - An Thượng nằm trong vùng bị tạm chiếm nên thường xuyên bị địch đánh phá quyết liệt. Chỉ trong hai tháng cuối năm 1950, 25 cán bộ, đảng viên, du kích và quần chúng cơ sở của 5 làng thuộc xã An Khánh hy sinh.
Cuối năm 1950, trước tình hình mới có nhiều biến động, ông Chu Trí Tấn được huyện chỉ định làm Huyện ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính Liên huyện Đan Phượng - Hoài Đức.
Thời gian sau, ông Chu Trí Tấn được đề bạt lên cấp huyện là một trong số năm huyện ủy viên của Liên huyện Hoài Đức - Đan Phượng gồm đồng chí Chủ tịch huyện, Phó Chủ tịch huyện và ba đồng chí Huyện ủy viên khác.
Ngoài ra ông Chu Trí Tấn còn là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên xã An Khánh - An Thượng.
Từ cuối năm 1950, giặc bắt dân Ngãi Cầu đi chặt tre, gánh gạch, phá tường bao nhà của dân lấy gạch xây bốt. Tệ hại hơn, chúng đào cả sân đình để lấy gạch, phá cả sàn đình để lấy gỗ. Tất cả vật liệu được chất tập trung ngay tại nền Tam quan chùa Phổ Quang nơi cách đó 3 năm, giặc đã dùng xe tăng kéo đổ. Rồi chúng bắt dân đi phu xây bốt Ngãi Cầu ở cửa Quán. Một số người dân phản đối chặt tre dỡ gạch ngói đã bị chúng bắn chết. Gia đình ông Nghĩa vì có em trai là ông chủ tịch Tấn đi hoạt động nên thời gian này cũng thường xuyên bị giặc về nhà đe dọa sách nhiễu, dỡ ngói, cạy gạch lát sân đi xây bốt. Nhiều lần chúng lấy căn nhà gác của ông làm nơi tổ tôm nhậu nhẹt. Chúng còn bắt gia đình ông Nghĩa và nhiều hộ khác trong làng phải nấu cơm cun phụng lính hương dũng và Hội đồng hương chính ăn uống.
Cuối tháng 12 năm 1950, địch cho xe cam nhông về làng bắt đi nhiều thanh niên lớn tuổi cùng với những người trước Cách mạng Tháng Tám đã từng đi lính cho Pháp. Ba tuần sau đó, chúng đưa chính những người này về làng với quân phục, mũ phớt lệch vành, mỗi người mang một khẩu súng trường. Họ đã trở thành lính hương dũng, lính tề vũ trang, được huấn luyện và trang bị mạnh hơn trước để kìm kẹp, chuẩn bị giết hại chính đồng bào mình. Sang năm 1951, giặc xây dựng thêm 4 bốt tề vũ trang trong xã là bốt Ngãi Cầu, bốt Vân Lũng, bốt An Hạ và bốt Đào Nguyên.
Trung bình mỗi bốt có 25 lính được trang bị súng trường và lựu đạn. Thời gian này bắt đầu xuất hiện tại bốt Ngãi Cầu một loại súng trường mạnh do đế quốc Mỹ tài trợ cho Pháp hòng xâm lược nước ta. Ngoài loại súng trường mút-cơ-tông còn có thêm súng trường Rơ-minh-tông đời 1934 do Mỹ sản xuất, có uy lực lớn, độ sát thương cao. Ở tầm bắn 10 đến 15 mét, người trúng đạn súng Rơ-minh-tông có thể bị xé cả chân tay. Địch lấy tre rào hai đầu đường 72, gom chợ Ngãi Cầu họp ngay gần bốt để dễ bề kiểm soát. Các bốt này đều thuộc quyền chỉ huy của bốt Thanh Quang, một vị trí quân sự trọng yếu của giặc trên phòng tuyến đê sông Đáy.
Bốt Thanh Quang lúc cao điểm có tới 150 sĩ quan và binh lính. Bốt này do một tên quan Pháp chỉ huy, có lính Âu - Phi và lính ngụy hỗn hợp. Chúng có đại liên, 89 súng trường, tiểu liên và đặc biệt có cả súng cốỉ 82mm, có khả năng bắn yểm trợ cho đồng bọn tại bốt Ngãi Cầu.
Bốt Thanh Quang là cơ quan đầu nào đã chỉ đạo xây các bốt ở gần như An Hạ, Đào Nguyên cho đến các bốt ở xa như La Phù, v.v...
