LÒNG DÂN TÂY NGUYÊN
Đoạn hồi ký kể về quá trình hoạt động của tác giả và đội vũ trang tuyên truyền 103 ở chiến trường Tây Nguyên giai đoạn 1949–1954. Đơn vị hành quân vượt nhiều tuyến đường chiến lược, xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch hậu, vận động đồng bào các dân tộc tham gia kháng chiến và hình thành hành lang an toàn dọc biên giới Việt Nam – Campuchia. Trong quá trình hoạt động, cán bộ chiến sĩ phải đối mặt với nhiều gian khổ, hi sinh nhưng vẫn kiên trì bám dân, phát triển lực lượng và củng cố phong trà
Đầu tháng 6 năm 1949, đội vũ trang tuyên truyền 103 hành quân lên huyện ĐakBớt. Những người lính đồng bằng chúng tôi từ nay bắt đầu cuộc sống và công tác mới ở núi rừng Tây Nguyên bạt ngàn hùng vĩ. Tôi bỗng nhớ bài hát của nhạc sĩ Đức Tùng, với lời ca thật giục giã: “Ta mau lên đường nhằm Tây Nguyên ta tiến lên. Theo tiếng hú thiêng liêng, theo gió khắp nơi vang rền. Âm u điệu nhạc, rừng ngân lên vang đồi núi, giục ta mau tiến bước, sá chi núi rừng hiểm nguy…”
Dãy Konchueng sừng sững hiện ra phía trước đoàn quân với 3 ngọn núi khổng lồ 1383 mét, 1567 mét kẹp hai bên, để xem dãy Konchueng là ngôi nhà trời, còn các nhà quân sự cho dãy Konchueng là tâm điểm chiến lược quan trọng chạy qua địa phận Gia Lai,đó là: đường 19, đường 14, đường 25 (còn gọi la đường số 7). Đường 19 xuất phát từ cảng Quy Nhơn chạy qua Gia Lai đến huyện Đức Cơ, dài 167km, rồi từ Đức Cơ chạy đến tận trung tâm tỉnh Stung - Treng (Campuchia). Đây đồng thời là con đường chiến lược trọng yếu ở phái nam Đông Dương - con đường sống còn của địch ở Tây Nguyên. Nhiều nhà chiến lược quân sự cho rằng: Ai kiểm soát được Tây Nguyên trung phần, người đó kiểm soát được cả Việt Nam. Còn con đường 14 đi qua địa phận cao nguyên Gia Lai 112km, nối đông bắc Kon Tum với Quảng Nam - Đà Nẵng và tỉnh lộ 25 nối đường 14, từ ngã ba Mĩ Thạch đi qua huyện Azunpa, Kogpa vào Đắc Lắc. Đây cũng là con đường trọng yếu chiếm vị trí cơ động trung tâm tên chiến trường bắc Tây Nguyên và miền Nam Việt Nam.
Để đến được huyện Dakbơt đội vũ trang tuyên truyền 103 phải hành quân qua các xã phía tây của huyện Bình Khê (Bình Định), là: Bình Thành, Bình Phú, qua Bình Tường lên Bình Quang đến Bình Giang. Sở dĩ cũng tôi phải hành quân vòng vòng như vậy là để nghi binh tránh bọn thám báo, gián điệp ở đồn An Khê thường xuyên “thả mồi bắt bóng” ở vùng này. Một khi bọn chúng biết được động tình của ta, lập tức chúng gọi pháo 105 bắn tới, hoặc đưa quân đi phục kích đánh chặn gây thương vong cho lực lượng ta.
Sau gần một tuần lễ đi trong mưa núi, ngày dấu mình, đêm bí mật, cán bộ chiến sĩ đội vũ trang tuyên truyền 103 mới đến địa phận xã Gia Hội nằm ở phía bắc tuyên truyền An Khê - xã Gia Hội là một trong những xã có phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh ở Gia Lai. Có thể xem địa bàn Gia Hội là hậu phương của đại đội YBinNam. Việc làm đầu tiên của đội vũ trang tuyên truyền 103 là chọn địa điểm thành lập căn cứ, để sau một đợt công tác trở về bộ đội có nơi học tập và sinh hoạt. Ban chỉ huy đội 103 chọn khu rừng nguyên sinh dưới chân dãy Konchueng làm căn cứ bàn đạp triển khai công tác năm tình hình chung - từ xã Gia Hôi đến các xã phía tây của địa bàn huỵện Đăkbớt. Xã Gia Hội có 22 làng tộc Ba Na, với số dân hơn 2.000 người, trong số này còn 2 làng: Kồ (Đêkruk) - Gật (Đe Chơzơn) dân số chiếm gần 50% Còn nằm trong vùng kiểm soát của địch, 19 làng còn lại dân số tuy ít hơn nhưng bà con bất hợp tác vói quân địch, cùng nhau đoàn kết rào làng chiến đấu, tổ chức đánh địch bằng cung nỏ, bẫy đá, chông hầm làm cho bọn giặc khiếp sợ. Đã có lần chúng tổ chức càn quét trên quy mô lớn vào xã Gia Hội để cắm đồn nhưng chi được một thời gian liền bị bộ đội YBinNam và dân quân du kích Gia Hội bao vây bứt rút. Chiến công của Gia Hội trong trận đó gắn liền với tên tuổi hai cán bộ xã đội và hai thôn đội là: đồng chí Sói và đồng chí Gớt; đồng chí Dzơn và đồng chí Ron là bốn đảng viên đầu tiên của Gia Hội.
