Lời thề thép trước mũi súng quân thù và khúc tráng ca của nhà trí thức bưng biền Bùi Thanh Khiết
Đại tá, Phó Tiến sĩ Bùi Thanh Khiết (1924 - 1984), quê quán Đồng Tháp, là một nhà trí thức kiên trung và vị chỉ huy xuất sắc của cách mạng Việt Nam. Từng dõng dạc tuyên bố "Còn Pháp ở nước tôi là tôi còn kháng chiến" khi bị bắt giam, ông đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc từ những ngày đầu chống Pháp đến chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Không chỉ là một nhà hoạt động quân sự và ngoại giao lỗi lạc trong Ban liên hiệp quân sự tại Tân Sơn Nhất, ông còn là người đặt nhiều nền móng
Sinh ra trong một gia đình nghèo khó nhưng hiếu học vào ngày 30 tháng 12 năm 1924 tại làng Tân An, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, nay thuộc xã Mỹ Tân, thị xã Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, cuộc đời của ông Bùi Thanh Khiết là một chặng đường dấn thân đầy bi tráng của một người trí thức yêu nước. Thuở ấu thơ, vì gia cảnh bần hàn, ông phải nương nhờ người cậu ruột để được cắp sách đến trường. Sau khi thi đỗ bằng Thành Chung, ông bước vào đời với công việc của một người kiểm lâm tại Thủ Dầu Một. Thế nhưng, tiếng gọi thiêng liêng của non sông đã thôi thúc người thanh niên ấy rời bỏ chốn an toàn để gia nhập lực lượng Giải phóng quân ngay từ những ngày thu lịch sử năm 1945. Chỉ một năm sau đó, sóng gió ập đến khi ông sa vào tay thực dân Pháp và hứng chịu những trận đòn thù tra tấn vô cùng dã man. Giữa chốn ngục tù tăm tối, khí phách của ông càng ngời sáng khi dũng cảm nhận hết mọi tội danh về phần mình để đổi lấy sự tự do cho hai người đồng chí. Vốn là một trí thức có uy tín lớn, sự việc của ông đã tạo nên một làn sóng đấu tranh mạnh mẽ trên các mặt báo tại Sài Gòn, buộc chính quyền Pháp phải nhượng bộ thả người với một điều kiện hèn hạ là ông phải từ bỏ con đường kháng chiến. Đứng trước mặt kẻ thù, người thanh niên Đồng Tháp đã dõng dạc tuyên bố một câu nói tạc vào lịch sử: Còn Pháp ở nước tôi là tôi còn kháng chiến.
Lời thề thép ấy đã đưa ông chính thức bước vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Đông Dương vào ngày 4 tháng 1 năm 1947. Trên cương vị Trưởng phòng Chính trị Quân khu 7, ông dùng ngòi bút sắc bén của mình làm vũ khí chiến đấu, thổi bùng ngọn lửa yêu nước qua các bài báo trên tờ Tiền Đạo dưới bút danh Thiết Khanh, trước khi tiếp tục gánh vác trọng trách tại Quân khu 9 và tỉnh Long Châu Hà. Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc, đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng trong quân đội rồi được cử sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh, xuất sắc nhận bằng Phó Tiến sĩ Triết học. Thế nhưng, khói lửa chiến tranh tại miền Nam ruột thịt vẫn luôn vẫy gọi, buộc vị tiến sĩ ấy khoác lại ba lô, vượt Trường Sơn trở về chiến trường ác liệt vào năm 1964. Suốt chặng đường chống Mỹ, ông liên tục giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt như Phó Chính ủy Quân khu 8 rồi Quân khu 9. Đến năm 1973, mang trên vai quân hàm Đại tá, ông nhận lệnh làm Bí thư Đảng ủy, Phó Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, hiên ngang bước vào sào huyệt địch tại sân bay Tân Sơn Nhất để đấu tranh ngoại giao. Không dừng lại ở đó, ông tiếp tục góp công lớn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử với vai trò Phó Chủ nhiệm Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam.
Đất nước trọn niềm vui thống nhất, người chiến sĩ kiên trung năm xưa lại cởi áo lính để khoác lên mình trọng trách của người kiến tạo nền giáo dục và khoa học nước nhà. Từ Giám đốc Sở Giáo dục thành phố Hồ Chí Minh, ông vươn lên vị trí Thứ trưởng Bộ Giáo dục kiêm Bí thư Đảng đoàn Bộ vào cuối năm 1976. Tài năng và đạo đức sáng ngời đã đưa ông vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, giữ chức Trưởng ban Khoa giáo Trung ương. Là đại biểu Quốc hội khóa VII của quê hương Đồng Tháp, ông gánh vác thêm nhiều sứ mệnh to lớn như Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật của Quốc hội và Trưởng ban Thư ký Ủy ban Cải cách giáo dục Trung ương. Dù ở bất cứ cương vị nào, ông cũng dốc cạn sức lực cho Tổ quốc cho đến khi lâm trọng bệnh và thanh thản trút hơi thở cuối cùng vào ngày 7 tháng 1 năm 1984 ở tuổi 60. Ghi nhận một đời cống hiến vĩ đại ấy, Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông vô số phần thưởng cao quý nhất, trong đó có Huân chương Độc lập hạng Nhứt, Huân chương Quân công hạng Nhứt và Huân chương Kháng chiến hạng Nhứt, để lại một di sản tinh thần bất diệt cho thế hệ mai sau.


