Khác

LỜI NGUYỆN CẦU TỪ NGÃ BA ĐỒNG LỘC

Một lần, hai lần... rồi rất nhiều lần trở về di tích Ngã ba Đồng Lộc, chúng tôi chẳng thể ngăn nổi giọt nước mắt nghẹn ngào mỗi khi nghe thuyết minh viên kể lại những câu chuyện của 10 cô gái thanh niên xung phong ở vùng đất thiêng này.

Gia Lai06/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm ấy, nơi giao điểm Ngã ba Đồng Lộc, có 10 cô gái TNXP thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552. Các chị đều là những người con quả cảm của tỉnh Hà Tĩnh, chỉ vừa 17 đến 24 tuổi. Công việc chính của họ là đào đất, bê đá, san lấp hố bom, làm đường tránh. Nhiều lúc, các chị còn tình nguyện mặc áo trắng, cầm tay nhau làm cọc tiêu để các đoàn xe đi vào mặt trận được an toàn. Công việc chủ yếu diễn ra vào ban đêm.

Về Đồng Lộc nghe gió kể chuyện xưaDẫu hiểm nguy, vất vả, Tiểu đội 4 do chị Võ Thị Tần chỉ huy luôn rất lạc quan và vui vẻ. Hình ảnh các chị tay xách, nách mang những quân trang, dụng cụ, nhanh nhẹn vượt qua trận địa đầy khói bụi để duy trì huyết mạch giao thông đã in sâu trong ký ức của đồng đội. Những cô gái Tiểu đội 4 tuy không cùng máu mủ, thân quen nhưng đùm bọc, yêu thương lẫn nhau như chị em trong nhà.

Về Đồng Lộc nghe gió kể chuyện xưaChị Võ Thị Hà, nữ TNXP trẻ nhất chỉ mới 17 tuổi, được các chị lớn trong Tiểu đội 4 vô cùng cưng chiều. Có việc gì nặng, chị Hà Thị Xanh lại làm thay cho Út Hà, có đồ ăn mỗi khi gia đình gửi lên, các chị đều để phần ngon nhất cho chị Hà.

Sống với nhau giữa khói lửa chiến tranh, tình thương đơn thuần mà các cô gái TNXP Ngã ba Đồng Lộc dành cho nhau vẫn son sắt, thủy chung mà chẳng cần lý do. Có lẽ, đã xác định trước nhiệm vụ trắc trở chẳng biết ngày mai, các chị luôn sống hết mình trong từng phút giây, cho đi những giá trị tốt đẹp nhất như đóa hoa tỏa hương cho đời.

Trong thư chị Võ Thị Tần gửi mẹ ngày 19/7/1968 viết: “... Ở đây vui lắm mẹ ạ! Ban đêm chúng nó đốt pháo sáng thắp đèn để chúng con làm đường. Ban ngày chúng đem bom giết cá để chúng con cải thiện. Bom đạn của chúng có thể làm rung chuyển núi rừng nhưng không thể làm rung chuyển trái tim của chúng con”.Một A trưởng Tần ngày thường cứng cỏi, luôn làm chỗ dựa cho các em lại hồn nhiên, vui vẻ như em thơ khi nói chuyện với mẹ già. Xuyên suốt những bức thư viết vội nơi chiến trường, niềm hy vọng trong trẻo về hai chữ “hòa bình” vẫn luôn hiện hữu trong từng câu chữ.

Tôi lặng lẽ nhìn hố bom khoét sâu vào lòng đất trước khu Tưởng niệm 10 cô gái TNXP Ngã ba Đồng Lộc mà lòng thắt lại. Giá mà những lá thư đong đầy nhiệt huyết tuổi trẻ của các chị vẫn tiếp tục được gửi về gia đình, giá mà các chị được thấy ngày đất nước tự do...

Buổi trưa định mệnh ngày 24/7/1968, Tiểu đội 4 được lệnh san lấp hố bom sau khi máy bay Mỹ liên tục ném bom phá nát tuyến đường vận tải để nhanh chóng thông đường cho xe qua. Chẳng kịp ăn bữa trưa, nhận nhiệm vụ xong, các chị lập tức đến hiện trường gấp rút triển khai công việc. Bom vẫn rơi rung chuyển cả không gian, ba lần bị đất đá vùi lấp, Tiểu đội 4 lại tiếp tục rũ mình đứng lên trong bụi mù để tiếp tục nhiệm vụ.