Trung tâm hoạt động của đội vũ trang tuyên truyền 103 trong đợt này, là đồng thời triển khai trên diện rộng công tác xây dựng cơ sở trong vùng địch hậu, lấy 2 thôn Kồ và Gật làm trọng tâm. Ban chỉ huy đội 103 phân công từng tổ, từng cán bộ chiến sĩ đi sâu vào buôn rẫy tìm bắt liên lạc với những người dân ở các làng: Kon Thoup, Đe Daktrang, Kon Mour, PleiKlah, PleiDaklơn, Plei Dâu… tuyên truyền chính sách dân tộc của Đảng cho đồng bào, quyết tâm vô hiệu hóa quân địch trước số dân trong vùng chúng kiểm soát. Được đồng bào Ba Na ở 19 làng của Gia Hội giúp đỡ, cán bộ chiến sĩ đội vũ trang tuyên truyền 103 từ đây sống hòa nhập cùng đồng bào, ba lô đựng tư trang được thay bằng gùi, đến bữa cũng bốc mắm Bồ hốc(1) ăn cơm, đêm ngủ đất, để tóc dài, mặc khố, có đồng chí cà răng căng tai, để đảm bảo bí mật hoạt động cho đội. Buổi đầu chưa quen với nếp sống và tác phong của người dân tộc, đồng bào dân tộc Ba Na ngoài việc tập dượt cho bộ đội từng động tác sinh hoạt, đến lao động trồng tỉa trên nương, vác rựa đi rừng, còn chỉ cho bộ đội đi lấy nước ở con suối xa dân, đi con đường riêng, không cho dân biết và nấu cơm tiếp tế cho bộ đội ngoài rừng. Bộ đội quen rồi đồng bào mới mời vào làng ăn ở. Địa bàn Đakbớt còn đến 2 đồn địch nên việc hoạt động của đội 103 phải thận trọng và chính xác, chọn đúng người tuyên truyền mới phát triển cơ sở. Tuy cuộc chiến đấu ở đây không trận tuyến, nhưng tính chất ác liệt gian khổ không tách rời sự hi sinh, đòi hỏi người cán bộ địch hậu phải kiên trì dũng cảm, lăn lộn và dám hi sinh. Phải biết khơi dậy lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước tình đoàn kết bất khuất, lòng khát khao cuộc sống độc lập tự do của đồng bào còn nằm trong vùng địch, mới xây dựng được cơ sở vững chắc vùng địch hậu. Trong cuộc chiến đấu gian khổ ác liệt ban đầu, đến công tác tại địa bàn Tây Nguyên đã xuất hiện những tâm gương hi sinh vì sự nghiệp cách mạng. Đồng chí Nguyễn Hữu Nhơn là một trung đội phó vũ trang tuyên truyền được phân công xây dựng cơ sở ở làng ĐeCrap. Dân làng ĐeCrap bị địch khủng bố và kiểm soát gắt gao, chúng thường giả dạng người cách mạng len lỏi vào các rẫy để lừa phỉnh và kiểm soát lòng dân. Một vài người mất cảnh giác bị chúng bắt về tra tấn, vì vậy dân không dám tiếp xúc và không cho người lạ mặt vào làng. Kiên trì bám dân, đồng chí Nhơn sống ngoài rừng chịu đói, chịu lạnh. Ban ngày đồng bào đi làm rẫy, Nhơn bám theo gợi chuyện làm quen. Người lớn không tiếp xúc, anh quay qua làm quen với trẻ con, gây được cảm tình. Một vài người dân thử thách lòng anh… Được biết Nhơn là người cách mạng thật, Già Mom bắt chuyện. Già không ngần ngại nói cho Nhơn biết chủ làng ĐeCrap cũng là người cách mạng, ông từng tham gia cướp chính quyền ở Gia Lai và An Khê hồi khởi nghĩa năm 1945. Mặc dù được Tây giao cho làm chủ làng, nhưng chủ làng ĐeCrap không theo Tây, không phản bội cách mạng. Gặp được chủ làng ĐeCrap Nhơn chuyện trò, chủ làng ĐeCrap gọi luôn Bruc - nguyên là xã đội du kích hồi khởi nghĩa năm 1945 ra hợp tác với cách mạng. Bài học Nguyễn Hữu Nhơn kiên trì đã cắm đợc cơ sở ở làng ĐeCrap phát triển được mạng lưới cơ sở cách mạng nòng cốt, tạo được thế đứng vững chắc trong vùng địch kiểm soát trở thành một điển hình cho công tác tuyên truyền xây dựng cơ sở ở vùng địch hậu Tây Nguyên. Học tập tấm gương kiên trì của Nguyễn Hữu Nhơn, đội 103 từ đó nhờ chủ làng ĐeCrap dẫn cán bộ đến làng ĐêKruk. Già làng ĐeCrap khóc nói: “Từ khi giặc chiếm làng đến nay bọn tao vẫn chờ cách mạng. Một số thanh niên không chịu cầm súng cho thằng Tây, chúng nó chạy hết vào rừng. Bọn tao về sống hợp pháp để làm cái nương cái rẫy để tiếp tế cho bọn nó trong rừng.
Bất ngờ quá! Hôm nay tau gặp Cách mạng, có Đảng của cụ Hồ đến rồi chác từ nay tau sống được!”. Già làng Đê Kruk lau nước mắt nhìn anh em bộ đội cũng đóng khố, mang gùi như dân làng mình rồi nói tiếp: “Tau nói tụi bay nghe, bây giờ làng Đê Kruk và mấy làng khác nữa có chủ làng do thằng Tây đặt, nhưng bọn chúng có thằng xấu, có thằng không xấu, bọn tau có cách liên lạc được và sẽ gọi chúng nó đến gặp cách mạng”. Từ đó làng Đê Kruk có cơ sở cách mạng. Đồng bào còn quy định ám tín hiệu: Khi có giặc đồng bào treo nhánh xương rồng trước cửa, hay để một cây củi đốt dở, đùa quay ra cổng làm tín hiệu cho bộ đội biết mà tránh, và từ đây đồng bào các làng Pleiklah, Peidâu, Pleimeieu, Decluc… gọi tôi bằng một cái tên mới “Capital Chương”, “Capital(2) Chương” là bội đội cách mạng của cụ Hồ. Ở những làng chưa có cán bộ đến công tác, bằng một lối thông tin riêng bà con cử ngươi tin cần đi liên lạc trước, mời đồng bào ra địa điểm rừng quy định, khi cán bộ đội 103 đến đã có đồng bào tề tựu sẵn dự mitting. Tôi còn nhớ một lần tổ chức ăn thề với làng De Blang, người đại diện cho làng De Blang, tôi đại diện cho cách mạng cùng uống rượu ăn thề. Già làng De Blang tay bê bát rượu đưa lên ngang mày, đầu cúi trân trọng đọc lời thề: “Từ nay dân làng De Blang một lòng đi theo cách mạng đánh Tây, không chỉ đường cho Tây, sống chết với Việt Minh” Tơ Bah LuPhang, Tei! Bloh đi Lú Ayat!” Dịch nghĩa: “Đánh lũ Tây, giết sạch bọn bán nước!”