Liệt sỹ Phạm Ngọc Khiêm(1955-1979)
Chiều hôm đó, tôi ngồi bên cạnh bà trong căn nhà nhỏ quen thuộc và bỗng tò mò hỏi bà về ông nội – liệt sĩ Nguyễn Ngọc Khiêm, người mà tôi chỉ biết qua vài tấm ảnh cũ. Khi nghe tôi nhắc đến tên ông, bà bỗng im lặng một chút, đôi mắt nhìn xa xăm như nhớ lại chuyện xưa. Và rồi từ giọng kể chậm rãi của bà, câu chuyện về ông tôi trong những ngày chiến đấu ác liệt năm 1979 bắt đầu hiện lên, vừa buồn vừa khiến tôi càng thêm tự hào về ông.
Tôi nhìn bà rồi hỏi nhỏ: “Bà ơi, hồi trước ông nội đi bộ đội có cực lắm không bà?”
Bà gật đầu và nói chậm rãi: “Cực nhiều lắm con à. Lúc đó đất nước còn nghèo, cái gì cũng thiếu. Ông con mới hơn hai mươi tuổi đã xung phong lên biên giới. Trời thì lạnh, đường đi thì xa, áo quần không đủ ấm. Nhiều khi cả đơn vị phải chia nhau từng miếng lương khô, nhưng ai cũng cố gắng vì nhiệm vụ.”
Tôi nghe mà thấy thương nên hỏi tiếp: “Vậy lúc đánh nhau có sợ không bà?”
Bà nhìn tôi rồi thở dài: “Sợ thì con người nào mà chẳng sợ. Nhưng ông con và các chú trong đơn vị luôn động viên nhau. Mỗi lần nghe tiếng pháo nổ, ai cũng nấp xuống, rồi lại đứng dậy chiến đấu. Những ngày đó núi rừng toàn tiếng súng. Khói bay trắng cả sườn núi, lá cây cháy rụi. Có những hôm địch tấn công từ sáng tới tối, bộ đội mình chẳng có lúc nào nghỉ. Ông con từng nói với bà rằng chỉ cần nghe đồng đội hô nhau là ai cũng thấy có thêm sức mạnh.”
Tôi suy nghĩ một lúc rồi hỏi tiếp: “Thế… ông mất như thế nào vậy bà?”
Bà đặt tay lên đầu gối, giọng trầm xuống: “Hôm đó đơn vị của ông đang giữ một vị trí rất quan trọng. Nếu mất chỗ đó thì cả phía sau sẽ nguy hiểm. Địch bắn pháo dữ lắm, đất đá bay tung tóe. Khi thấy một đồng đội bị thương, ông con chạy ra kéo người ta vào chỗ an toàn. Đạn bắn xung quanh mà ông vẫn cố. Ông cứu được bạn mình, nhưng lúc quay ra thì một mảnh pháo rơi xuống ngay gần chỗ ông. Ông hi sinh ngay tại trận… lúc đó ông còn trẻ lắm, mới hai mươi mấy tuổi thôi con.”
Tôi nghe mà thấy cổ họng nghẹn lại. Tôi hỏi câu cuối, giọng nhỏ xíu: “Bà có buồn nhiều không vậy?”Bà mỉm cười buồn buồn, mắt bà hơi đỏ: “Buồn thì chắc chắn là buồn rồi. Ông con là người bà thương nhất. Nhưng mỗi khi nhớ đến ông, bà lại thấy tự hào. Ông đã hi sinh để bảo vệ đất nước, bảo vệ bản làng và cũng để chúng ta bây giờ được sống bình yên. Vì vậy, chúng ta phải sống thật tốt, để không phụ lòng ông.”
Ngồi nghe bà kể xong, lòng tôi vừa buồn vừa tự hào. Buồn vì ông nội đã phải hi sinh quá sớm, còn trẻ mà đã không còn bên gia đình. Tự hào vì ông đã dũng cảm, hy sinh để bảo vệ đất nước, bảo vệ quê hương, để chúng tôi bây giờ được sống trong bình yên. Tôi tự nhủ với bản thân sẽ luôn ghi nhớ những gì ông đã làm, sẽ cố gắng học hành chăm chỉ, ngoan ngoãn và sống thật tốt để không phụ công ơn của ông. Mỗi khi nhìn lên di ảnh của ông, tôi lại thấy trong tim mình vừa là nỗi nhớ vừa là niềm tự hào, và những câu chuyện bà kể về ông sẽ luôn ở trong tôi, nhắc nhở tôi về một tấm gương dũng cảm và đầy lòng yêu nước.



