Bài viết

LỜI KỂ CỦA NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI

Nghệ An05/07/2026Hoàng Thị Thủy (xã Đức Châu)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi năm nay đã ngoài chín mươi tuổi. Mỗi lần nhìn lũ cháu tung tăng đến trường trên con đường nhựa phẳng lì, tôi lại nhớ đến một con đường khác – con đường đất đỏ, lầy lội, đầy hố bom ở chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954.

Đã hơn bảy mươi năm trôi qua, nhưng có một đêm tôi không bao giờ quên.

Hồi đó tôi vừa tròn mười chín tuổi. Tôi là một thanh niên xung phong, nhiệm vụ chính là mở đường, tải đạn, tải gạo và cáng thương binh. Chúng tôi không trực tiếp cầm súng xung phong vào cứ điểm, nhưng ai cũng hiểu rằng nếu con đường bị cắt đứt, nếu đạn không đến được chiến hào, thì những người lính ngoài mặt trận sẽ gặp nguy hiểm.

Một buổi chiều cuối tháng ba, mưa rừng trút xuống như đổ nước. Đất đỏ nhão ra thành bùn. Mỗi bước chân lún sâu đến mắt cá, có đoạn đến tận đầu gối. Quần áo ướt sũng, vai thì đè nặng bởi chiếc đòn gánh chở hai thùng đạn.

Tiểu đội trưởng nhìn chúng tôi rồi nói:

"Cố thêm một chuyến nữa. Ngoài kia đang cần."

Không ai hỏi cần bao nhiêu đạn, cũng chẳng ai hỏi còn bao xa. Chúng tôi chỉ gật đầu.

Tôi đi cùng Hùng, cậu bạn bằng tuổi quê ở Thanh Hóa. Hùng gầy nhưng khỏe lắm. Lúc nào cậu ấy cũng cười.

Đi được nửa đường, Hùng bảo:

"Mai hòa bình, tao về cưới con Hạnh."

Tôi cười:

"Đừng có hứa trước. Về được rồi hãy tính."

Hùng cười lớn:

"Thì phải có cái để mà mơ chứ."

Đó là câu nói cuối cùng tôi còn nhớ rõ của cậu ấy.

Đêm xuống rất nhanh. Núi rừng tối đen như mực. Chúng tôi chỉ được phép đi trong im lặng. Không đèn. Không thuốc lá. Không nói chuyện lớn. Chỉ có tiếng dép cao su lội bùn, tiếng thở dốc và tiếng gùi va vào nhau lộc cộc.

Bất chợt, trên bầu trời lóe lên một quả pháo sáng.

Tiểu đội trưởng quát nhỏ:

"Nằm xuống!"

Tất cả lao xuống mép đường.

Ánh sáng trắng lạnh phủ kín cả sườn núi. Tôi nghe rõ cả tiếng tim mình đập.

Rồi tiếng máy bay.

Ầm!

Quả bom đầu tiên nổ cách chừng vài trăm mét.

Mặt đất rung lên.

Ầm!

Quả thứ hai gần hơn.

Đất đá bắn tung lên đầu.

Một người hét thất thanh.

Khói bụi mù mịt.

Khi tiếng bom ngớt, tôi bò dậy tìm Hùng.

Chiếc đòn gánh của cậu nằm chỏng chơ giữa đường.

Tôi gọi:

"Hùng! Hùng ơi!"

Không có tiếng trả lời.

Chúng tôi tìm được Hùng ở mép taluy. Cậu bị đất đá vùi nửa người. Mắt vẫn mở.

Tôi nắm lấy tay bạn.

Hùng thều thào:

"Đừng... bỏ... số đạn..."

Đó là điều cuối cùng cậu nói.

Không ai khóc.

Không phải vì chúng tôi vô cảm.

Mà vì thời gian lúc ấy quý hơn nước mắt.

Tiểu đội trưởng khẽ cúi đầu trước Hùng, rồi nói:

"Chuyển đạn."