. Lời già làng De Blang vừa dứt, đồng bào đồng loạt giơ tay hô vang theo lời già làng vừa nói. Tiếp theo hai thanh niên Gơri, Gơrứt đại diện cho các đoàn thể lần lượt lên ngậm súng đọc lời thề: “Hôm nay tôi xin thề đi theo cách mạng do cụ Hồ lãnh đạo, đánh thằng Tây đến cùng! Nếu bị thằng Tây bắt không khai báo, không dẫn đường cho Tây đi đánh bộ đội Cụ Hồ. Ai làm điều sai thề trước đầu súng sẽ bị chết”. Một hôm, cơ sở móc được chủ làng Kon Thoup ra rừng. Gặp tôi chủ làng Kon Thoup nói: “Tau buộc phải nhận chức chủ làng với Tây nhưng không làm hại dân. Tau nghĩ để cho đứa khác làm thì tau không kiểm soát được hăn khi hắn cầm súng của Tây khi hắn cầm súng của Tây trong tay hắn. Nay cách mạng đã về đến làng tau tin tụi bây là bộ đội cách mạng của cụ Hồ, tau giao chức chủ làng cho chúng mày cử người khác làm. Từ nay tau xin cách mạng một cây súng vào rừng làm du kích thôi”. Tôi thật bất ngờ trước ý thức và lòng trung thành với cách mạng của chủ làng Kon Thoup. Tôi đeo vào già làng một cái cong (cái vòng bằng bạc) làm tin và lấy một lưới cuốc, một cái rựa đưa cho chủ làng Kon Thoup. Chủ làng Kon Thoup mừng rỡ hẹn ngày huy động dân làng ra dừng dự mitting. Tại buổi mitting sau đó tôi giải thích cho bà con hiểu biết âm mưu của giặc Pháp với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và đọc thư của Bác Hồ gửi đến Đại hội dân tộc thiểu số miền Nam họp tại Pleiku ngày 19 tháng 8 năm 1945. Nghe tôi giới thiệu về Bác Hồ, mọi người im lặng trân trạng đón nghe thư của Bác viết “… Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt, chúng ta sống chết cho nhau, trước kia chúng ta xa cách nhau, một là do thiếu liên lạc, là vì kẻ thù xúi giục để chia rẽ chúng ta… Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ của chúng ta, nên xin tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta. Chúng ta phải thương yêu, phải kính trọng nhau, đểu giúp đỡ nhau để mưu cầu hạnh phúc chung của chúng ta và con cái chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt, chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ quyền tự do, độc lập của chúng ta”. Tôi đọc thư của Bác Hồ bằng tiếng dân tộc Ba Na, đồng bào nghe đều vỗ tay tán thưởng và hô vang: “Bác Hồ! Bác Hồ!”
Từ đó, đồng bào dân tộc trong làng hăng hái vào hội Việt Minh, đánh Tây, tham gia làm rẫy đánh Tây. Tổ chức hội họp đoàn thanh niên, phu nữ, nông dân… cung cấp tình hình địch và dẫn đường cho bộ đội 103 đi công tác. Tôi có thể nói là đến lúc này thì “sa mạc” thực tế mà tôi nghĩ trước đây đã trả lời bằng những “dãy núi” đầy ắp thực tiễn. Phong tục tập quán của đồng bào là điều tôi quan tâm, được thể hiện chung nhất, đàn ông quanh năm đầu trần chân đất, đàn bà mặc mỗi chiếc xà rông (bận váy), đau thì uống thốc lá rừng, sốt thì tắm nước lá, lạnh thì đốt lửa như thế mà người nào cũng bóng như cây lim, cật, sến, vững vàng như dãy Konchueng. Chính những điều chung nhất ấy tạo nên điều giống nhau là kiên định ý chí, vững vàng trong bão táp, dù Ba Na hay Ê Đê, Gia Rai hay M’nông đều thể hiện bản sắc văn hóa của mình: Trung thành với Đảng, tôn kính Bác Hồ. Chỉ bằng ấy điều thôi tôi cũng có thể nói rằng “Các dân tộc Tây Nguyên có khoảng một triệu người, nhưng đó là dãy Trường Sơn, là rừng thiêng, lũy thép của Tổ quốc ngăn bước quân thù, tạo thế cho cách mạng giành thắng lợi từ đây.
Đầu tháng 12 năm 1949. Sau 6 tháng đội vũ trang tuyên truyền 103 cắm ở huyện Dakbớt, đội đã xây dựng cơ sở ở 27 làng giáp tới sông Azumpa, củng cố được các căn cứ Gia Hôi, Đesơrô, Fama, với 3.000 dân. Đội vũ trang tuyên truyền 103 được lệnh trung đoàn bàn giao địa bàn Dakbớt cho đại đội (đại đội YBinNam. Ở Gia Lai lúc đó có hai đội YBinNam và YBinBắc) của đồng chí Nguyễn Trọng Đàm đại đội trưởng và Nguyễn Loan, làm chính trị viên. Đại đội YBinNam lúc này có quân số hơn 300 người. Sau khi bàn giao địa bàn đội vũ trang tuyên truyền 103 được lệnh trở về hậu cứ chỉnh đốn đội ngũ, hoc tập và chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới.
Năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta từ phòng ngự chuyển sang thế tiến công quân địch ở nhiêu chiến trường trong cả nước. Trước nguy cơ thất bại, giới cầm quyền Pháp cầu cứu Mĩ chi viện. Thực dân Pháp lừa bịp dân ta bằng cách trao trả độc lập cho con bài Bảo Đại. Bảo Đại thành lập đội quân tay sai gọi là quân quốc gia Nam triều, cờ vàng 3 sọc đỏ. Đội quân này do Mĩ huấn luyện và trang bị. Tướng Đờlát Đơtaxinhi (De Lastre Detasigni) tư lệnh khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) sang thay tướng Salan làm tổng chỉ huy quân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương. Đờ-lát ra sức tiến hành chiến tranh tổng lực, bình định vùng tạm chiếm, khủng bố lực lượng cách mạng, đẩy mạnh chiến tranh xâm nước ta. Ở địa bàn Tây Nguyên, đồng thời với thủ đoạn chiêu an, vũ trang cho quần chúng phát triển Guom (Guom, nguyên tiếng gốc Ả rập, chỉ lực lượng vũ trang làng xã của địch) củng cố đồn bốt tăng quân giữa các tuyến giao thông chiến lược, tuyên truyền chia cắt, đất Tấy Nguyên là đất của người Thượng, để chia rẽ Kinh Thượng. Địch còn thực hiện các thủ đoạn như:
- Thông qua tề ngụy các cấp, đẩy mạnh các cuộc hành quân chiêu an, thực hiện việc có mặt thường xuyên ở buôn làng: dùng muối, thuốc kí ninh, dụng cụ để mua chuộc bằng vật chất, duy trì phong tục tập quán lạc hậu và duy trì chế độ già làng để nắm dân. Đi đôi với các thủ đoạn này chúng lập đồn Kan Nat, Thủy Tú, Cửu An, Thượng An… tạo vành đai bảo vệ cứ điểm và đồn địch nhằm kiểm soát dân chống lại cán bộ ta nhập làng.
