Liệt sĩ Hoàng Thượng Lân
Liệt sĩ Hoàng Thượng Lân, là lớp đàn anh. Anh sinh năm 1946, quê Cẩm Nhượng, Hà Tĩnh, là con trai của nhà báo Hoàng Nguyên Kỳ, nguyên Thư ký tòa soạn Báo ảnh Việt Nam, dịch giả của nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng như Tự do hay là chết, Xa Mạc-tư-khoa... Anh Lân tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Hà Nội, cùng khóa với các họa sĩ Thành Chương, Lê Trí Dũng… 21 tuổi, Lân xung phong vào bộ đội, biên chế trong Tiểu đoàn 395, thuộc Sư đoàn 320B và vào Nam ngay sau ba tháng huấn luyện, chiến đấu trên mặt trận
Hoàng Thượng Lân từng bị thương cụt ngón tay cái bên phải và mỗi ngày kề cận nhiều lần cái chết. Trong trận chiến đấu ác liệt ngày 5-3-1968 ở xóm Ðại Ðộ, Quảng Trị, riêng anh đã diệt bốn tên xâm lược Mỹ và được phong tặng Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 3.
Ngày 4-11-1968, anh được tặng thưởng Huân chương Giải phóng. Năm 1970, anh được điều ra miền Bắc. Thời gian này, có những bài viết và tác phẩm của anh được đăng trên báo Nhân Dân, báo Quân đội nhân dân; được giữ lại công tác tại báo Quân đội nhân dân, được cấp trên cử đi học văn hóa để thi vào Đại học Kiến trúc thì anh đã lại chọn con đường khác: Trở vào nam chiến đấu với đồng đội của mình, trở vào nơi anh đã biết gian khổ thiếu thốn, cả đất đá cũng bị xay nhỏ và cái chết có thể đến bất cứ lúc nào. Và anh cũng biết, cũng cháy lòng khi biết bố mẹ sẽ khổ như thế nào trước cái chết của anh... Anh đã chọn một cuộc sống mà anh cho là có ý nghĩa nhất vào lúc đó.
Và vào một ngày tháng 10-1971, khi đang vượt sông Xê-băng-hiêng, một chùm bom B.52 tọa độ đã cướp đi sinh mạng Hoàng Thượng Lân, một người lính dũng cảm, một tài năng nhiều mặt và dòng nước Xê-băng-hiêng đã cuốn trôi tập bản thảo cuối cùng của anh. Có thể đó đã là những trang viết hay nhất của Hoàng Thượng Lân, một tác phẩm được hun đúc bởi sự dạn dày trận mạc và độ chín tài năng mà mãi mãi không bao giờ chúng ta được đọc.
Tôi có hai người anh hy sinh ở Quảng Trị. Mỗi lần đọc nhật ký của anh Hoàng Thượng Lân viết ngày 8-2-1968, tôi như thấy lời căn dặn của chính anh mình: “Con đang chiến đấu, đang bắn vào đầu quân thù dữ dội. Ðã hai trận rồi ba mẹ ạ. Nhiều lúc con cứ tưởng như con đang mơ chứ không phải sự thật nó thế này. Con đã xác định kỹ rồi. Con biết con có thể sẽ chết, sẽ không bao giờ trở về với gia đình nữa bởi bom đạn ở đây khốc liệt quá. Lực lượng chiến đấu chênh lệch nhau quá. Bên ta chỉ hơn nó về mặt dũng cảm, mưu trí và tháo vát. Còn nó, nó nổ đạn như mưa, bắn không biết bao nhiêu mà kể nữa. Nhưng dù con có chết cũng là một vinh dự lớn cho gia đình. Con không chết ô nhục đâu. Nơi đây con tìm cái chết quang vinh, cái chết tô thắm nét sử vàng dân tộc... Tình yêu Tổ quốc lúc này đối với con vô cùng rộng lớn, vô cùng tha thiết. Tất cả những gì đã phải mất máu xương mới giành giật được, sau này, ba mẹ nhớ nói với các em phải biết quý trọng, nâng niu bởi một phần máu xương trong đó là của con nữa”…



