Bài viết

Lòng dân Hòa Hiệp

Đà Nẵng08/07/2026Phan Khang (THPT Nguyễn Văn Thoại)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những vùng đất mà mỗi tên làng, tên bến nước đều được neo lại trong tâm khảm con người bằng hai chữ “ân tình”. Với tôi, mảnh đất Hòa Hiệp của những năm tháng kháng chiến chống Mỹ đỏ lửa chính là một nơi như thế. Mỗi lần ngoảnh đầu nhìn lại chặng đường đã qua, ký ức về mùa xuân Mậu Thân năm 1968 lại ùa về, vẹn nguyên và thổn thức như vừa mới ngày hôm qua.Mọi chuyện bắt đầu vào một ngày tháng 7 năm 1967. Khi đó, tôi nhận lệnh cấp trên điều động ra công tác tại cánh Bắc Hòa Vang, giữ trọng trách Phó Chỉ huy đơn vị K700 thuộc Ban Lương thực Quảng Đà. Nhiệm vụ trọng đại mà Đảng ủy Khu I giao phó ngày ấy là phải bám sát cơ sở xã Hòa Hiệp, tổ chức cho quần chúng nhân dân thôn Kim Liên nổi dậy, mở mũi tiến công thọc sâu vào thị trấn Nam Ô. Giữa bối cảnh mọi sự chuẩn bị cho đợt hoạt động Tết Mậu Thân đang bước vào giai đoạn khẩn trương nhất, bài toán về nguồn lương thực và phương án tác chiến trở thành mối bận tâm lớn lao, đè nặng lên vai những người chiến sĩ.Hòa Hiệp ngày ấy là một vùng địch kiểm soát gắt gao. Kẻ thù bủa vây thôn Kim Liên bằng những hàng rào ấp chiến lược kiên cố, biến cuộc sống của người dân nơi đây thành cảnh “cá chậu chim lồng” ngột ngạt. Chung quanh chúng tôi, từ đồn Nhất, đồn Nhì, kho xăng Liên Chiểu cho đến đầu cầu Thủy Tú, quân địch đóng bốt dày đặc nhằm bảo vệ tuyến đường đèo Hải Vân độc đạo. Ngay sát bên, thị trấn Nam Ô lại là sào huyệt của bọn tề ngụy cánh Bắc, chưa kể lực lượng địch đóng ở xóm làng Xuân Thiều và trận địa pháo Thanh Vinh sừng sững phía Đông. Ở vùng ven đô này, địch không dùng bom đạn cày xới mà thâm độc dùng thủ đoạn kìm kẹp, lùng ráp, bắt bớ liên miên nhằm bóp chết phong trào từ trong trứng nước. Những người chị, người mẹ cơ sở bị bắt bớ, tù đày ba bốn bận một năm là chuyện không hề hiếm gặp. Khi tiếng súng lặng đi, nhìn lại mới thấy, hầu như chẳng có cơ sở cách mạng nào ở Hòa Hiệp mà không từng nếm trải cảnh tra tấn, tù tội.Thế nhưng, kẻ thù càng tàn bạo bao nhiêu thì lòng dân Hòa Hiệp lại càng sắt son, kiên trung bấy nhiêu. Dù phải sống chung với địch nhiều hơn với cách mạng, tấm lòng bà con chưa một ngày rời xa lý tưởng. Chính sự thủy chung ấy đã tạo nên sức mạnh vĩ đại, giúp chúng tôi giải quyết bài toán lương thực tưởng chừng như bất khả thi. Nằm ngay trong lòng ấp chiến lược gắt gao, năm bảy chục gia đình ở Kim Liên vẫn âm thầm mua gạo tiếp tế. Ban đêm, họ thức cảnh giới địch để làm tín hiệu cho bộ đội vào lấy; ban ngày, họ lợi dụng lúc đi làm đồng để giấu gạo dưới thúng phân gánh ra vùng ranh núi. Tại Nam Ô, bà con chuyển gạo qua Xuân Thiều cho cán bộ xuống nhận, hoặc lợi dụng lúc đi củi để giấu gạo trên ghe chở lên khe Răm. Có những thời điểm địch lùng sục quá rát, các mẹ, các chị phải giấu từng lon gạo trong ống quần, tích tiểu thành đại, âm thầm bồi đắp cho căn cứ như kiến tha lâu đầy tổ.Nhớ những đêm trắng trên dòng sông Thủy Tú, khi bà con Xuân Thiều và Thủy Tú dùng dăm bảy chiếc thuyền chở gạo qua đập Cây Cừa. Gạo bốc xong thì trời vừa hửng sáng, họ lại lẳng lặng dìm thuyền xuống bãi sậy để giấu địch rồi theo chân người làm đồng quay về làng. Sức dân như triều dâng thác đổ, khi chiến dịch mở ra, hàng trăm người đã xung phong tải gạo, tải đạn lên căn cứ, hỗ trợ hết mình cho bộ đội tên lửa đánh địch. Lòng dân không chỉ nuôi quân bằng gạo, mà còn hiến dâng cả máu xương. Những đợt rút thanh niên thoát ly lên căn cứ diễn ra vô cùng bảo mật. Chỉ trong một thời