Để đối phó với âm mưu thủ đoạn của địch, đưa sự nghiệp kháng chiến của dân tộc ta trên địa bàn Tây Nguyên phát triển, Liên khu 5 đề ra nhiệm vụ cho chiến trường bắc Tây Nguyên - vùng xung yếu nhất giữa địch và ta là:
Ra sức động viên mọi khả năng của đồng bào vào công cuộc tổ chức và phát triển cơ sở, đẩy mạnh chiến tranh du kích phá âm mưu củng cố Tây Nguyên của địch. Cũng trong thời gian này Liên khu ủy 5 quyết định sáp nhập tỉnh Gia Lai, tỉnh Kon Tum thành lập tỉnh Gia-Kon chia thành 8 khu trực thuộc(1), trên cơ sở đó phù hợp với địa bàn, Bộ tư lệnh Quân khu 5 quyết định hợp nhất trung đoàn 120 mới phụ trách chiến trường bắc Tây Nguyên. Sau khi làm phiên chế trung đoàn 120 có 8 đại đội và 10 đội vũ trang tuyên truyền, có 30 cán bộ chiến sĩ (mỗi đội). lúc này tôi được Ban chỉ huy trung đoàn quyết định làm đội trưởng vũ trang tuyên truyền 103, đồng chí Bùi Dự làm chính trị viên. Liền sau đó trung đoàn lệnh cho đội vũ trang tuyên truyền 103 và đội vũ trang tuyên truyền 101 của đồng chí Nguyễn Hồng Hương(2) làm đội trưởng và đồng chí Trịnh Quang Ngọc, chính trị viên. Về hoạt động ở vùng ChưPrông phía tây đường 14 gần Bàu Cạn. Đội 103 hoạt động từ Cheo Reo đến giáp Buôn Hồ lên biên giới Campuchia. Vậy là hai đội vũ trang tuyên truyền 101 và 103 chúng tôi từ ngày thành lập đến nay mơi có dịp sát cánh bên nhau hoạt động chung một địa bàn. Tuy nhiên, theo lệnh trung đoàn để tạo bất ngờ và để tránh thương vong trên đường công tác, đội 103 không được hành quân cùng đường với đội 101 (đi theo đường của đội 101 chỉ mất 1 tuần lễ) vì từ ngày chiếm lại Tây Nguyên quân Pháp lập tuyến phòng thủ phía tây đường 14 rất gắt gao. Hiểu vấn đề, hai đôi vũ trang tuyên truyền 101 và 103 thống nhất lấy núi Chứ Đơn làm tọa độ chuẩn, lấy làng Plâyme làm địa điểm bắt liên lạc, hai đơn vị chúng tôi cùng quy ước đơn vị nào đến trước thì xây dựng cơ sở trước. Chúng tôi chia tay. Đội 101 lên đường.
Tháng Giêng ở Tây Nguyên trời xanh và cao hơn, thời tiết đang vào mùa khô, những cơn gió bấc từ cửa biển Sa Huỳnh, cửa biển Quy Nhơn thổi lên làm cây rừng Tây Nguyên nghiêng ngả, đêm nay không đứng yên. Ai đã lên Tây Nguyên, đã gắn bó với đất này mới biết gió Tây Nguyên, khi thì thống tháo, khi thì cồn cào gan ruột, gió xô nghiêng cả người đi, ngươi đứng. Các ngọn đồi gió gọt sạch cỏ tranh trơ ra mặt đất úa bầm. Lúc này đội vũ trang tuyên truyền 103 chúng tôi đứng chặn tại xã Bình Phú huyện Bình Khê phía tây tỉnh Bình định, nhận lệnh trung đoàn hành quân xuống thành Bình Định (xưa là thành Bồ Đàn). Suốt 6 tháng trường công tác ở vùng địch hậu Tây Nguyên, nay chúng tôi trở về đồng bằng đi giữa bao la của vùng tự do cách mạng, mọi người tấp nập như đi hội trên tấm thảm xanh của đồng ruộng, làng quê; trong tiếng nô đùa của các em râm ran niềm vui mới. Hiện thực đó như bồi đắp thêm tình yêu quê hương, đất nước trong mỗi người lính vệ quốc chúng tôi. Cuộc hành quân của đội vũ trang tuyên truyền 103 được cấp trên quan tâm, nơi cần đến liên hệ đều có công văn đi trước và cho đơn vị cầm theo. Tôi đến ga Bình Định làm việc xin goòng đi La Hay. Đến 16 giờ chiều cùng ngày cán bộ chiến sĩ vũ trang tuyên truyền 103 đến ga La Hay Phú Yên, địa đầu của tỉnh Phú Yên. Từ giã quê hương Bình Định thân yêu với những vườn dừa bạt ngàn xanh mát quanh năm, chúng tôi hành quân lên địa phận xã Xuân Quang ở phía tây huyện Đồng Xuân tỉnh Phú Yên. Địa hình Đồng Xuân lúc này rừng còn bạt ngàn, nơi đây là chiến khu dựng quân của Trần Cao Vân và Võ Trứ dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp năm 1898. Cuộc khởi nghĩa này tuy không thành công nhưng ngọn đuốc do các lãnh tụ khởi nghĩa đốt lên còn ấm lòng dân tộc (Trần Cao Vân sau này là lãnh tụ khởi nghĩa chống Pháp 1916; Võ Trứ là bộ tướng Nguyễn Thành Phương thời nghĩa hội). Hơn 40 năm sau, những người linh vệ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, của Bác Hồ kính yêu, về dây tra lại dấu chân trần của cha ông đi cứu nước. Từ xã Xuân Quang tôi và đồng chí Bùi Dự đến văn phòng tỉnh ủy Phú Yên tình công văn của đồng chí Nguyễn Chánh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Liên khu ủy, Tư lệnh kiêm chỉ huy Liên khu 5 gởi cho tỉnh Phú Yên. Công văn yêu cầu tạo điều kiện cho đội vũ trang tuyên truyền 103 hành quân lên tỉnh Đaklak. Đồng chí Lê Vụ, Bí thư tỉnh ủy Phú Yên vui vẻ nói với chúng tôi: “Từ nay hậu phương thì xa còn tiền phương thì gần. Đường đi trắc trở gian nan, các đồng chí cần bồi dưỡng đôi chân cho tôi. Mọi cố gắng của các đồng chí sẽ không thừa”. Trở về đơn vị tôi cử một tổ trinh sát đi nắm trước tình hình đường hành lang, khi có tín hiệu báo yên mới ra lệnh xuất phát. Bộ đội 103 theo đường Cây Vừng, Kí Lộ lên Trà Bương, Machoi, Maphu vào địa phận Đaklak qua sông Cà Lúi Eabreh đến Ơinu và chuẩn bị vượt sông Ba (Eâp). Tuy trời còn sáng, ở đây lại là vùug tự do nhưng Ban chỉ huy đội 103 vẫn cho cán bộ chiến sĩ dấu mình trong cánh rừng xanh, cho trinh sát bến bãi, chờ đêm đến mới cho bộ đội vượt sông Ba. Sông Ba mùa này nước cạn nhưng chảy xiết lắm. Chúng tôi đội ba lô lên đầu lội qua sông. Nước sông cuồn cuộn, trời đêm sâu thẳm, rừng núi mênh mông, lòng tôi dây lên bao niềm cảm xúc:
