TÂY NGUYÊN - ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI Tây Nguyên gồm nhiều cao nguyên và rừng núi trùng điệp nối tiếp nhau chạy dài theo hướng bắc nam, ở về phía tây Trung Bộ. Phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam nối liền với các tỉnh miền Đông Nam Bộ, phía đông giáp các tỉnh đồng bằng Khu 5 và phía tây tiếp giáp nước Lào và Cam-pu-chia anh em, với đường biên giới chung dài khoảng 700 ki-lô-mét.
Diện tích Tây Nguyên khoảng 67.000 ki-lô-mét vuông, chiều dài từ bắc xuống nam 450 ki-lô-mét và từ đông sang tây 150 ki-lô-mét. Phạm vi chiến trường Tây.Nguyên trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước gồm ba tỉnh: Công Tum, Gia Lai và Đắc Lắc, có diện tích gần 36.000 ki-lô-mét vuông.
Dân số Tây Nguyên khoảng 1 triệu người, gồm ngót 30 dân tộc anh em, đông hơn cả là các dân tộc Xơ Đăng, Dê Triêng, Cơ Giông (Công Tum), Gia Rai, Ba Na (Gia Lai), Ê Đê Mơ Nông (Đắc Lắc), Cơ Ho (Lâm Đồng). Đồng bào Thượng chiếm độ 64% dân số. Đồng bào Kinh sống phần lớn ở các thi xã, quận lỵ, chiếm khoảng 36%.
 Sơ đồ Tây nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước Các dân tộc ở Tây Nguyên đoàn kết gắn bó với nhau trong cộng đồng chung, có nền văn hóa lâu đời, có truyền thống đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống kẻ thù để tồn tại và phát triển. Năm 1973, cán bộ Viện khảo cơ học đã phát hiện dược những công cụ lao động bằng đá thuộc thời kỳ đồ đá mới ở vùng Mê Van (Đắc Lắc) chứng tỏ từ thời xa xưa, Tây Nguyên là một trong những cái nôi của loài người trên đất nước ta.
Đây còn là một vùng đất giàu có và tươi đẹp của Tổ quốc. “Tây Nguyên là một vùng được thiên nhiên ưu đãi: có chất đất màu mỡ, có khí hậu thuận hòa, có nắng trời đầy đủ, có lượng mưa khá lớn, có sông suối và mạch nước ngầm khá nhiều. Bình nguyên, đồi núi, rừng cây, đồng cỏ… tất cả đều là những tài nguyên rất đủ tạo ra cuộc sống ấm no cho đồng bào địa phương và góp phần to lớn vào việc đáp ứng nhu cầu của nhân dân cả nước, vào việc đẩy mạnh xuất khẩu, vào sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước nhà”1.
Tây Nguyên có khoảng 1 triệu héc-ta đất trồng trọt. So với cả nước, vùng đất đỏ ba-dan ở đây chiếm tỷ lệ cao hơn cả, rất thích hợp với các loại cây công nghiệp như: cao-su, cà-phê, chè, canh-ki-na, đay, dâu tằm... Tây Nguyên nhiều đồng cỏ, có thể cải tạo thành những vùng chăn nuôi quy mô lớn.
Rừng Tây Nguyên chiếm hơn 50% diện tích tự nhiên, phần lớn chưa được khai thác. Trong rừng có nhiều loại gỗ quý như: trắc, gụ, cẩm lai, mun, sao, giáng hương, kiền kiền, săng lẻ… và nhiều động vật quý, hiếm, có giá trị kinh tế cao như : voi, hổ, báo, hươu, nai, bò tót, trâu rừng, lợn rừng, gấu ngựa, sóc bay, thằn lằn bay, chồn bay... Rừng còn có nhiều dược liệu quý như: sâm bố chính, hồng đằng sâm, sa nhân, mã tiền, hà thủ ô, mật ong... Rừng chằng những là nơi kín đáo cất giấu kho tàng, vũ khí, mà còn là nguồn tài nguyên vô tận để ta khai thác phục vụ chiến dấu và dời sống. Trong kháng chiến chống Mỹ, bộ đội Tây Nguyên đã phát rừng làm rẫy, sản xuất tự túc một phần lương thực để duy trì lực lượng, bám giữ chiến trường.