Nhiều lần bộ đội và du kích Liên xã An Khánh - An Thượng đã quấy rối, bắn súng vào đồn, phá rào, cắm cờ, rải truyền đơn, tuyên truyền địch vận. Một lần du kích xã phối hợp với du kích Vân Côn vây bốt Thanh Quang liền hai ngày hai đêm, lần khác phối hợp với du kích Đại La, Vân Côn vây bốt này nguyên một tuần lễ. Du kích xã còn có nhiều sáng tạo như gài lựu đạn giả nhồi rơm quanh bốt, thậm chí treo cả đạn Ba-zô-ka vào các rặng rào quanh bốt, thả diều ban đêm để giật cờ 3 vạch của địch. Sau mỗi trận mưa, du kích xã còn có sáng kiến là ném "lựu đạn vôi" (vôi cục cho vào lọ thủy tinh to) vào rãnh hào ngập nước tạo ra những tiếng nổ và mảnh sành bắn tung tóe không kém gì lựu đạn thật, quấy rối làm cho địch mất ăn mất ngủ.
Vào một đêm mùa xuân năm 1950, ông Tấn đã trực tiếp chỉ huy du kích xã bí mật kéo đổ một đoạn hàng rào bốt Thanh Quang rồi dùng cối 82mm chiến lợi phẩm vừa thu được bắn trúng công sự một khẩu đội súng máy 12,7mm của địch.
Trong trận này ta bắn chết hai tên lính Âu - Phi, một tên lính ngụy bị thương nặng, phá hỏng một súng 12,7mm của địch. Chúng đánh điện gọi pháo từ Ba La bắc bắn chi viện quanh bốt Thanh Quang suốt một ngày. Ông Tấn cùng toàn bộ anh em du kích rút ra an toàn trong niềm hân hoan của anh em du kích trận đầu dùng súng cối chiến đấu thực nghiệm thắng lợi việc đánh đồn, tiêu hao sinh lực địch.
Từ cuối 1950 tới đầu 1951 sau khi ta đã giải phóng toàn bộ một dải biên giới Việt - Trung, địch dồn quân về tập trung bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ mà một trong những trọng tâm là hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây. Chúng tăng cường bắt thanh niên đi lính ngụy, xây dựng thêm hàng loạt đồn bốt hương tổng dũng liên hoàn. Thời gian cuối năm 1950, Đại đội 36 đã gặp nhiều khó khăn, tiêu hao mất gần một trung đội; đồng chí Đại đội trưởng Lê Thao hy sinh anh dũng. Lực lượng dân quân du kích nhiều người hy sinh. Tổn thất của Liên Bắc và dân quân du kích lúc này nhiều hơn các huyện khác.
Đến đầu năm 1951, Đại đội 36 phải chuyển hướng hoạt động, phân tán lực lượng về tỉnh tăng cường cho quân chủ lực, một số cán bộ chiến sĩ được điều động về địa phương, chuyển hướng hoạt động sang gây dựng cơ sở chính trị. Các đồng chí trung đội trưởng Chu Công Thau, Chu Danh Bích trở về An Khánh cùng ông Tấn chỉ huy du kích địa bàn nam Hoài Đức.
Đầu năm 1951, cơ sở đảng ở xã Thọ Nam bị thiệt hại nặng, huyện chỉ định ông Chu Trí Tấn kiêm nhiệm làm Bí thư Chi bộ xã Thọ Nam1 (Xã Thọ Nam hiện nay đã được tách thành 2 xã Vân Canh và Lại Yên).
Vậy là một loạt cán bộ, chiến sĩ Đại đội 36 từ đầu toàn quốc kháng chiến đành phải chia tay Liên Bắc, chia tay người đồng chí Chu Trí Tấn và xóm làng An Khánh thân yêu đi nhận nhiệm vụ mới.
Xin giới thiệu một số kỷ niệm về các đồng chí Trần Thọ Châu, nguyên Chính trị viên Đại đội 36 Liên Bắc và Nguyễn Văn Toàn (bí danh Bình Tâm), Bí thư Huyện ủy Liên Bắc từ tháng 10 năm 1949 đến tháng 10 năm 1951, khi đã hòa bình, đồng chí đã được cử giữ chức Thứ trưởng thường trực Bộ Giao thông Vận tải từ tháng 1 năm 1979 đến lúc nghỉ hưu đầu năm 1982.
