Khác

LỬA

Đoạn hồi ký kể về một kỷ niệm sâu sắc của người lính tình nguyện Việt Nam khi trở về căn cứ “Vắt Ông Toại” giữa mùa mưa ở vùng rừng núi Lào. Sau cơn mưa rừng dữ dội làm ngập hang, ướt hết quần áo và không còn lửa nấu cơm, anh bất ngờ được Đuông Chăn – cô gái Phù Thày quen từ hội cá Hòn Mương – tìm đến giữa mưa, mang theo một gói nhỏ bọc nhiều lớp lá chuối, bên trong là bao diêm khô. Nhờ những que diêm ấy, anh có lửa nấu bữa cơm giản dị mà ấm áp nghĩa tình. Kỷ vật nhỏ bé ấy được anh giữ suốt đời

Lai Châu02/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lăn lộn ở vùng địch hậu, độ hai ba tháng tổ dân vận chúng tôi lại kéo nhau về "Vắt Ông Toại" ở căn cứ kháng chiến Huội Nhàng. Đặt chân đến bờ sông Xề Nọi chúng tôi coi như đã về nhà. Lần này, trong lúc chờ anh em ở cơ sở về, chúng tôi xin phép đội trưởng Toại đi dự hội cá ở Hòn Mương. Hội cá vui lắm! Chớm mùa khô, cá suối Huội Nhàng tránh cạn nên hợp lại từng đàn bơi ngược về nguồn. Đến con thác Hòn Mương thì hành trình của chúng bị chặn lại, đàn cá tranh nhau vượt thác xúm đen xúm đặc. Dân các bản đứng chật hai bên bờ, đàn ông cởi trần đóng khố dùng vợt, dùng lưới xúc. Đàn bà con gái thu cá bỏ vào sọt, tìm các bãi đá bằng ven suối rải cá ra phơi.


Đến chiều cá khô cong, họ lèn vào sọt, lấy "lá tai voi" khô đậy kín. Ba bốn ngày có lái buôn đến mua hoặc chất lên xe bò chở về bản. Đêm đến mới thực sự là hội. Trai gái các bộ tộc: Lào, Phù Thày, xổ ăn vận diêm dúa như đi hội Bun ở chùa. Thanh niên mang theo trống cơm. "Chả trình chả! Chả trình chả!", tiếng trống cơm cất lên, từng đôi trai gái lượn vòng quanh bếp lửa múa Lăm vông, nhịp chân dập dìu theo ánh lửa. Tôi làm quen với một cô gái trẻ mang tên là Đuông Chăn trong một vòng múa, dáng cô e thẹn rụt rè khác với các cô gái Lào hồn nhiên bạo dạn. Sang vòng thứ ba, Đuông Chăn hỏi tôi:

- Anh là lính ông "Toạy" (Toại) à?

- Cô ở bản nào? - Tôi hỏi lại.

- Bản Keng Mũm.

Con gái Keng Mũm là dân Phù Thày nổi tiếng xinh xắn. Nhưng qua ánh lửa tôi thấy Đuông Chăn cũng bình thường, da nàng ngăm màu hạt dẻ, bắp chân hơi thô, nhưng mỗi lần tàn lửa bắn ra cô lại nhíu mày trông rất duyên, theo từng vòng múa tôi bắt chuyện. Đuông Chăn rủ rì:

- Bố em là Thít La, kết "xiều" với "ông Toạy" nên em gọi ông là "phò xiều" (bố kết nghĩa).

- Thế thì Đuông Chăn phải gọi tôi là "ải xiều"! (anh kết nghĩa).

Đuông Chăn che miệng cười e ấp như hoa "đoọng thoong".

Bản Keng Mũm của Đuông Chăn đông dân, giàu. Lính coong pạy (lính ngụy) thường hay đến bản quấy phá. Mấy lần phò (bố) Thít La sai con gái đến "Vắt ông Toại" báo tin địch, tôi ở cơ sở nên ít gặp.

Tôi quen biết Đuông Chăn tình cờ như thế.