Tâỵ Nguyên có nhiều sông suối dọc ngang, dáng kể hơn cả là các sông Sê-rê-pốc, Pô Cô, Sa Thầy, sông Ba và các con suối lớn như Ia Đrăng, Ia Mơ, Ia Súp,.. Sông suối lắm thác nhiều ghềnh, không thuận tiện cho việc vận chuyển. Về mùa mưa lũ, nước dâng cao và chảy xiết nên đi lại gặp nhiều khó khăn. Sông suối Tây Nguyên có nguồn dự trữ thủy điện lớn. Thác Đa Nhim (Lâm Đồng), thác Gia Li (Gia Lai) vừa có giá trị về thủy diện, vừa là thắng cảnh.
Tây Nguyên có nhiều suối nước nóng nổi tiếng, có các hồ thiên nhiên xinh đẹp như Hồ Lắc (Đắc Lắc), Biển Hồ (Gia Lai).
Thời tiết ở Tây Nguyên chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến thảng 10. Những tháng mưa lớn thường gây ra lũ lụt, việc đi lại cũng như hoạt động quân sự gặp nhiều trở ngại. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5, đất se cứng lại, nhiều sông suối khô cạn, trời trong xanh, thời tiết đưa lại nhiều thuận lợi cho việc giao thông.
Thiên nhiên không chỉ đem lại cho Tây Nguyên những tiềm năng kinh tế dồi dào, mả còn tạo nên những đặc điểm hình thành một khu vực quân sự có tầm chiến lược rất quan trọng đối với Tổ quốc Việt Nam.
Tây Nguyên núi non trùng điệp, nối lièn một dải. Các cao nguyên có độ cao trung bình từ 500 đến 1.000 mét, phía đông như một bức trường thành, phía tây nghiêng mình thoai thoải về triền sông Mê Công, liên kết với các cao nguyên Hạ Lào và vùng dông bắc Cam-pu-chia tạo thành một vùng đất đai rộng lớn nhô lên như một chóp nhọn của bán đảo Đông Dương. Tây Nguyên có nhiều núi cao quanh năm mây mù bao phủ, cao hơn cả có các đỉnh Ngọc Lĩnh 2.598 mét, Ngọc Nay 2.259 mét (Công Tum), Chư Yang-sin 2.442 mét (Đắc Lắc)... Tây Nguyên thế đất rất cao, có thể khống chế hầu như toàn bộ khu vực xung quanh. Đây là một thế đứng vô cùng lợi hại.
---------------------- 1. Trích bài nói của đồng chí Lê Duẩn trong cuộc mít tinh do tỉnh ủy và ủy ban nhân dân tinh Đắc Lắc tổ chức ngày 11-4-1978 tại thị xã Buôn Ma Thuột. Báo Nhân Dân số 8731, ngày 23-4-1978. | |
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2016, 04:07:36 am gửi bởi Giangtvx » | Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước« Trả lời #2 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:07:40 pm » |
Ở thế cao, lại nằm vào trung độ của cả nước, từ Tây Nguyên, các lực lượng vũ trang ta có thể cơ động vào nam, ra bắc, tiến về đồng bằng, duyên hải đều dễ đàng. Người ta ví Tây Nguyên là “mái nhà” của miền Nam, “lưng tựa” của Khu 5, là “cửa ngõ” đi vào Sài Gòn, Nam Bộ. Tây Nguyên còn là hành lang nối liền hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa với tiền tuyến lớn míền Nam anh hùng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với hai nước láng giềng anh em chống kẻ thù chung, từ Tây Nguyên, ta đã tiến sang phối hợp với bạn, giải phóng A-tô-pơ (Hạ Lào) và vùng Đông Bắc Cam-pu-chia.
Với những đặc điểm về địa lý và mối liên quan với các chiến trường, Tây Nguyên dã trở thành một địa bàn chiến lược vô cùng quan trọng của Tổ quốc. Ngay từ buổi đầu đặt chân xâm lược nước ta, thực dân Pháp trước đây cũng như đế quốc Mỹ sau này đều rất chú ý đến địa bàn chiến lược có tính chất sống còn này.
Thực dân Pháp chiếm Tây Nguyên vào khoảng năm 1890. Chúng ra sức khai thác tài nguyên trên những vùng đất đai màu mỡ, đồng thời lập ngay các đồn binh để cai trị. Tiếp đó, chúng đặt vấn đề “ra sức phòng thủ Tây Nguyên để bảo vệ Đông Dương”. Năm 1928, chúng thành lập các tiểu đoàn bộ binh miền núi. Trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, vào khoảng giữa năm 1946, thực dân Pháp liền tổ chức các lực lượng vũ trang cao nguyên “Forces armées des hauts piateaux) nhằm phục vụ. cho ý đồ chính trị lâu dài của chúng. Lực lượng này có bộ phận tập trung hoạt động công khai, có bộ phận bí mật hoạt động ngấm ngầm trong nhân dân để bám giữ Tây Nguyên một cách lâu dài.