Sông Ba nước chảy về đâu
Chạnh lòng chiến sĩ khơi sâu căm thù
Nhớ ngày cách mạng mùa thu
Vũ trang công tác chiến khu lên đường…
Vượt sông Ba chúng tôi đi chếch hướng đông tránh đồn địch để qua đường số 7 an toàn và đi về hướng Đềplâygia liên hệ để vào căn cứ của trung đoàn 84, do đồng chí Giáp Văn Cương, trung đoàn phó chỉ huy. Được trung đoàn 84 giúp đỡ, đội 103 triển khai trinh sát nắm tình hình phía đông và phía tây đường 14, mới đưa quân qua cầu gỗ Woanh Chăm vào địa phận Buôn Hồ. Chúng tôi đi phía trên, Hồ Lức ở phía dưới, còn phía bắc là sông Srrêpốc (Êa Srrêpốc). Ban chỉ huy đội 103 chọn địa điểm dừng quân tổ chức lại trại ở, triển khai công tác. Đội vũ trang tuyên truyền 103 chúng tôi bắt đầu xây dựng cơ sở từ phía bắc Đakmin qua huyện Cônhec - một huyện biên giới thuộc tỉnh Mon Đun Kê Ri (Campuchia) và bắt liên lạc với đội vũ trang tuyên truyền đông bắc Miên do đồng chí Trương Minh Lí, quê ở Duy Xuyên, phụ trách. Và kể từ đây đội 103 xây dựng cơ sở ra hướng bắc địa phận tỉnh MonĐu Kê Ri, rồi về lại ngã ba Mĩ Thạch trên đường 14 và đường 25, đến tọa độ chuẩn trên núi Chứ Đơn, phát tín hiệu cho đội 101 đến làng Pleime, bắt liên lạc.
Suốt 4 tháng trời hành quân, đội vũ trang tuyên truyền 103 xây dựng được 20 làng cơ sở dọc hành lang trên tuyến đường hành quân gần 1.000km. Niềm phấn khởi của cán bộ chiến sĩ hai đôi vũ trang tuyên truyền 101 và 103 - những người chiến sĩ sống xa quê hương lâu ngày gặp lại nhau không thể nào tả xiết. trong suốt 4 tháng qua, hai đội 101, 103 thi đua hoàn thành công tác xây dựng cơ sở địch hậu, điều đáng mừng nhất là cán bộ chiến sĩ hai đội đoàn kết đảm bảo được an toàn cho hai đơn vị và cho các cơ sở không bị địch tập kích, phục kích gây thươg vong. Địa bàn từ Đakmin dọc theo hai tỉnh biên giới Mon Đun Kê Ri và Na Ta Kê Ri (Campuchia) về phía tây đường 19 huyện Chứ Ti (Đức Cơ) trở thành tuyến hành lang an toàn cho hai đơn vị. Vì ở đây đồng bào dân tộc H’Mông, Ê Đê, Zơrai… sống hai bên biên giới đều có quan hệ huyết thống sắc tộc, nên sự thống nhất rất cao. Cơ sở trên đất Việt Nam xây dựng ở làng Ê Đê, thì làng Ê Đê bên Campuchia ủng hộ và ngược lại. Mỗi khi có địch càn quét bên phía biên giới Campuchia thì cơ sở bên[97] Campuchia chạy về Việt Nam tránh né, khi địch càn ở Việt Nam thì cơ sơ ở biên giới Việt chạy về Campuchia tránh né. Cứ như vậy, các dân tộc sống hai bên miền biên giới của hai nước, luôn tận tâm giúp đỡ nuôi dưỡng cán bộ chiến sĩ hai đôi vũ trang tuyên truyền 101 và 103 hoạt động. Một thuận lợi nữa đến với hai đơn vị là đã phát triển được người dân tộc ở địa bàn hai bên biên giới vào công tác ở hai đôi 101 và 103, Ngôn ngữ Ba Na mà hai đơn vị đã học trước đây không còn thích nghi ở địa bàn công tác mới. Những chiến sĩ dân tộc mới phát triển vào đơn vị, được hướng dẫn học tập chữ quốc ngữ để trở thành như một thông dịch viên truyền đạt chủ trương chính sách của Đảng đến với đồng bào dân tộc hai bên biên giới. Một vùng biên giới tự do rộng hơn 300km mở ra liên hoàn. Tôi nghĩ từ lúc quân đi trong đêm, đất trời không bờ bến, đến nay dù cách mạng chưa thành công nhưng ta đã có đất và trời, có cả cộng động các dân tộc hòa nhịp sống bao la của cuộc kháng chiến cứu nước.
Đến tháng 8 năm 1951, Ban chỉ huy trung đoàn 120 ra lệnh sáp nhập đội vũ trang tuyên truyền 103 và 101 thành liên đội vũ trang tuyên truyền 118. Liên đội vũ trang tuyên truyền 118 do đồng chí Nguyễn Hồng Hương làm liên đội trưởng, tôi nhận quyết định làm chính trị viên, hai đồng chí Trịnh Quang Ngọc và Bùi Dự làm đội phó. Liên đội vũ trang tuyên truyền tuy là một nhưng trở về hoạt động trên địa bàn trước khi hai đơn vị sát nhập. Có nghĩa là đội vũ trang tuyên truyền 103 vẫn hoạt động trên địa bàn hai tỉnh biên giới Mon Dun Kê Ri và Ra Na Ta Kê Ri và một phần huyện PleiKli[98] tây đường 14, còn đội 101 vẫn hoạt động trên địa bàn Chứ Ti, tây nam đường 19. Phương châm và nhiệm vụ của Liên đội vũ trang tuyên truyền 118 thời gian này là:
Nắm vững phương châm kiên trì vận động cách mạng, tích cự đẩy mạnh công tác củng cố cơ sở, củng cố hành lang bàn đạp, chú ý vùng biên giới mở rộng và bảo vệ căn cứ du kích xây dựng cơ sở vùng bị chiếm.
