LÍNH KHẢO SÁT THIẾT KẾ ĐƯỜNG 559 - TRƯỜNG SƠN
Sinh năm: 1935 Quê quán: Thái Yên, Đức Thọ, Hà Tĩnh Thường trú: Nhà số 35/ngõ 91, phố Nguyễn Chí Thanh, phường Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội Điện thoại: 04.38314544 - 0167.7219755 Cán bộ kỹ thuật Bộ GTVT biệt phái tháng 4 năm 1965 Nguyên Cán bộ kỹ thuật Công trường 128, Đội Khảo sát 1 Công binh Nguyên Quân Tình nguyện Việt Nam tại Lào (1953) Nguyên Chuyên viên Uỷ ban Nhân dân Tp. Hà Nội
Tháng 4 năm 1965, nhận quyết định của Bộ Giao thông vận tải "Đi công tác đặc biệt". Chỉ có gia đình được biết, không được mang theo các giấy tờ có chữ Việt. Thời ấy tôi là cán bộ trung cấp cầu đường, chuyến đi nghiên cứu khảo sát thiết kế các tuyến đường Tây Bắc, Việt Bắc.
Lệnh đi công tác chỉ báo trước hai ngày, tối 17 tháng 4 năm 1965 phải có mặt tại 80 Trần Hưng Đạo để nghe Bộ trưởng dặn dò trước khi lên đường. Đoàn chúng tôi gồm 21 anh em. Cùng cơ quan Viện Kỹ thuật Giao thông với tôi có đồng chí Trần Quốc Dần, Lê Xuân Nhâm và Vi Văn Miết, số còn lại đa phần ở Viện Thiết kế Giao thông. Đoàn được bố trí chiếc xe ô tô của Liên Xô do đồng chí Đẩu lái. Cứ xem cung cách chuẩn bị tư trang, máy móc thiết bị khảo sát thiết kế,mỗi người một khẩu K44 chưa bóc tem, hẳn chúng tôi biết là đi mặt trận khảo sát đường quân sự rồi.
Mười giờ đêm ngày 17 tháng 4 năm 1965, xe xuất phát tại trụ sở Bộ Giao thông vận tải 80 Trần Hưng Đạo - Hà Nội theo hướng nam tiến, ngày nghỉ, đêm đi để tránh máy bay địch phát hiện. Đến đêm thứ bảy thì xe rẽ phải theo hướng tây qua Cha Lo; 8 giờ sáng 24 tháng 4 năm 1965, tại một địa điểm thuộc bản Tha Pha Chon, huyện Bua La Pha, tỉnh Khăm Muộn, cả đoàn có mặt tại địa đầu của tuyến đường an toàn, khoẻ mạnh.
Nhớ lại, ngay từ khi đặt chân đến bản Tha Pha Chon buổi tiếp xúc đầu tiên giữa đoàn quân đi trước, lính khảo sát 559 với nhân dân và chính quyền địa phương có phần hấp dẫn kì lạ về tình quân dân Việt - Lào. Trưởng bản, các ông "phò", bà "me"1(Phò, me: dịch sang tiếng Việt lả bố, mẹ) và các em nhỏ đến chào đón, họ mang theo xôi để trong "tip", thịt thú rừng, các loại hoa quả như xoài, chuối, dừa... để chung vui cùng bộ đội Việt Nam. Thấy tôi nói tiếng Lào thành thạo, họ bắt chuyện rất đỗi thân mật.
Nhiều anh em hỏi tôi vốn tiếng Lào có tự bao giờ. Tuổi thơ của tôi gắn liền với một thành phố bên sông Mê Kông thành phố Thà Khẹc, tỉnh Khăm Muộn, đối diện với bên kia sông là thành phố Na Khon của Thái Lan. Ngày 21 tháng 3 năm 1946, giặc Pháp gồm bộ binh từ ngoài và máy bay ồ ạt ném bom đánh chiếm thành phố. Trận ấy, Việt kiều ta có trên 2.000 người ngã xuống, máu đổ loang cả khúc sông, xác người trôi lềnh bềnh. Số còn lại vượt sông lánh nạn sang Thái Lan, tôi theo cha mẹ vượt sông thoát chết, năm ấy tôi mới 11 tuổi. Với lòng căm thù giặc khôn nguôi, tuy nhỏ tuổi nhưng tôi đã theo cha anh hoạt động bí mật, một lòng hướng về Bác Hồ, mong đợi ngày trở về trả thù giặc và tôi đã tình nguyện vượt sông tham gia bộ đội giải phóng Thà Khẹc, giải phóng Trung Lào 1953-1954.
Cái duyên tiếng Lào đã theo tôi suốt những năm tháng cuộc đời kể từ độ ấy. Và chính tại Công trường 128, Đoàn 559 này, tôi là phiên dịch duy nhất của Ban chỉ huy.