Thay chân thực dân Pháp, đế quốc Mỹ càng chú trọng đến địa bàn Tây Nguyên hơn. Chúng cho rằng: muốn chiến thắng ở miền Nam Việt Nam thì phải kiểm soát bằng được Cao nguyên Trung phần. Đế quốc Mỹ dùng chính sách thực dân kiều mới, thông qua bọn tư sản mại bản và phong kiến phản động tay sai để nắm Tây Nguyên.
Về quân sự, dế quốc Mỹ và bọn tay sai muốn biến Tây Nguyên thành tuyến phòng thủ để bảo vệ Dông Dương và là một trung tâm chiến lược nằm trong kế hoạch khống chế toàn bộ vùng Đông - Nam châu Á . Mỹ - ngụy tổ chức các “lực lượng đặc biệt”, biệt kích, đưa lên Tây Nguyên nhiều trung đoàn, sư đoàn, lập các hệ thống chiếm đóng kiên cố, nhiều tuyến, nhiều vòng từ biên giới Lào, Cam-pu-chia đến các trung tâm thị xã, thị trấn để ngăn chặn các cuộc tiến công từ ngoài vào và dàn áp phong trào đấu tranh của các dân tộc. Ngoài việc đầu tư, tăng cường về quân sự, như xây dựng các căn cứ dự trữ lớn, lập đường ống dẫn dầu lên Tây Nguyên, mở rộng các đường chiến lược, nắm chắc và đào tạo các “lực lượng đặc biệt”... đế quốc Mỹ vả bọn tay sai còn ráo riết thi hành chính sách chia để trị bằng mọi thủ đoạn răn đe, mua chuộc hòng thôn tính Tây Nguyên một cách lâu dài.
Cuộc chiến đấu chống xâm lược, giữ vững cao nguyên miền Tây thiêng liêng của Tổ quốc đã diễn ra vô cùng gay go, quyết liệt suốt gần một phần ba thế kỷ. “Hết Pháp đến Mỹ đã ra sức giành giật, bình định Tây Nguyên hòng đè bẹp các lực lượng cách mạng. Nhưng Tây Nguyên đã đứng vững như núi rừng Trường Sơn hùng vĩ. Tây Nguyên luôn luôn gắn bó với cả nước, và cả nước đã kề vai sát cánh với Tây Nguyên chiến đấu lâu dài và anh dũng, biến Tây Nguyên thành một căn cứ địa thần thánh của cuộc kháng chiến ở miền Nam”1 .
Mỗi khi nói đến Tây Nguyên, người ta nghĩ ngay tới những con người thật thà, trung thực, cần cù, thông minh và đầy lòng dũng câm, không hề khuất phục trước thiên nhiên, không quỳ gối trước kẻ thù, có một tâm hồn sôi nổi và phong phú. Các bản trường ca Đam San, Sin Nhã... giàu tính chiến đấu và trữ tình; tiếng đàn tơ-rưng, klông-pút... trầm hùng, giéo giắt như tiếng suối xa, tiếng gió ngàn thủ thỉ; cái không khí hào hùng của những đêm vừa kể “khan” vừa mài gươm giết giặc bên ánh lửa bập bùng; mái nhà Rông cao vút trông xa như một tượng đài chiến thắng vẫy gọi mọi người đấu tranh với thiên nhiên, thú dữ… đã phản ánh một phần tính cách và tâm hồn người Tây Nguyên.
Sống trên địa bàn đất rộng, người thưa, núi rừng hiểm trở ở các dân tộc Tây Nguyên sớm có truyền thống đoàn kết chế ngự, chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm để tồn tại, phát triển. Từ xa xưa, người Tây Nguyên đã có truyền thống thượng võ. Từ cụ già đến em nhỏ đều ưa thích phóng lao, luyện tập cung tên và ở đâu cũng mang theo vũ khí bên người. Săn bắt voi, cưỡi ngựa đuổi thú rừng... đã trở thành tập quán cổ truyền lý thú của nhiều buôn làng. Đồng bào các dân tộc ở dây đều khá thành thạo trong việc gài bẫy, đào hố cắm chông, thò... chống thú dữ phá hoại sản xuất.
