Thân nhân liệt sĩ, người có công

LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN TÀI - SAU LẦN TRỞ LẠI

Nguyễn Văn Tài (1960, xã Cẩm Yên, Cẩm Xuyên) là người con út trong gia đình giàu tình cảm, lớn lên với tính cách hiền hậu, sống chân thành và luôn biết sẻ chia. Từ nhỏ, anh đã sớm bộc lộ sự hào sảng, luôn nhường phần hơn cho người khác, được bà con, bạn bè quý mến. Năm 1979, anh nhập ngũ, mang theo tình yêu gia đình và trách nhiệm với Tổ quốc. Trước khi vào chiến trường Campuchia, anh từng trở về thăm nhà trong nỗi nhớ da diết và để lại câu nói như một linh cảm về sự hy sinh. Tháng 10/1980, khi

Hà Tĩnh08/04/2026Nguyễn Văn Quang (Đoàn trường THPT Cẩm Bình)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN TÀI - SAU LẦN TRỞ LẠI

Nguyễn Văn Tài sinh năm 1960, tại xã Cẩm Yên, huyện Cẩm Xuyên, trong một gia đình có năm anh chị em. Là con út, anh lớn lên trong sự chở che, yêu thương trọn vẹn của cha mẹ và các anh chị. Tuổi thơ anh trôi qua giữa những năm tháng đất nước còn bộn bề gian khó. Thế nhưng, trong ký ức của người thân và xóm giềng, hình ảnh anh hiện lên không phải là sự thiếu thốn, mà là nụ cười hiền hậu, tính cách rộng rãi vô tư và sự thảo thơm, mộc mạc của một chàng trai chân chất đất quê. Tuổi thơ thơm thảo Bà Nguyễn Thị Toản - người chị gái sinh năm 1955 - mỗi lần nhắc đến em vẫn không giấu được nỗi nghẹn ngào. Năm 1972, khi bà lên đường đi thanh niên xung phong, Tài mới chỉ mười một, mười hai tuổi. Trong ký ức của bà, anh vẫn mãi là cậu em nhỏ lúc nào cũng quấn quýt bên chị, đi đâu cũng lẽo đẽo theo sau. Những biến động của chiến tranh và cuộc sống mưu sinh đã đưa người chị đi lấy chồng xa. Nỗi day dứt lớn nhất đời bà không phải là những năm tháng gian khổ, mà là khi còn chưa kịp sống gần em bao lâu thì em đã vĩnh viễn không trở về. Ở đời thường, Tài sống chân tình đến lạ. Những năm học lớp 9, lớp 10, anh từng tham gia dân công và có rất nhiều bạn bè. Những buổi đi tát cá, đặt bẫy chim, lần nào anh mang về chiếc xô cũng đầy ắp. Thế nhưng, anh chẳng bao giờ giữ lại cho riêng mình. Cá được chia hết cho họ hàng, lối xóm; với anh, chỉ cần ai đó giặt giúp bộ quần áo lấm bùn là đã đủ thấy vui.