Ra sức địch ngụy vận phá âm mưu vũ trang cho dân, phát triển Guom của địch, chống chính sách dồn dân của chúng; tích cực đấu tranh triệt phá kinh tế địch, xây dựng kinh tế ta; tuyên truyền giáo dục chính trị cho nhân dân, củng cố khối đoàn kết kháng chiến; rèn luyện cho cán bộ đảng viên chiến sĩ tư tưởng: Trường kì gian khổ tự lực cánh sinh nhưng nhất định thắng lợi. Thực hiện quan điểm bình đẳng dân tộc. Trong công tác tổ chức thì quan tâm chỉnh đốn tổ chức Đảng ở cơ sở để tiện sinh hoạt thích hợp với hoàn cảnh chiến trường. Ban chỉ huy Liên đội vũ trang tuyên truyền 118 tổ chức quán triệt nhiệm vụ cho cán bộ chiến sĩ và ra quân công tác. Một thuận lợi của Liên đội vũ trang tuyên truyền 118 là gặp được anh Ksor Thanh. Ksor Thanh là người dân tộc Zơrai, có học vấn diplôme, nói thông thạo tiếng Pháp, tiếng Việt, hiểu phong tục tập quán của ác dân tộc sống trên vùng biên giới Việt Nam, Campuchia. Ksor Thanh nguyên là chủ tịch huyện Chứ Ti (Đức Cơ) hồi khởi nghĩa 1945. Từ khi giặc Pháp chiếm lại địa bàn Chứ Ti, Ksor Thanh tập hợp một số trai tráng trong huyện vào rừng phát[99[ rẫy sinh sống, bất hợp pháp với quân địch chờ ngày cách mạng trở về. Kso Thanh được liên đội 118 kết tập công tác. Có Ksor Thanh, việc phát triển thanh niên địa phương bổ sung cho liên đôi 118 được thuận tiện. Căn cứ đứng chân của liên đội ở núi Chứ Ti được củng cố. Khi thế đơn vị lúc này phấn khởi, quân số vừa đông về số lương, vừa mạnh về ý chí và tư tưởng, số thanh niên mới vào liên đội lên đến 40 người, toàn đơn vị đã có 101 đồng chí. Chính quyền cách mạng ở từng làng được tổ chức chặt chẽ, trên có chủ tịch làng, dưới có đoan thể thanh niên, phụ nữ, nông dân, thiếu niên. Mỗi làng có một tổ du kích mật, tiểu đội du kích chiến đấu. Du kích mật có nhiệm vụ hợp pháp bám địch, bám đường khi cán bộ về công tác và bảo vệ nhân dân trong các cuộc họp mit ting. Ở những làng xa quốc lộ 19, 14 xa đồn địch, liên đội 118 tổ chức cho đồng bào làm rẫy tỉa lúa tự túc lương thực nuôi bộ đội và lập kho dự trữ gạo muối ở căn cứ, đề phòng địch càn quét. Đến năm năm 1951, địa bàn hai huyện Chứ Ti (Đức Cơ) và Pleikli các cơ sở quần chúng đã được phát triển đều khắp, có làng ở sát đường 19, 14, trong vùng địch kiểm soát cũng đã phát triển được cơ sở cách mạng.
| Tháng 7 năm 1951, tôi được trung đoàn chỉ định về dự Đại hội Đảng bộ Liên khu 5. Đây là lần đầu tiên tôi được tham dự một hội nghị quan trọng của Đảng. Tại đại hội tôi cố nắm bắt và quán triệt những nghị quyết quan trọng của đại hội như nghị quyết: “Nhiệm vụ công tác của vùng sau lưng địch”; Nghị quyết về “Vùng địch tạm chiếm là vùng du kích”; Nghị quyết nhấn mạnh công tác vùng sau lưng địch là: “Tích cực tranh thủ nhân dân vùng địch hậu, kiên trì xây dựng cơ sở tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích, phá chính sách bình định của địch”. Hồi đó chưa có phương châm: Hai chân 3 mũi giáp công, nên nghị quyết công tác vùng bị địch chiếm và vùng du kích như sau: “Các địa phương phải biết căn cứ vào tương quan lực lượng giữa địch và ta trên mỗi địa phương mà định hướng đấu tranh cho thích hợp, khi trọng về chính trị, khi chính trị quân sự đi đôi, khi trọng về quân sự, nhưng điều cơ bản phải lấy dân làm gốc. Mọi công việc trong hai vùng đều phải xoáy quanh ba vệc: Dân vận, vận động quân ngụy, chiến tranh du kích”. Tháng 10 năm 1951 Liên khu ủy quyết định thành lập mặt trận miền Tây. Phạm vi mặt trận miền Tây gồm: Đại bộ phận tỉnh Kon Tum và miền Tây tỉnh Quảng Ngãi. Tỉnh Giakon sau khi chuyển các huyện thuộc tỉnh Kon Tum về mặt trận miền Nam còn lại các huyện: Komlong, An Khê, PleiKon và vùng tây đường 14. Lúc này tỉnh Gia Lai quyết định thành lập Ủy ban kháng chiến huyện Chứ Ti. Đồng chí Ksor Thanh vẫn làm chủ tịch huyện, đồng chí Đỗ Huyên thường vụ huyện Đakbớt được rút lên làm Bí thư ban cán sự huyện Chứ Ti và huyện PleKli. Tôi và đồng chí Nguyễn Hồng Hương được bổ sung vào ban cán sự huyện Chứ Ti. Địa bàn này, cơ sở cách mạng tay đường 14 và đông bắc đường 19 gần như đều khắp, phong trào đấu tranh hợp pháp cũng như bất hợp pháp lên cao. Các đồn địch đóng ở Chứ Ti, Pleikli, Peimoedươc, Bàu Cạn bị vô hiệu hóa trước nhân dân. Khi chúng đi càn thì bị du kích cắm chông, gài bẫy, rào đường, bắn ná tên độc gây cho địch nhiều nỗi lo sợ. Khi tôi đi dự đại hội về, tình hình đơn vị có những biểu hiện khác thường. Nếu trước đây cán bộ chiến sĩ trong liên đội sau thời gian công tác trong đêm, sáng ra phải rút về cứ, thì nay ở lại trong làng, trong rẫy, đi lại công khai coi thường địch. Có một só đồng chí còn đi lẻ. Vì anh em nghĩ rằng, cơ sở quần chúng cách mạng đã nuôi nấng, che chở bảo vệ họ, thì kẻ địch sẽ không làm được gì. Về phía địch, từ lâu chúng cho gián điệp giả dạng thương lái, đi sâu vào làng điều tra cơ sở của ta, những cán bộ chiến sĩ đi lẻ trên địa bàn hai huyện Chứ Ti và Pliekli