Nhân dân Tây Nguyên đã từng nổi dậy mạnh mẽ dưới ngọn cờ của nghĩa quân Tây Sơn, liên kết với đồng bào Kinh ở các tỉnh miền xuôi, hưởng ứng các phong trào Văn Thân, Cần Vương chống xâm lược. Trong những năm sống dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, tiếng sủng cứu nước của nhân dân Tây Nguyên không bao giờ ngừng nổ. Các cuộc đấu tranh chống Pháp cướp đất lập đồn điền, chống sưu thuế, chống đi phu làm đường... đã diễn ra liên tiếp. Nhiều cuộc đấu tranh dã diễn ra quyết liệt: cuộc khởi nghĩa của đồng bào Gia Rai do Pa Tơ Pun lãnh đạo, đã giết chết tên quan cai trị Ô-dăng-đan ngày 7 tháng 4 năm 1904 và cuộc nổi dậy của đồng bào Ba Na chống Pháp cướp đất lập đồn điền ở vùng An Khê. Thực dân Pháp đã phải dùng máy bay ném bom triệt hạ hai làng Đê-ba và Đê-cờ-rúi vào ngày 20 tháng 3 năm 1929. Nhiều nơi, nhân dân dã tự tay châm lửa đốt làng, vào rừng sâu lập căn cứ kháng chiến, quyết không đội trời chung với quân xâm lược.
-------------------------- 1. Trích bài nói của đồng chí Lê Duẩn trong cuộc mít tinh do tinh ủy vả ủy ban nhân dân tinh Đắc Lắc tổ chức ngày 11-4-1978 tại thị xã Buôn Ma Thuột, Báo Nhân Dân số 8731, ngày 23-4-1978. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước« Trả lời #3 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2016, 11:08:47 pm » |
Tiêu biểu cho ý chí bất khuất, quật cường của các dân tộc Tây Nguyên là cuộc khởi nghĩa của A-ma Trang Lơn - người anh hùng đã phất cao ngọn cờ chống thực .dân Pháp khi chúng vừa đặt ách đô hộ trên đất nước ta. Cuộc khởi nghĩa kéo dài suốt 20 năm (1914 - 1934) và lan rộng từ Đắc Lắc đến Lâm Đồng. Bọn thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn đã ra sức dàn áp, nhưng vẫn không dập tắt được tinh thần yêu nước của quần chúng. Đền nay bản anh hùng ca của nghĩa quân vẫn còn vang dội trong lòng nhân dân Tây Nguyên:
Dân Mơ Nông ơi, vùng lên đi! Con gái đánh bằng chày giã gạo Con trai cầm dao găm, giáo mác Tất cả giơ lên như bông lau lách Giết bằng được tên Hăng-ri Mét.
Đó là lời thề chiến đấu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đối với quân xâm lược.
Từ khi ra đời, ánh sáng của Đảng đã chiếu rọi đến rừng núi Tây Nguyên xa xôi, đến với đồng bào các dân tộc qua hình ảnh các chiến sĩ cộng sân ở các nhà lao Công Tum, Đắc Tô, Đắc Lây, Buôn Ma Thuột... Nhờ những tấm gương yêu nước thương nòi, trung thành, bất khuất và vô cùng xúc động ấy mà đồng bào Tây Nguyên sớm có niềm tin ở Đảng, ở cách mạng. Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, những hiểu biết và niềm tin về Đảng đã được biểu hiện tập trung vào Bók Hồ kính yêu. Những tiếng “muối Bók Hồ”, “chữ Bók Hồ”, “bộ dội Bók Hồ”... đã trở nên gắn bó, sâu nặng biết bao trong lòng người Tây Nguyên.
Chính sách đại đoàn kết dân tộc đúng đắn của Đảng, sự quan tâm săn sóc của Bác Hồ và của Chính phủ đã đáp ứng nguyện vọng sâu xa từ bao đời nay của các dân tộc sống trên dải đất cao nguyên miền Tây xa xôi của Tổ quốc. Chính sách đoàn kết, tôn trọng và bình đẳng giữa các dân tộc đã làm khơi dậy những truyền thống tốt đẹp, đã tập hợp và phát huy cao độ sức mạnh to lớn của các dân tộc Tây Nguyên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Hoảng sợ trước sức mạnh đoàn kết chiến đấu của nhan dân Tây Nguyên, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã dùng mọi thủ đoạn thâm độc nhằm chia rẽ Kinh - Thượng, gây hận thù giữa các dân tộc để dễ bề thống trị. Song chúng đã bị thất bại. Khối đoàn kết keo sơn giữa các dân tộc Tây Nguyên vẫn vững bền như dải Trưởng Sơn muôn đời của Tổ quốc.