Ở cái tuổi còn nhiều ham hố ấy, anh đã biết nhường phần hơn cho người khác. Sự hào sảng của một chàng trai quê có lẽ chính là mầm mống của chí làm trai đang âm thầm nảy nở. Linh cảm nhói lòng Năm 1979, Nguyễn Văn Tài nhập ngũ và huấn luyện tại Tiểu đoàn 141, Khe Lang. Những ngày đầu quân ngũ với tiếng còi tập hợp và thao trường nắng gió vẫn chưa thể khỏa lấp được hơi ấm từ mái nhà nhỏ ở Cẩm Yên. Sau hơn một tháng, giữa nỗi nhớ nhà da diết và những linh cảm mơ hồ về chiến trường phía trước, Tài đã có một lần “vượt rào” về thăm quê khi chưa kịp xin phép. Đó không phải là sự trốn chạy, mà là phút giằng co rất đỗi con người của một chàng trai tuổi đôi mươi lần đầu rời xa vòng tay mẹ cha. Khi o Toản hối hả tìm thấy em tại nhà người con gái anh thương, chị vừa kéo em về vừa khóc trong nỗi lo âu thắt quặn. Tài không phân trần, anh chỉ nắm tay chị, giọng trầm xuống đầy bình thản: “Chị ơi, em về một bữa rồi đi vô. Chơ lần ni đi vô là chết chớ có mô mà sống chị hè... Chị đừng trách em...”. Lúc ấy, không ai ngờ câu nói ấy lại là một lời tiên tri định mệnh. Khi đơn vị cử người về đón, Tài lặng lẽ thu xếp hành trang, không né tránh, chỉ xin được ở lại thêm một ngày. Bữa cơm độn khoai nghèo mà ấm hôm ấy là lần cuối cùng người con út ngồi bên cha mẹ. Anh bước đi, không ngoái đầu nhìn lại, để lại sau lưng khoảng lặng dài hun hút nơi cuối con đường làng. Tài đã bước qua lằn ranh cuối cùng của tình riêng để hoàn toàn trở thành một người lính. Vài tháng sau, anh hành quân vào chiến trường Campuchia và vĩnh viễn nằm lại nơi đất bạn khi tuổi đời vừa tròn đôi mươi. Thời gian nghiệt ngã Tháng 10/1980, chưa đầy một năm sau ngày nhập ngũ, Nguyễn Văn Tài hy sinh tại chiến trường Campuchia khi đang là Tiểu đội phó Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tin dữ dội về, mang theo nỗi đau quá lớn. Vì quá thương con, cha mẹ anh đã đốt sạch những kỷ vật gửi về từ chiến trường trong làn nước mắt. Họ không đủ can đảm để nhìn ngắm những thứ gợi nhắc đến đứa con út đã mãi mãi nằm lại nơi xa. Để rồi sau này, khi o Toản trở về, muốn tìm lại một chút gì của em - một tấm ảnh, một lá thư, hay mảnh áo cũ - cũng chẳng còn. Trên bàn thờ hôm nay không có một di ảnh, chỉ có khói hương và ký ức. Sự mất mát ấy càng trở nên trống trải khi anh không để lại vật gì hữu hình, ngoài câu nói định mệnh ngày chia tay. Anh được an táng tại nghĩa trang tỉnh Kiên Giang, cách quê nhà hàng nghìn cây số. Cha mẹ rồi cũng già yếu đi xa, người chị năm nào giờ tóc đã bạc đầu, việc thăm viếng anh phần lớn phó thác cho các cháu - những người gọi anh bằng cậu nhưng chưa một lần được thấy mặt. Gia đình vẫn đau đáu mong một ngày đón anh về lại Cẩm Yên để người con út được nằm gần cha mẹ, nhưng điều kiện vẫn chưa cho phép. Ngôi mộ ấy vẫn nằm lại nơi đất khách, như một phần máu thịt của quê hương gửi lại đất bạn. Tấm bảng “Gia đình vẻ vang” được Nhà nước trao tặng là niềm tự hào thiêng liêng, nhưng phía sau đó là một khoảng trống không gì bù đắp nổi của tuổi hai mươi dang dở. Nguyễn Văn Tài gần như không để lại gì cụ thể, chỉ còn một dáng hình tạc vào tâm khảm: Một cậu em xách xô cá đầy chia cho xóm làng; một chàng trai nắm tay chị nói lời tiễn biệt như đã biết trước; một người lính trẻ coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Anh không mất đi, mà chỉ chuyển hoá từ một con người cụ thể thành một phần ký ức chung của dòng giống, quê hương. Có lẽ, điều còn lại sau cùng không phải là tấm bia hay kỷ vật, mà là thông điệp âm thầm của một đời người: Biết trước gian nguy mà vẫn bước tới - ấy là lựa chọn. Ra đi khi còn rất trẻ - ấy là số phận. Nhưng dấn thân vì điều lớn hơn mình - ấy là phẩm giá. Nguyễn Văn Tài không trở về, nhưng dáng hình anh sẽ còn mãi với quê hương..

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN TÀI - SAU LẦN TRỞ LẠI | Câu chuyện thời hoa lửa