chúng liền bí mật cho quân đón bắt đem tra tấn và thủ tiêu. Nắm được điểm yếu của ta, nhiều lần chúng xua quân đi đốt rẫy phá làng triệt hại kinh tế của ta. Mặc dù bị địch khủng bố nhưng nhiều cơ sở bí mật vẫn giữ được liên lạc với cán bộ, nhờ đó tinh thần đồng bào vẫn hướng về cách mạng. Chính do sự chủ quan, mất cảnh giác đó mà trong năm 1952, liên đội 118 tổn thất gần 20 cán bộ chiến sĩ, cả người Kinh lẫn người dân tộc. Từ đó địch tăng cường bố phòng tuyến đường 14 gây khó khăn cho liên đội 118, đến cuối năm 1953 sau khi được củng cố, liên đội 118 hoạt động trở lại. Ban chỉ huy đơn vị mới liên lạc được với hậu cứ của trung đoàn 120. Đầu năm 1954, sau những thắng lợi của quân ta trên chiến trường Tây Nguyên, tù binh địch bị ta bắt rất nhiều. Ban chỉ huy trung đoàn 120 lệnh rút tôi về công tác tại Ban chính trị trung đoàn. Chủ nhiệm chủ trương trung đoàn Võ Đông Giang giao nhiệm vụ cho tôi phụ trách công tác địch vận và giáo dục tù hàng binh ở trại giam do trung đoàn quản lí. Suốt 5 năm làm công tác vũ trang tuyên truyền vùng địch hậu, gắn bó với anh em đồng đội, đồng chí, biết bao buồn vui, gian khổ. Xa anh em đồng đội, xa đơn vị, lòng tôi bùi ngùi khôn xiết, nhưng vì nhiệm vụ của một đảng viên được Đảng phân công công tác, tôi không thể thoái thác. Tôi mang ba lô về hậu cứ mà lòng trĩu nặng yêu thương đồng đội, đồng bào vùng địch hậu đã gắn bó với tôi suốt 5 năm qua. Tôi đi trong niềm tin của đồng đội tôi đang ngày đêm chiến đấu ở phía trước. Với tôi, điều rút ra qua 5 năm công tác vùng địch hậu ở chiến trường Tây Nguyên có những điều không thể nào quên được đó là nhân dân; đó là đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Không hề từ chối một gian nguy nào, một khi đã chấp nhận đi theo cách mạng thì gắn cả cuộc đời theo lời nguyền dù chết cũng không quên. Tôi không bao giờ quên được trận càn của hơn 400 tên địch đánh vào làng Stor trong suót 150 ngày từ tháng 9 năm 1950 đến tháng 2 năm 1951, chúng vây quét, trút lúa, phá rẫy, đốt làng cố xóa dấu vết làng Stor. Nhưng dưới sự lãnh đạo của thôn trưởng Đinh Núp, đồng bào Stor dựa vào địa thế hiểm trở của núi rừng, tổ chức đánh địch bằng chông, mang, bẫy đá, cung tên… đồng bào Stor chín lần dời làng, trải qua nhiều ngày đói khổ, thiếu muối đói cơm. Thiếu gạo đồng bào lấy củ rừng thay gạo, thiếu muối, đồng bào đốt cỏ tranh thay buối, người Ba Na ở làng Stor vẫn không hề nao núng tinh thần. Trong suốt những ngày gian khổ ấy đã có một Đinh Núp kiên trung, có một Pi dũng cảm, có một SơRan anh hùng luôn luôn bám làng gần gũi gắn bó với nhân dân, giữ vững lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ. Thôn đội trưởng Đinh Núp khẳng định: “Nếu địch có đánh chết còn một người cũng phải đánh lại, chết thì chết, không đầu hàng!” đó là ý chí đánh Pháp của người dân tộc Ba Na. Vẫn còn đây một Bok Wừu hai lần bị địch bắt, la hai lần Bok Wừu mưu trí thoát ngục, lần thứ ba (tháng 4 năm 1952) Bok Wừu sa vào tay giặc, chúng đưa về Đakdoa, Đedoa, Kon Tum để tra tấn dã man, chúng đã cắt mũi, xẻo tai, chặt lìa mười đầu ngón tay, mười đầu ngón chân, gây khủng khiếp cho gia đình và dân làng. Thế nhưng Bok Wừu vẫn một lòng không khai báo cơ sở cách mạng trong xã. Trong cơn đau thân thể Bok Wừu còn động viên nhân dân: “Đồng bào đừng sợ, hãy đoàn kết đấu tranh diệt cho hết lũ Azat!” (Azat: bọn giặc cướp nước). Kẻ thù khiếp sợ trưởng phẩm chất anh hùng của Bok Wừu, chúng dùng lưỡi lê khoét mắt Bok Wừu, dùng tiểu liên bắn xả vào người, hất xác Bok Wừu xuống suối. Máu của Bok Wừu hòa vào dòng suối thấm đẫm cho đất rừng xanh tốt, giăng thành lũy ngăn bước quân thù. Tôi cũng không bao giờ quên được tinh thần của một cán bộ người Zơrai, ở biên giới Việt Nam - Campuchia khi địch bắt anh về Bàu Cạn để tra tấn, chúng hỏi: “Việt Minh ở đâu”. Người cán bộ cơ sở chỉ vào đầu, ngực mình và nói: “Việt Minh nó ở trong óc tao, nó ở trong tim tao, nó đã thành hơi thở cho tao sống, bọn máy có cần thì mổ đầu lấy óc, mổ ngực lấy tim mới thấy được Việt Minh”. Và quân thù dã man, hèn hạ, chúng làm thật như vậy. Người chiến sĩ cơ sở cách mạng Zơrai đã hi sinh như một anh hùng. Và còn đây, những biểu hiện sinh động của tấm lòng người dân vùng biên giới. Mới gặp chúng tôi đồng bào nói: “Buổi đầu tụi bây đến tao sợ tụi bây như cho heo, như con báo; con heo nó phá rẫy, con báo nó bắt trâu bò gà vịt. Nhưng sống với tụi bây rồi, tao thương tụi bây như con chó ở trong nhà, thằng nào chết dân làng cũng muốn thờ hồn nó, và mong hồn của nó ở lại với dân làng đừng về dưới xuôi. Tụi bây con Kinh đi đâu cũng có xe cộ, lanh thì có áo ấm, mắc chi lên đây đầu trần chân đất chịu cực khổ như người dân tộc? Tao biết tụi bây cũng vì cách mạng, giải phóng dân tộc, để cho người dân tộc chúng tao đỡ khổ…”. Một đặc điểm văn hóa của đồng bào các dân tộc Tây nguyên làm cho tôi khâm phục vô cùng, tuy họ chưa có nếp sống văn minh, chưa tiếp xúc với tiế bộ khoa học kĩ thuật nhưng họ không bao giờ lấy của cải của nhau; không bỏ vợ đánh con. Tôi có ước nguyện sau này đất nước thanh bình, tôi sẽ về lại chiến trường xưa thăm đồng bào, đồng đội tôi - những người đã gắn bó hi sinh cả cuộc đời mình cho cách mạng trong những năm cực kì gian nan, cực kì ác liệt và chính họ đã giúp tôi dũng khí để chịu đựng gian khổ thời đó. Tuy nhiên đến nay, sau 25 đất nước độc lập tôi vẫn chưa thực hiện được ước nguyện đó của đời mình. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, tin chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng đem đến có cán bộ chiến sĩ chiến trường Tây Nguyên niềm vui sướng nức lòng. Ở Khu 5 địch phải căng ra, phân tán để đối phó. Từ sau thất bại Kon Tum, binh đoàn 42 của chúng bị giam chân ở Pleiku, Bộ tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Việt Nam do tướng Nava cầm đầu, đã tung ra một nước cờ táo bạo, và chúng đã chuốc lấy thất bại thảm hại trong lịch sử cầm quân đi xâm lược nước người của hắn. Nava ra lệnh rút trung đoàn GM10 Korea, từ Nam Triều Tiên đổ sang Việt Nam chiếm giữ đường 19, để nối liên lạc với binh đoàn 42 tiến xuống An Khê thành 2 gọng kìm chiếm đóng vùng tự do Bình Định của ta. Đón biết ý đồ của quân địch, Bộ Tư lệnh liên khu 5 đưa trung đoàn 96 do đồng chí Nguyễn Minh Châu làm trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Hữu Thành, chỉ huy(1). Trung đoàn 96 lúc này có 2 tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn trợ chiến, được Bộ tư lệnh Liên khu rút đại đội 54 và 68 quân số hơn 600 người của trung đoàn 120 tăng cường cho trung đoàn 96, đồng thời phối hợp với bộ đội địa phương An Khê do đồng chí Nguyễn Hữu Trinh, tham mưu trưởng trung đoàn 120, phối thuộc với trung đoàn 96 đánh địch, tạo điều kiện cho trung đoàn 96 tiêu diệt hoàn toàn trung đoàn GM100 Korea (Trung đoàn lê dương 100 của Pháp ở Nam Triều Tiên sang) tai địa phận Đăkpơ. (Dân ca Xê Đăng)
Công việc trong ngay chiếm quá nhiều thời gian và vất vả, tôi tưởng chừng không dứt ra được. tại trụ sở Ủy ban quân quản huyện An Khê, tôi được lệnh phối hợp hoàn thành thủ tục danh sách tù hàng binh để trao trả cho đối phương. Công việc trao trả chỉ con chờ lệnh trên thì được lệnh triệu tập về trung đoàn bộ dự họp. Cuộc họp được tiến hành trong tác phong quân sự. Đồng chí Trương Công Minh, tức Trương An - nguyên xứ ủy Trung Kì (1939-1942) Bí thư tỉnh ủy GiaKon, kiêm chính ủy trung đoàn 120 bắc Tây nguyên, trịnh trọng khai mạc hội nghị, phổi biến thắng lợi của quân và dân ta ở chiến trường Điện Biên Phủ. Đồng chí nói: “Sau 55 ngày đêm “khoét núi ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non” chiến đấu liên tục, quân ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm do Tướng Đờ Cát cầm đầu. Ngoài số quân địch bị tiêu diệt trong 55 ngày đêm ta còn bắt sống hơn 16.000 tên địch, tịch thu toàn bộ trang thiết bị chiến tranh của chúng ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Cuộc tấn công chiến lược Đông Xuân 19553-1954 của quân ta đã kết thúc bằng chiến thắng vĩ đại. Chiến thắng ở Điện Biên Phủ cùng với chiến thắng Đông Xuân 1953-1954 của quân và dân ở mọi miền đất nước đã mở ra cục diện chủ trương mới, buộc thực dân Pháp phải kí hiệp định Giơnevơ, ngày 20 tháng 7 năm 1954. Những kế hoạch quân sự đầy tham vọng của hai tên đế quốc Pháp và can thiệp Mĩ liên tục bị phá sản. Trên chiến trường Liên khu 5, chiến dịch Atlăng của quân Pháp đã cũng đã thất bại cay đắng. Bằng trận tiêu diệt binh đoàn GM100 Korea trên đường 19 An Khê không để một tên nào trốn thoát. Đè bẹp và đánh tan âm mưu xâm lược của thực dân Pháp…”. Nói đến đây đồng chí chính ủy Trương Công Minh, bỗng hạ thấp giọng - ông trân trọng từng lời: ”Chín năm gian khổ đói cơm lạt muối, tự lực cánh sinh, trường kì kháng chiến nhất định thắng lợi đã trở thành hiện thực. Chiến công này là xương máu của đồng bào, đồng chí chúng ta trong 3.000 ngày, gian khổ mới làm nên. Chiến tranh đã chuyển giai đoạn từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị. Theo hiệp định Giơnevơ thì quân đội và chính quyền của ta tập kêt ra phía Bắc đất nước để học tập và xây dựng. Vĩ tuyến 17, giữa hai bờ bắc và nam sông Bến Hải là đường ranh giới tạm thời chia cắt đất nước ta trong hai năm. Ở miền Nam do quân Pháp quản lí. Đến năm 1956, hai miền sẽ tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Diễn biến tình hình còn phức tạp, đề phòng quân giặc tráo trở, cấp trên ra lệnh Đảng ủy và Ban chỉ huy trung đoàn họp mặt các đồng chí để quán triệt tư tưởng, kiên định lập trường và mài sắc ý chí để chúng ta sẵn sàng cùng bước vào giai đoạn chiến đấu mới”. Đồng chí chính ủy trung đoàn đọc một bài thơ có ý khẳng định và minh họa thực tiễn cách mạng. Tôi không biết bài thơ của tác giả nào, nhưng tháng năm đi qua đến nay tôi vẫn còn nhớ như in: |