Thấm nhuần chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, khắp buôn làng, rừng núi Tây Nguyên đã anh dũng đứng dậy cùng cả nước đánh giặc suốt hai cuộc kháng chiến. Bằng các loại vũ khí thô sơ: chông, thò, cạm bẫy kết hợp với vũ khí được trang bị và với cách đánh thông minh, độc đáo, nhân dân Tây Nguyên đã lập nên những làng chiến đấu anh hùng, những căn cứ du kích bất khả xâm phạm như Xi-tơ, Xốp-dui, xã Gào, xã B5, Đắc Uy, Khuê Ngọc Điền - những pháo đài của lòng yêu nước mà không một thứ vũ khí nào của giặc Pháp, giặc Mỹ có thè đè bẹp nổi.
Những con đường chiến lược 14, 19..., những đỉnh đèo An Khê. Măng Giang, những thung lũng Ia Đrăng, Sa Thấy, những cánh rừng Plâỵ Me, Đức Cơ, những vùng núi Chư Pa. Đắc Tô và biết bao địa danh khác ở Tây Nguyên đã trở thành tên của những chiến công bất diệt. Chiến thắng Buôn Ma Thuột (3-1975) mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một khúc ca hùng tráng, mở màn cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước cửa nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.
Nhân dân Tây Nguyên chẳng những cầm vũ khí phối hợp với bộ đội đánh giặc giữ làng, mà còn tích cực sân xuất lương thực nuôi cán bộ, bộ đội, đi dân công cáng thương, gùi đạn, đào hầm đắp ụ, cung cấp tình hình địch và dẫn đường cho bộ đội... “Làm Cách mạng”, ba tiếng thiêng liêng và quen thuộc ấy đã trở thành nguyện vọng, niềm tự hào và là nghĩa vụ chung của mọi người dân, không phân biệt gái trai, lớn nhỏ. Dù đói cơm, nhạt muối, gian khổ, ác liệt đến đâu, đồng bào vẫn một lòng trung thành với cách mạng, luôn luôn lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng.
Những ai dã từng sống và chiến dầu ở Tây Nguyên trong những tháng năm gian khổ sẽ còn mãi mãi mang theo trọn cuộc đời mình những kỷ niệm sâu sắc về nghĩa tình quân dân cá nước. Có người con gái Gia Rai đã nghiến răng tự cắt tay mình cho bật máu, kiếm cớ vào đồn giặc xin bông băng về cứu chữa cho thương binh dưới hầm bí mật. Biết bao dồng chi thân yêu từ mọi miền của đất nước đã ngã xuống được mồ yên mả đẹp nhờ bàn tay vun đắp và tấm lòng che chở nâng niu của đồng bảo các dân tộc.
Trong cuộc chiến đấu lâu dài và anh dũng, nhiều người con ưu tú của các dân tộc Tây Nguyên đã trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân : Anh hùng Núp, Kpa Kơ-lơn. A Xâu, Y Buông...
Kiên cường, bất khuất trước quân thù, thủy chung son ắt với cách mạng. tin yêu Đảng, tôn kính Bók Hồ, săn sàng hy sinh tất cả đề giành độc lập, tự do đã trở thành phẩn chất tốt đẹp của đồng bào các dân tộc. Tây Nguyên luôn luôn xứng dáng với niềm tin yêu của Tổ quốc.
Khi còn sống, Bác Hồ vô cùng thương nhớ Tây Nguyên! Trung ương Đảng. Chính phủ và nhân dân cả nước đánh giá cao sự hy sinh không bờ bến và lòng dũng cảm tuyệt vời của đồng bào Tây Nguyên… Tổ quốc ta, nhân dân ta và các thế hệ mai sau đời đời biết ơn các liệt sĩ từ khắp mọi miền đất nước đã ngã xuống trên chiến trường Tây Nguyên, mãi mãi ghi nhớ công lao của đồng bào các dân tộc... đã cùng cả nước viết nên những trang sử chói ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam”1 .
Truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, thế trận chiến tranh nhân dân vĩ đại cùng với vị trí địa lý quan trọng của Tây Nguyên là những điều kiện rất thuận lợi để lực lượng vũ trang cách mạng không ngừng lớn mạnh và cuối cùng đã hoàn thành trách nhiệm lịch sử mà Tổ quốc giao phó: giải phóng Tây Nguyên, góp phần cùng cả nước đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng. |
|
|