Ai từng ở rừng Lào chắc không thể quên những cơn mưa kỳ quặc. Nhận được lệnh về "Vắt Ông Toại" trực thay đội trưởng đi họp ở phân đoàn, tôi và Huyên rời cơ sở từ sáng sớm. Đến đường rẽ, Huyên đi thẳng về phân đoàn bộ còn tôi một mình theo đường rừng khộp. Rừng khộp ban mai mát mẻ. Ánh mặt trời xuyên qua tán lá lung linh như những hạt ngọc. Tôi thấy lòng khoan khoái, tự nhiên cất tiếng điệu "đòn đống" (hò đi rừng). Nắng tắt. Trời bỗng tối sầm. Nhìn phía đông hướng Phù Luông mây đen vần vũ như hàng vạn thớt voi quần đảo đuổi nhau sang hướng Tây. Sấm. Chớp loe lóe. Rồi mưa xối xả. Về đến Phù Xạng He, tôi bám chân vào từng khía đá cố trèo nhanh lên dốc. Nước bùn đổ xuống trơn trượt như mỡ. Gần trưa mưa tạnh. Khi về tới "Vắt Ông Toại" thì hang đã ngập đầy nước. Nước mưa theo rễ cây, khe đá xối vào hang. Tôi chui vào xếp dọn giấy tờ, đồ đoàn của anh em vào chỗ khô ráo rồi đi sang hang dự bị. Bên hang dự bị càng tệ. Cỏ khô để nằm, nứa khô để nhóm bếp ướt sũng. Mưa vẫn tiếp tục trút xuống trắng rừng.


Tôi bắc nồi lấy phần gạo ở bao tượng nấu cơm trưa. Xé mấy tờ giấy ở sổ ghi chép để nhóm bếp. May ở hang dự bị có dự trữ bốn năm cây "ca boong" (đuốc thắp làm bằng mùn gỗ khô trộn với dầu rái). Tôi mở ba lô lấy diêm. Ôi thôi! Cả bao diêm Thái cũng đã sũng nước. Tôi chạy đến góc hang lấy bùi nhùi và đá đánh lửa. Mấy thứ này tuy còn khô nhưng không khí ẩm ướt thế này có tài thánh cũng chẳng thể đánh lửa được!


Mệt và đói, tôi cởi quần áo ướt chỉ mặc độc cái quần xà lỏn nằm thừ trên đệm cỏ ướt lắng nghe tiếng nước chảy, mưa rơi. Thế là phải chờ tạnh mưa mới xuống được núi kiếm cái lót dạ. Bỗng có tiếng động ngoài cửa hang, tôi giật mình ngồi phắt dậy vớ lấy khẩu xít-ten. Có tiếng con gái trong trẻo lọt vào:

- Ải xiều ơi!

Tôi đã nhận ra cái giọng trong trẻo thân thiết ấy là của ai rồi. Vơ vội lấy cái áo ướt vừa kịp khoác lên mình thì Đuông Chăn hiện ra trước mặt.

- Ải xiêu vừa đi đâu về vậy?

- Tôi đi họp về.

- Ở nhà em đã linh cảm nhất định có Thoong Đăm ở hang!

- Đuông Chăn vào trong này đi. Sao lại cứ đứng dưới mưa vậy?

- Em ướt như nhái lột da, còn chi nữa mà sợ ướt!

Hôm nay Đuông Chăn khác hẳn, không còn dáng vẻ e ấp, thẹn thùng như ở hội cá Hòn Mương.

- Vào trong ni. Khăn phá phe đây, lau người đi! Tôi kéo Đuông Chăn vào trong hang tránh mưa.

- Kệ em! Đuông Chăn nhìn tôi ái ngại. Tội chưa! Thoong Đăm chả có bộ quần áo nào khô. Típ xôi em mang theo, lúc qua suối Huội Nhàng nước cuốn mất. À, Thoong Đăm có gạo rồi. Hay quá! Em có tính hay lo xa nên lúc đi có mang sẵn cho anh thứ này!

- Vào trong này đi, ướt thế mà Đuông Chăn đứng chỗ gió lùa, cảm lạnh đấy! Khăn phá phe đây, lau đi.

Tôi cầm khăn định lau khô mái tóc của Đuông Chăn, cô giãy nảy:

- Em quen mưa, quen nắng rồi! Kệ em! Anh cầm gói này mà dùng!

- Gọi là ải "xiểu" chứ.

- Đừng hòng! Chưa giết gà ăn thề, chưa cột chỉ cổ tay mà đã muốn làm "Ái xiều"! Bò nạy nơ! (Không được đâu) cầm lấy cái này, để ướt thì nhịn đói! Em về đây. Nhùng nhằng lũ mà về thì chỉ có nước ngủ rừng!

Tiễn Đuông Chăn ra đầu dốc, cô chào tôi theo kiểu vào chùa. Tôi cầm hai cổ tay Đuông Chăn lắc lắc:

- Pay đí nỏ! (...)

Hứng chí tôi nói một tràng lời cầu chúc dân gian. Tôi nhìn theo mái tóc dài chìm vào cơn mưa trắng núi trắng rừng. Tôi cảm thấy một bầu máu nóng chạy rần rật từ đầu tới chân. Lúc đó, với tôi mưa, gió, cái ướt lạnh chả thấm vào đâu.


Tôi chạy nhanh về hang lấy cái gói. Cái gói nhỏ chỉ bằng nửa bao thuốc lá bọc lá chuối khô quấn dây vải chằng chịt. Tôi lấy kéo cắt dây. Tôi hơi lo khi thấy lớp lá chuối bọc ngoài bị ướt. Rất may, vào lớp trong thì lá chuối không còn bị ướt nữa. Hết lớp này đến lớp khác chừng sáu bảy lớp lộ ra một gói nhỏ bằng ngón tay bọc giấy bạc thuốc lá. Kỹ thế! Tôi thầm nghĩ trong lòng rất hồi hộp. Té ra là một bao diêm! Những que diêm vẫn còn khô nguyên ấm trong tay tôi. Sao mà Đuông Chăn biết tôi không có lửa nhóm bếp? Sao Đuông Chăn lại đến đúng ngày tôi ở "Vắt ông Toại"? Sao mà? Sao mà??? Tôi không thể nào trả lời được những câu hỏi bật ra trong đầu mình. Lòng hang ẩm mốc hình như cũng ấm lên. Nàng đã đưa lửa cho mình, cho anh lính tình nguyện khiến "anh chàng" đâm ra lẩn thẩn rải diêm lên khăn phá phe và đếm từng que một! Tất cả tròn mười sáu que! Sao lại đúng mười sáu que?


Trưa đó, tôi được chén một bữa cơm chấm muối trắng ngon lành. Bữa cơm đó ngon hơn tất cả những bữa tiệc mà tôi từng được dự. Bữa cơm ấy được nấu bằng lửa của Đuông Chăn và "ca boong" của dân bản mà lính tình nguyện chúng tôi coi như cha mẹ đẻ và thường gọi thân mật là "phò me".


Đời lính khác chi chân chim chẳng đậu yên cành nào. Hòa bình lập lại, tôi được chuyển lên hai tỉnh tập kết. Ở địa bàn xa xôi cách trở, tôi vẫn cố gắng tìm mọi cách gửi thư tay, hoặc nhắn để liên lạc với Đuông Chăn nhưng không có hồi âm. Thế là xa cách Đuông Chăn thân thiết của tôi rồi!


Tôi vẫn còn giữ gói diêm mà Đuông Chăn cho trong ngày mưa lũ ấy, mang theo mình như mang hơi ấm của em trên các nẻo đường chiến đấu cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.

Nhờ ngọn lửa ấy, tôi đã vượt qua vùng phỉ ở Sầm Nưa. Ngọn lửa ấy luôn ở trong tôi, nhắc tôi nhớ về một thời trai trẻ đã là anh lính tình nguyện; tôi nhớ tới tình yêu của nhân dân Lào dành cho chúng tôi. Ngọn lửa ấy mãi còn ấm áp thủy chung như tình cảm keo sơn của hai dân tộc Việt - Lào.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
LỬA | Câu chuyện thời hoa lửa