Chúng tôi nhấc luôn hai thùng đạn của Hùng lên vai.

Đêm ấy, số đạn vẫn đến được chiến hào đúng giờ.

Sau này tôi mới biết, chính số đạn đó đã được dùng trong trận đánh rạng sáng hôm sau.

Chiến dịch càng kéo dài, công việc càng nặng.

Có những hôm chúng tôi gùi hơn ba mươi cây số.

Có hôm chỉ ăn một nắm cơm độn ngô với ít muối vừng.

Có hôm khát quá phải hứng nước mưa uống.

Quần áo rách vá chằng vá đụp.

Giày không còn thì quấn giẻ.

Vai ai cũng chai cứng vì đòn gánh.

Bàn chân ai cũng đầy vết nứt.

Nhưng điều kỳ lạ là rất ít người than vãn.

Bởi ai cũng nghĩ:

"Mình còn khỏe là còn làm được."

Có những cụ già đẩy xe đạp thồ chở hàng nặng gấp nhiều lần trọng lượng của chiếc xe.

Có những cô dân công tóc còn tết bím, lưng cõng gạo vượt đèo suốt ngày đêm.

Có những người lính vừa băng bó xong đã xin trở lại đơn vị.

Không ai bảo ai.

Ai cũng chỉ mong làm được thêm một việc.

Đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, tin chiến thắng truyền dọc các tuyến đường.

Ban đầu chẳng ai tin.

Rồi tiếng reo hò vang lên từ chiến hào này sang chiến hào khác.

Có người ôm nhau cười.

Có người ngồi xuống khóc.

Có người lặng lẽ nhìn về phía những ngọn đồi.

Tôi cũng khóc.

Nhưng không phải vì chiến thắng.

Tôi nhớ Hùng.

Tôi nhớ những người đã nằm lại dọc con đường vận tải.

Họ không kịp nghe tiếng reo mừng.

Họ cũng không kịp trở về quê để cưới người mình thương.

Bây giờ, nhiều người hỏi tôi:

"Ông có tiếc tuổi trẻ không?"

Tôi luôn trả lời:

"Có chứ."

Tôi tiếc những người bạn không được sống đến ngày hòa bình.

Tiếc những lá thư chưa kịp gửi.

Tiếc những giấc mơ còn dang dở.

Nhưng tôi chưa bao giờ hối hận vì đã sống những năm tháng ấy.

Bởi nếu thế hệ chúng tôi không đi, thì sẽ có một thế hệ khác phải đi.

Điều tôi mong các bạn trẻ hôm nay hiểu không phải là chiến tranh hào hùng đến mức nào.

Chiến tranh không đẹp. Chiến tranh là đói, là rét, là chia ly, là những bữa cơm ăn vội, là những giấc ngủ chập chờn bên hố bom, là những người ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ.

Điều đáng trân trọng không phải bản thân chiến tranh, mà là nghị lực của con người trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy. Người ta vẫn biết yêu thương, biết sẻ chia, biết hy sinh cho nhau và vẫn nuôi hy vọng về một ngày đất nước được yên bình.

Mỗi lần nhìn lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên bầu trời thanh bình, tôi lại nhớ đến Hùng và những đồng đội của mình.

Các em hôm nay được học tập trong lớp học sáng đèn, được đi trên những con đường không còn tiếng bom, được tự do theo đuổi ước mơ của mình.

Đó không phải là món quà từ riêng một thế hệ nào.

Đó là thành quả được vun đắp bằng công sức, sự hy sinh và khát vọng hòa bình của rất nhiều con người đã sống trong những năm tháng hoa lửa.

Nếu các em sống tử tế, học tập chăm chỉ, biết yêu gia đình, yêu quê hương và góp phần xây dựng đất nước tốt đẹp hơn, thì đó chính là cách đẹp nhất để tưởng nhớ những người đã đi trước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
LỜI KỂ CỦA NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI | Câu chuyện thời hoa lửa