gian ngắn, hai xã Hòa Hiệp và Hòa Lạc đã bổ sung cho đơn vị K700 gần 50 thanh niên, mà phần lớn trong số đó lại là những cô gái tuổi đôi mươi gan dạ.Thời khắc quyết định rồi cũng đến. Hòa Hiệp được xác định là địa bàn trọng điểm, nơi thị trấn Nam Ô sẽ là điểm hợp quân để tiến thẳng vào thành phố Đà Nẵng. Trước giờ khởi nghĩa, các cánh quân của ta đã hoàn thành việc rấm quân bí mật tại Thủy Tú, Xuân Thiều, Kim Liên và Nam Ô. Đêm mồng 30 Tết, giữa không khí linh thiêng của đất trời, các chiến sĩ đội công tác lặng lẽ đột nhập vào ấp chiến lược Kim Liên để vận động quần chúng nổi dậy. Bên ngoài, lực lượng còn lại kiên nhẫn ẩn mình trong bộ thường phục, mang theo vũ khí ngụy trang kĩ lưỡng.Sáng mồng Một Tết, trời xuân se lạnh nhưng lòng người thì sục sôi như lửa đốt. Đoàn quân quần chúng từ Kim Liên, xóm Vạn rầm rập xuống đường, quân số nhanh chóng lên đến 500 người. Thế nhưng, khi đoàn người tiến đến đầu cầu Thủy Tú, bọn Mỹ đã dàn hàng ngang với súng ống đầy đủ để chặn lối. Trong thế giằng co nghẹt thở, một nữ thiếu niên cơ sở của ta đã dũng cảm bước lên, đối thoại bằng tiếng Anh vô cùng thành thạo với tên chỉ huy Mỹ để đòi quyền đi lại cho nhân dân. Cuộc đấu trí cân não kéo dài hơn một giờ đồng hồ vẫn không phá được thế bế tắc do sự ngoan cố của kẻ thù.Không thể chần chừ, ban chỉ huy lập tức thay đổi kế hoạch, điều hướng đoàn người về phía xóm Vạn. Cơ sở tại chỗ cấp tốc huy động toàn bộ ghe thuyền để chở mọi người vượt sông. Nhưng khi những chiếc thuyền đầu tiên vừa tiến gần đến Cồn Dâu, tiếng súng đại liên, trung liên của địch từ trên cầu bất ngờ nổ vang xối xả. Máu nhuộm đỏ dòng nước, một cán bộ K700 và nhiều người dân bị thương. Dù những chiếc ghe phía sau vẫn ngoan cường lao tới, nhưng làn đạn cắt ngang mặt sông quá dữ dội đã buộc thuyền phải quay đầu, số quần chúng bên bờ xóm Vạn phải rút lui về lại Kim Liên. Mũi tiến công bằng đường thủy phần lớn bị đẩy lùi, chỉ có một số ít người qua được bờ bên kia.Thế nhưng, lịch sử luôn có những bước ngoặt của riêng nó. Lực lượng đấu tranh chính trị ở Thủy Tú tập trung tại Cồn Dâu đã được cơ sở dùng thuyền đưa vào Nam Ô an toàn. Cùng với lực lượng vũ trang và 200 người dân tại chỗ, hơn 500 con người từ các mũi đã đồng loạt nổi dậy, quét sạch bộ máy tề ngụy và kiêu hãnh giành lại chính quyền. Giữa bầu không khí tự do ấy, anh Nguyễn Thành Năm đứng lên kêu gọi nhân dân tiếp tục truy quét địch, ủng hộ cách mạng. Chúng tôi đã làm chủ thị trấn Nam Ô trọn vẹn một ngày lịch sử. Sau đó, địch điên cuồng phản công, đổ lính Thủy quân lục chiến và Biệt động quân lên bãi biển Xuân Thiều, cho máy bay bắn rốckét, rải truyền đơn hòng uy hiếp tinh thần ta. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng anh dũng. Tại bến xe Nam Ô, hình ảnh chị Phan Thị Hòa dũng cảm lấy thân mình chặn xe địch và hy sinh ngay tại chỗ đã trở thành một biểu tượng bất tử. Đến 18 giờ cùng ngày, lực lượng ta chủ động rút lui để bảo toàn thực lực.Nằm trên trục đường chiến lược Huế - Đà Nẵng, Nam Ô là lá chắn đầu não phòng thủ nghiêm ngặt bậc nhất của địch, nhưng mảnh đất ấy đã phải cúi đầu trước ý chí của các chiến sĩ cộng sản và nhân dân Hòa Hiệp trong mùa xuân Mậu Thân năm ấy. Giờ đây, mỗi lần nhớ lại ngày mồng Một Tết năm 1968, lòng tôi lại trào dâng một niềm tự hào khôn tả. Sự hy sinh của những người đồng đội, tấm lòng son sắt của người dân Hòa Hiệp sẽ mãi là trang sử vàng chói lọi, nhắc nhở thế hệ mai sau về giá trị của độc lập, tự do.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Lòng dân Hòa Hiệp | Câu chuyện thời hoa lửa