Tới khoảng 17h ngày 24/7/1968, trận bom thứ 15 dội xuống Đồng Lộc. Chẳng kịp trở về hầm chính, các chị đành núp tạm vào hầm tránh bom để chờ đợt oanh tạc qua đi, riêng Tiểu đội phó Hồ Thị Cúc ẩn mình ở một hầm cá nhân cách không xa. Một quả bom đã rơi trúng cửa hầm nơi trú ẩn, trút hàng tấn đất đá lên đầu các cô gái.

Tiếng nổ long trời ngớt. 5 phút, rồi 10 phút trôi qua không thấy các chị lao ra san lấp hố bom như mọi khi. Đồng đội hốt hoảng chạy lao từ dưới chân đồi Trọ Voi tỏa đi tìm. Khi lên tới nơi, họ chẳng thấy bóng dáng ai trong Tiểu đội 4 nữa. Chẳng màng bom rơi trên đầu, những chiến sĩ Đại đội 552 thét gào tên của những cô em gái trong tuyệt vọng. Xẻng, cuốc và cả những đôi bàn tay đào đất đến nhỏ máu để tìm các chị. Nước mắt đồng đội hòa vào đất khô cằn Đồng Lộc, ai cũng cầu trời cho phép màu xảy ra. Đồng đội cật lực tìm trong suốt nhiều giờ liền, chỉ tìm được chín cô gái, còn thiếu Tiểu đội phó Hồ Thị Cúc. Ông Triện kể, đồng đội tìm chị Cúc, “miệng gào tay bới”, gần như lật tung cả khu hầm trú ẩn mà chẳng thấy chị đâu. Ai cũng bần thần nhìn mười chiếc quan tài còn trống một mà quặn ruột xót gan.

Trong lúc đau thương tìm thi thể người em, người đồng đội, nhà thơ Yến Thanh nghẹn ngào viết bài thơ: “Cúc ơi”, từng câu chữ như kêu thấu tận trời xanh, để đến nay vẫn làm bao người rơi nước mắt mỗi khi đọc.Phải đến ngày thứ ba, đồng đội mới tìm thấy thi thể của chị Hồ Thị Cúc trên đồi Trọ Voi trong tư thế ngồi, đầu đội nón, bên cạnh là cái cuốc. Mười đầu ngón tay của chị đã bầm tím, trầy xước. Có lẽ khi bị đất vùi sâu dưới đáy hầm, chị đã dùng mười đầu ngón tay cố bới đất tìm đường sống để tiếp tục nhiệm vụ cao cả.

Các chị ra đi, tóc xanh rờn dính đầy đất cát, những khuôn mặt trẻ trung lấm lem bùn đất. Cựu TNXP Trần Văn Triện nói: “Lúc ấy, cả Đại đội chỉ mong có thùng nước sạch, vài trái bồ kết để nấu nước tắm, gội cho tóc của các chị sạch sẽ trước khi về với đất mẹ nhưng Đồng Lộc khi ấy chẳng có nước. Họ cứ thế được an táng khi mái tóc, quần áo còn lấm lem, chẳng xinh đẹp rạng rỡ như bao ngày khiến chúng tôi vô cùng day dứt".Mười cô gái ra đi, tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu, những lời hứa về hạnh phúc lứa đôi của các chị từ đây bị đứt đoạn. Nghe đến chuyện tình của chị Võ Thị Tần và người bạn ấu thơ Nguyễn Đức Hồng, tôi hiểu trái tim của các chị vẫn khao khát nhịp đập tình yêu. Nhưng các chị đã dẹp tình riêng vì nghĩa lớn, A trưởng Võ Thị Tần gửi lại người mình yêu lọn tóc thề như lời hẹn ước hạnh phúc khi khải hoàn. Để rồi sau này, cựu chiến binh Nguyễn Đức Hồng vẫn gìn giữ vẹn nguyên lọn tóc người thương, đặt dưới khung ảnh thờ chị Tần mà ông đã rước về thờ chung tại nhà, ngày ngày hương khói trang nghiêm cho đến tận lúc rời xa nhân thế.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn