Lửa Trên Bờ Sông Cầu
Lửa Trên Bờ Sông Cầu
Lửa Trên Bờ Sông Cầu
Mùa hè năm 1972, cái nắng hun vàng những triền đê bên sông Cầu như đổ lửa xuống vùng quê Phú Bình, Thái Nguyên. Ở xóm Làng Mới, xã Tân Thành, có chàng trai tên là Nguyễn Văn Lực, sinh năm 1953. Lực cao gầy, nước da rám nắng, đôi mắt lúc nào cũng ánh lên vẻ cứng cỏi của người quen lam lũ. Cha mất sớm vì bệnh phổi, mẹ anh – bà Nguyễn Thị Hòa – tần tảo nuôi ba anh em bằng mấy sào ruộng và đàn gà nhỏ sau nhà.
Lực học hết cấp ba thì chiến tranh bước vào giai đoạn ác liệt nhất. Những chuyến xe chở bộ đội đi qua Quốc lộ 37 ngày một nhiều. Đêm đêm, tiếng loa xã vang lên giữa cánh đồng:
“Thanh niên hãy lên đường bảo vệ Tổ quốc!”
Mỗi lần nghe tiếng loa ấy, Lực lại im lặng rất lâu.
Một buổi chiều tháng sáu, anh ngồi bên bờ ao sau nhà vá lại chiếc áo cũ. Mẹ anh lặng lẽ nhóm bếp rồi bất ngờ hỏi:
– Con tính rồi chứ?
Lực ngẩng lên. Anh hiểu mẹ đang hỏi điều gì.
– Vâng. Con sẽ nhập ngũ.
Bà Hòa không khóc. Người đàn bà ấy đã đi qua nạn đói, qua những năm chạy giặc nên hiểu rằng có những việc đàn ông không được phép lùi. Nhưng đôi tay bà run run khi vo gạo.
Đêm ấy, trăng sáng phủ kín cánh đồng Phú Bình. Tiếng côn trùng rả rích hòa cùng tiếng tàu hỏa xa xa vọng về từ ga Quán Triều. Lực đi bộ sang nhà cô gái anh thương – Trần Thị Mai, sinh năm 1955, người cùng xóm.
Mai đang ngồi đan nón dưới hiên.
– Anh sắp đi phải không? – cô hỏi khẽ.
Lực cười:
– Ừ. Anh đi vài năm rồi về.
Mai cúi xuống, hai tay siết chặt vành nón.
– Người ta cũng nói “vài năm” rồi không về nữa.
Câu nói khiến khoảng sân im bặt.
Lực nhìn cô gái trước mặt. Anh thương Mai từ những ngày cùng nhau cắt cỏ bên triền sông, từ lần cô lội xuống ruộng giúp mẹ anh nhổ mạ giữa trời mưa rét. Nhưng thời ấy, tình yêu không được quyền ích kỷ.
Anh lấy trong túi áo ra một chiếc khăn tay màu xanh bộ đội.
– Nếu anh về, mình cưới nhau.
Mai không nhận khăn ngay. Cô hỏi:
– Vì sao đàn ông các anh cứ phải đi đánh giặc?
Lực im lặng rất lâu rồi đáp:
– Vì nếu không đi, quê mình sẽ còn cháy mãi.
Câu trả lời giản dị nhưng theo Mai suốt nhiều năm sau.
Ngày nhập ngũ, cả xóm tiễn thanh niên ở sân đình Tân Thành. Những bà mẹ gói cơm nắm, luộc trứng gà cho con mang đi. Tiếng trống, tiếng hát át cả tiếng khóc nghẹn.
Lực mặc bộ quân phục rộng vai, chân đi dép cao su, đứng thẳng hàng cùng những chàng trai tuổi đôi mươi. Anh nhìn về phía cuối sân đình. Mai đứng nép sau gốc nhãn, đôi mắt đỏ hoe.
Xe chuyển bánh.
Khói bụi phủ mờ con đường làng.
Từ hôm đó, Mai bắt đầu sống bằng những lá thư.
Những lá thư của Lực gửi về thường ngắn ngủi. Anh kể chuyện hành quân, chuyện đồng đội quê Nghệ An hát ví dặm giữa rừng, chuyện những đêm mưa bom đất rung như động đất. Nhưng tuyệt nhiên không bao giờ kể mình sợ hãi.
Mãi đến cuối năm 1974, trong một lá thư nhàu vì nước mưa, Lực viết:
“Có những lúc anh cũng sợ không được về. Nhưng nghĩ đến mẹ, đến em, nghĩ đến con đường làng Phú Bình mùa gặt, anh lại thấy mình phải sống.”
Mai đọc đi đọc lại câu ấy đến thuộc lòng.
Mùa xuân năm 1975, chiến tranh bước vào những ngày cuối. Tin chiến thắng dồn dập bay về quê. Cả xã Tân Thành đỏ rực cờ.
Người dân kéo nhau ra sân hợp tác nghe đài.
Có người trở về.
Có người mãi mãi nằm lại.
Mai đứng chen trong đám đông suốt mấy ngày liền chỉ để tìm tên đơn vị của Lực.
Rồi một chiều tháng năm, khi đang gánh nước ngoài giếng, cô nghe tiếng gọi:
– Mai!
Chiếc đòn gánh rơi xuống đất.
Lực đứng ở đầu ngõ, gầy hơn trước rất nhiều, vai đeo ba lô bạc màu, cánh tay trái quấn băng trắng. Nhưng anh còn sống.
Mai chạy tới rồi dừng lại giữa chừng. Cô bật khóc.
Lực cười khàn khàn:
– Anh về cưới em đây.
Ngày cưới của họ diễn ra đơn sơ vào cuối năm ấy. Không phông bạt lớn, không cỗ bàn linh đình. Chỉ có mấy mâm cơm, vài điếu thuốc chia nhau và tiếng cười vang cả xóm nhỏ.
Sau chiến tranh, Lực trở về làm cán bộ thủy lợi của huyện Phú Bình. Anh cùng dân làng đào mương, đắp đập, dẫn nước về ruộng. Mai mở lớp học bình dân cho trẻ con trong xóm.
Nhiều năm sau, tóc đã bạc trắng, mỗi lần ngồi trước hiên nhà nhìn lũ cháu nô đùa, Lực vẫn nhớ về “thời hoa lửa” của đời mình.
Đó là thời tuổi trẻ bị chiến tranh thiêu cháy nhưng cũng là thời con người sống thật nhất.
Yêu thật.
Đau thật.
Và hy vọng thật.
`Những người như Lực không nghĩ mình là anh hùng. Họ chỉ là những chàng trai quê Phú Bình năm ấy, bước ra từ ruộng đồng, mang theo mùi bùn đất và lời dặn của mẹ để giữ cho quê hương một ngày được bình yên.