Đầu năm 1951, đồng chí Trần Thọ Châu được huyện điều về huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình chuẩn bị xây dựng lực lượng để thành lập Trung đoàn 46, đoàn Sông Đào. Cùng thời gian này, đồng chí Bình Tâm được tin ông chuẩn bị đi nhận công tác ở huyện khác, và rồi một ngày mùa thu năm 1951, đồng chí Bình Tâm đã rời xa Liên Bắc để nhận công tác mới ở huyện Phú Xuyên.
Nói về những ngày tháng chiến đấu sát cánh cùng du kích Liên xã An Khánh - An Thượng chông thực dân Pháp xâm lược, đồng chí Bình Tâm bồi hồi nhớ lại:
"Đồng chí Chu Trí Tấn là chủ tịch một xã trọng điểm ở vùng nam Hoài Đức. Xã ngày đó tên là xã An Thượng, gồm tất cả 10 làng; xã có đóng góp rất nhiều cho phong trào của huyện nói chung và khu vực tổng La thời đó (La Dương, La Nội, La Phù, La Khê, La Cả, v.v...) nói riêng. Xã có số đảng viên đông hơn các xã khác, phong trào rất mạnh. Làng Ngãi Cầu nằm ở vị trí then chối trong xã, có phong trào mạnh hơn cả so với 9 làng còn lại là 4 làng Sống và 5 làng Thượng Ốc, nên Ngãi Cầu cũng là nơi địch tập trung đánh phá mạnh. Làng Ngãi Cầu là một làng điển hình tốt về nhiều mặt:
- Xuất sắc về mặt chiến đấu;
- Xuất sắc về xây dựng lực lượng công an và dân quân du kích;
- Xuất sắc về đóng góp nhân lực cho việc thành lập Đại đội 36 Liên Bắc, cụ thể là 2 đồng chí trung đội trưởng là ông Chu Công Thau và Chu Danh Bích. Cả hai đồng chí này đều là người cùng làng Ngãi Cầu với đồng chí Chu Trí Tấn.
Ngãi Cầu nhiều năm là vùng tề trắng, vẫn nằm trong tầm ảnh hưởng đáng kể của ta: Không đóng thuế cho địch, không đi lính cho địch, không thành lập chính quyền tề cho địch; nổi bật phong trào tổng xé thẻ căn cước lát-xê - pát-xê và vận động quần chúng nhân dân nổi dậy diệt tề trừ gian...
Đồng chí Tấn là người trực tiếp điều động du kích xã tham gia phối hợp với Đại đội 36 bộ đội huyện Liên Bắc đánh nhiều trận, điển hình như:
- Trận diệt đồn Đại Mỗ;
- Đánh chống càn ở Ngãi Cầu;
- Đánh phục kích từ Biển Sắt đến La Dương.
Biển Sắt là khu vực ngã ba Ngãi Cầu - Tây Mỗ - Hà Đông. Tại đây ngày đó có một tấm biển chỉ đường bằng sắt rất to nên người dân thường quen gọi là "ngã ba Biển Sắt". Nơi này có địa hình là một vùng đồi cây cối rậm rạp, người dân không trồng trọt canh tác gì ở đây, lại có lắm mả mới mả cũ lẫn lộn. Trong năm 1950, du kích Liên xã An Khánh - An Thượng, mà hạt nhân nòng cốt chiếm đa số là du kích Ngãi Cầu, từng nhiều lần cùng bộ đội huyện phục kích địch ở đây theo chiến thuật "Bạch binh độn thổ".
Nói về cách đánh "Bạch binh độn thổ", đồng chí Bình Tâm nhớ lại: "Bạch là trắng, binh là quân, nghĩa là quân đội tay trắng không có vũ khí gì ngoài dao găm và lựu đạn. Khi lính "ba-tui"1 (Tiếng Pháp "Patrouille" có nghĩa là lính tuần tra) đi tuần qua, du kích bật nắp hầm xông lên ném lựu đạn làm cho địch hoảng loạn bỏ chạy, rồi dùng dao găm xông vào cướp vũ khí, truy kích cho đến khi chúng về đến gần đồn.
Du kích Tân Hội ở trận đê Liên Mạc, du kích Ngãi Cầu ở trận Biển Sắt và du kích La Dương là ba đội du kích điển hình từng nhiều lần tham gia phối hợp với bộ đội huyện đánh bạch binh độn thổ. Đặc biệt là ở Biển Sắt, ta đã đánh bạch binh độn thổ nhiều lần rồi...
Thời đồng chí Tấn còn sống, phong trào phát triển mạnh. Bởi thế mà đến năm 1951, nó bắt được đồng chí Tấn nên đã trả thù dã man đến như vậy".


