LIỆT SĨ NGUYỄN THỊ TÚ
LIỆT SĨ NGUYỄN THỊ TÚ (Tên khác: Năm Tú)
Cuối năm 1960, cao trào Đồng Khởi lan rộng trên khắp các tỉnh miền Nam. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Cùng lúc, phong trào quần chúng và phong trào trí thức ở Sài Gòn vùng lên mạnh mẽ đòi trả tự do cho các chính trị phạm, những người đã bị bắt trái phép, bị giam giữ không thời hạn. Ngô Đình Diệm buộc phải cho thành lập Ủy ban nghiên cứu liên bộ Nội vụ – Tư pháp – Quốc phòng để xét trả lại tự do cho trên 3000 tù nhân các trại. Bà Năm Tú và bà Diệp Tú Anh lúc đó đang được điều trị ở bệnh viện Chợ Quán được gọi lên trả tự do.
Ra khỏi tù, bà được Thành ủy Sài Gòn – Gia Định bố trí giao liên đưa vào chiến khu cùng với bé Ly – Lan, đứa con gái nhỏ sinh ra không biết mặt cha, chỉ gặp mẹ trong các nhà tù, trại giam.
Năm 1960, bà được bầu là Ủy viên Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Tháng 8 năm 1961, tại Đại hội thành lập Hội Phụ nữ Giải phóng Sài Gòn – Gia Định, bà được Đại hội nhất trí bầu làm Hội trưởng. Tiếp đó, bà lại được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Lâm thời Trung ương Hội Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Năm 1963, bà được cử đi học lớp báo chí do Trung ương Hội mở cho 16 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Đồng Nai, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bạc Liêu, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang…
Tháng 3 năm 1965, Đại hội Phụ nữ toàn miền Nam lần thứ nhất được tổ chức, bà được bầu làm Tổng thư ký đồng thời là Ủy viên thường trực Ban chấp hành Hội.
Trong lúc này, tại các vùng nông thôn, hàng vạn gia đình bị gom vào ấp chiến lược, đời sống vô cùng ngặt nghèo, khiến các cô gái làng quê ngày nào chỉ quen với ruộng đồng nay phải vào thành phố kiếm sống tại các nơi. Các cô không có lựa chọn nào khác ngoài đi làm cho các sở Mỹ hoặc bán mình tại các quán bar. Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Giải phóng quyết định thành lập một tổ chức công khai tại Sài Gòn, có thể hướng dẫn trực tiếp, kịp thời dư luận và quần chúng bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi người phụ nữ. Bà Nguyễn Thị Tú với tư cách Ủy viên thường trực Ban chấp hành Trung ương Hội, đồng thời là Hội trưởng Hội phụ nữ giải phóng Sài Gòn – Gia Định được giao nhiệm vụ này. Vào ngày 26 tháng 6 năm 1966, Hội Bảo vệ nhân phẩm và Quyền lợi phụ nữ Việt Nam làm lễ ra mắt ngay tại trường tư thục Đức Trí.
Cuối năm 1966, Mỹ mở trận càn Cedar Falls, phối hợp với quân đội Ngụy tràn vào khu Tam giác sắt gồm các huyện Củ Chi, Dầu Tiếng, Bến Cát. Trên trời máy bay quần đảo bỏ bom không ngớt, dưới sông Vàm Cỏ Đông thì tàu chiến bắn lên, ngoài Đồng Dù ca nông bắn vào. Trên mặt đất hàng đàn chiếc xe tăng tràn vào, cày nát đất, băm nát các cây cao su non. Bà Năm Tú và hai đồng chí khác bị mất tích trong trận càn.
Các cuộc tìm kiếm do cơ quan và do chính ông Tạ Bá Tòng từ nội đô trở về thực hiện đều vô vọng. Hy vọng bà bị ngụy bắt bỏ tù, bị Mỹ bắt chờ trao đổi … đều không thành. Chồng, con, các đồng chí, những người yêu thương bà bắt đầu sống trong khắc khoải.
Đất nước hết chiến tranh, hòa bình về với toàn dân. Các con của bà lần lượt trở về nhà, quây quần bên ông bà ngoại. Chỉ có bà là không về. Bao nhiêu năm hòa bình là bấy nhiêu năm trông chờ, tìm kiếm. Chính phủ công nhận bà là liệt sĩ, tặng cho bà Huân chương Độc lập hạng nhất. Đến ngày 14 tháng 12 năm 1997, gia đình mới tìm được hài cốt của Bà.
Bà được Nhà nước truy tặng Huân chương Độc lập hạng nhất.
(Bảo táng Phụ nữ Nam Bộ)