Năm tháng trôi đi, anh lính khảo sát kiêm phiên dịch ngày ấy còn lăn lộn với đoàn khảo sát thiết kế của Bộ Giao thông vận tải Việt Nam giúp Lào khảo sát thiết kế tuyến đường sắt thông ra biển chạy dọc quốc lộ số 9, nối liền cảng Đà Nẵng Việt Nam và thành phố Sa Va Na Khẹt - cũng là thành phố bên sông Mê Kông - sự việc đó xảy ra cách đây cũng đã 30 năm rồi.
Sau buổi tiếp xúc giữa anh em khảo sát và nhân dân địa phương, đồng chí Hồ Sĩ Dậu, trưởng đoàn bàn giao quân số với Bộ Tư lệnh 559, nhận nhiệm vụ trực tiếp tại Công trường 128, đã phân công anh em tiến hành ngay công việc. Hướng tuyến đã được trên duyệt, từ rừng Trường Sơn đại ngàn nay biến thành đường cho xe cơ giới chạy.
Các đơn vị thi công cơ giới và công nhân các công trường thuộc Bộ Giao thông vận tải từ ngoài Bắc vào, các đơn vị thanh niên xung phong biên chế cấp tiểu đoàn lần lượt tập kết quân sẵn sàng chờ lệnh.
Trước tình hình khẩn trương, đội khảo sát thiết kế phải phân đoạn chia nhau làm để có tài liệu bàn giao cho các đơn vị thi công. Việc đi tuyến, cắm mốc, phát tuyết thật vất vả, phải chọn địa hình địa vật thích hợp vừa rút ngắn cự ly, vừa giảm được khối lượng đào đắp, ít cầu cống. Nhiều lý trình phải làm đi làm lại, cây rừng nào phải chặt, cây nào giữ lại che chắn để máy bay khó phát hiện.
Trèo đèo, lội suối, luồn rừng, lên dốc lại xuống dốc. Mưa như trút, quần áo ướt sũng, ướt rồi lại tự khô, dày dép rách bươm, tất chống vắt thiếu, anh em phải cắt ống quần ra tư khâu mà dùng. Vắt nhiều đến nỗi không kịp phát hiện, khi thấy máu thấm đỏ áo quần thì chứng đã hút màu mình căng tròn và tự rơi. Còn vô tình dẫm phải tổ ong là chúng bổ vào đốt cho bươu đầu, phát sốt. Ngày làm vất vả, tối phải căng võng ngủ rừng thì vắt và muỗi cũng không tha. Những đoạn tuyến đi gần bản có thể mượn nhà sàn để anh em ngả lưng khi mệt mồi, nhưng cũng là mối nguy hiểm nếu không phòng tránh máy bay như nấu ăn, phơi phóng để lộ màu sắc khác thường hoặc đi lại thành đoàn đông người là máy bay đến bắn phá tan tành cả bản. Tuyến dài trên 100 ki lô mét nhưng anh em phải đi đi lại lại cả ngàn ki lô mét mới quyết định được.
Lính khảo sát thiết kế chúng tôi thường đi trước, đến trước và biết trước nhưng, chưa ai hiểu sự "trước" ấy mà anh lính phải tự lực cánh sinh mọi mặt sinh hoạt giữa nơi rừng thiêng nước độc chưa có dấu chân người. Cũng may mà cứ đến mỗi bản, chính quyền địa phương lại chọn cử một người am hiểu địa hình địa vật đi theo anh khảo sát, cũng chui rừng lội suối, cũng chịu vắt bâu bám khắp người, máu thẫm đẫm áo quần mà vẫn lặn lội cùng khảo sát, kể cả việc dìu bước anh em khi bị lên cơn sốt dọc đường, khênh cáng thương binh. Cùng vì sự "trước" ấy mà nhiều ngày anh em phải nhịn cơm ăn cháo, thiếu thuốc men, quân trang, quân dụng vì tác nghiệp cuối tuyến mà kho cấp phát đầu tuyến, vì trời mưa úng ngập cả khu rừng...
Tình hình khẩn trương nên Bộ Tư lệnh, cán bộ lãnh đạo phải theo sát từng lý trình, xuống tận nơi thị sát thực tế để chỉ đạo, động viên kịp thời. Những tưởng sau khi bàn giao xong tài liệu toàn tuyến, anh em được xả hơi. Nhưng không, họ phải chia nhau bám sát các trọng điểm địch đánh phá tắc đường.
Ở đâu cần lại có khảo sát, họ lại luồn rừng băng qua bom đạn để tìm tuyến tránh. Khi bên thi công thiếu cán bộ, trên lại điều anh em làm cán bộ kĩ thuật. Lính khảo sát 559 lúc ban đầu như thế đó.
Tháng 5 nắng đã nhạt, báo hiệu mùa mưa bắt đầu, mưa Trường Sơn thật khủng khiếp, mưa như trút, không có ánh nắng 5, 6 tháng liền. Tiếng sét đánh, tiếng máy bay nhào lộn thả bom bắn phá suốt ngày đêm, toàn bộ cây rừng trước xanh tươi nay chất độc đã làm rụng, hết lá, bom phạt đổ ngổn ngang. Chúng thả cả những thiết bị điện tử phát hiện xe máy của ta, thả cả mìn nom như cục đá dăm để sát thương bộ đội. Cứ 6 giờ tối, loại máy bay C130 đi thả pháo sáng, sáng đến mức có thể đọc được báo; pháo sáng soi bước tiến của bộ đội Trường Sơn đang ngày đêm đào núi mở đường. Tiếng máy thi công, tiếng mìn phá đá chặt cây át cả tiếng bom đạn của kẻ thù. Không khí một đại công trường thật hối há, náo nức, tất cả vì tuyến đường quyết thắng làm cho tâm hồn mọi người cũng cảm thấy phấn chấn, quên cả lo âu gian khổ, dám xả thân vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Từng ngày, từng ngày, con đường cho xe cơ giới cứ tiến dài lên phía trước hướng vào miền Nam.
Tôi nhớ cuối mùa mưa 1965, khi tôi đang là Tiểu đoàn phó kỹ thuật Tiểu đoàn 4 thanh niên xung phong Thanh Hoá (đồng chí Hoàng Đạc là Tiểu đoàn trưởng), Bộ Tư lệnh điều về Phòng tham mưu Công binh của đồng chí Nam Hải để chuẩn bị đón Tư lệnh 559 Phan Trọng Tuệ sang thăm Công trường 128.
Tin bay đi toàn công trường, nhờ đó báo cáo với Tư lệnh những thành quả phi thường về tiến độ hoàn thành công việc trước sự đánh phá khốc liệt của kẻ thù, đồng thời để Tư lệnh biết đến khó khăn thiếu thốn và những cực nhọc của anh em kể cả hy sinh tính mạng khi đang tác nghiệp. Suốt dọc đường, ở đâu có anh chị em đang làm việc, Tư lệnh dừng lại động viên, thăm nơi ăn nghỉ, dặn dò việc phơi phóng, nhất là chị em nữ, không để máy bay phát hiện, thăm bếp ăn không khói. Đến thăm một đoạn đường "rông đanh" thấy anh em dùng dây rừng neo buộc, đồng chí chỉ thị cho hậu cần cấp dây thép, gợi ý cách nêm cài sao cho khi xe đi qua không bọng bật. Đến đoạn đường trống trải, đồng chí yêu cầu trồng cây, cỏ nguỵ trang để hạn chế máy bay đánh phá. Đến thăm bệnh xá, đồng chí biết rằng sau mùa mưa tỉ lệ sốt rét, ốm đau lên đến 50-60 phần trăm.
Chuyến thăm của Tư lệnh Phan Trọng Tuệ đến Trường Sơn đã để lại ấn tượng trong anh em về một thủ trưởng có tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát, thoăn thoắt như ẩn hiện sâu sát tình hình.
Sau chuyến thăm của Tư lệnh Phan Trọng Tuệ, Công trường 128 phát động thi đua nước rút, tranh thủ mùa khô đẩy nhanh tiến độ thi công. Và thật bất ngờ, tháng 5 năm 1966, Công trường đã hoàn thành tuyến đường 128 dài 176 ki lô mét. Để đánh giá thành quả đạt được, các đơn vị đều được cử đại biểu về dự tổng kết trong hai ngày 24 và 25 tháng 5 năm 1966 tại bản Na Cha Ling. Trên đỉnh Trường Sơn từ nay ghi dấu một con đường vì miền Nam ruột thịt, đường Trường Sơn quyết thắng.
Hòa chung niềm vui của Công trường, tôi cũng thật vui vì được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam, được công trường tặng giấy khen hai lần. Và đặc biệt được Chính uỷ 559 Vũ Xuân Chiêm tặng bằng khen. Lễ kết nạp Đảng của tôi đã được tổ chức tại công trường bộ, tại khu rừng Na Cha Ling, dưới ảnh Bác Hồ, Đảng kỳ và hoa phong lan rừng rực rỡ do anh em khảo sát hái về.
Niềm vui chung và vui riêng thật ấn tượng, sâu sắc nhất đời tôi, người cán bộ kỹ thuật cầu đường, lính khảo sát thiết kế 559 - Trường Sơn.


