Lưu Văn Hoàng
liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, người lính trẻ để lại những trang nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” rất xúc động.
liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc. Anh sinh ngày 14/10/1952 tại làng Bưởi, Hà Nội, nhập ngũ năm 1971 và hy sinh ngày 30/7/1972 tại chiến trường Quảng Trị khi chưa tròn 20 tuổi; những trang nhật ký của anh sau này được biết đến rộng rãi qua cuốn “Mãi mãi tuổi hai mươi”.
Mãi mãi tuổi hai mươi
Có những tuổi hai mươi đi qua đời người như một mùa hoa lặng lẽ. Nhưng cũng có những tuổi hai mươi đã hóa thành bất tử, bởi tuổi trẻ ấy không chỉ sống cho riêng mình, mà đã hòa vào vận mệnh của Tổ quốc, vào tiếng gọi thiêng liêng của non sông trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt.
Nguyễn Văn Thạc là một người trẻ như thế.
Anh sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nơi có những con đường rợp bóng cây, có mùa thu dịu nhẹ, có tiếng ve mùa hạ, có mái trường, trang sách và những ước mơ trong trẻo của tuổi học trò. Nguyễn Văn Thạc là một thanh niên thông minh, giàu cảm xúc, yêu văn chương, yêu cuộc sống và có một tâm hồn rất đẹp. Trong những trang viết của mình, anh hiện lên không chỉ là một người lính, mà còn là một chàng trai biết rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, biết nhớ thương gia đình, bè bạn, biết nghĩ về tình yêu, về tương lai, về trách nhiệm của tuổi trẻ trước đất nước.
Tuổi hai mươi của anh lẽ ra có thể tiếp tục bên giảng đường, bên những trang sách, bên những mùa hoa Hà Nội. Anh lẽ ra có thể sống một tuổi trẻ bình yên như bao người vẫn mơ ước. Nhưng đất nước khi ấy chưa bình yên. Miền Nam còn khói lửa. Quảng Trị, Trường Sơn, những chiến trường xa vẫn ngày đêm gọi tên lớp lớp thanh niên lên đường.
Và Nguyễn Văn Thạc đã chọn ra trận.
Anh gác lại những ước mơ riêng. Gác lại những ngày tháng sinh viên. Gác lại tình yêu đầu đời và những điều rất đỗi dịu dàng của tuổi trẻ để khoác lên mình màu áo lính. Ngày nhập ngũ, có lẽ trong lòng anh cũng có biết bao bâng khuâng. Bởi người lính ra đi không phải là người không biết nhớ, không biết thương, không biết sợ. Người lính cũng có mẹ cha, có người thân, có những dự định còn dang dở. Nhưng điều làm nên vẻ đẹp của họ là biết đặt Tổ quốc lên trên tất cả.
Trên đường hành quân, Nguyễn Văn Thạc mang theo trong ba lô không chỉ là quân trang, mà còn là một cuốn nhật ký. Giữa những ngày huấn luyện gian khổ, giữa những đêm dài hành quân, giữa bom đạn và thiếu thốn, anh vẫn viết. Anh viết về đồng đội. Viết về nỗi nhớ Hà Nội. Viết về những rung động rất thật của một trái tim tuổi hai mươi. Viết về lý tưởng, về niềm tin, về khát vọng được sống xứng đáng với thế hệ mình.
Những trang nhật ký ấy không có vẻ khô cứng của khẩu hiệu. Nó là tiếng nói chân thành của một người trẻ đang đi qua chiến tranh bằng tất cả sự trong sáng và tự nguyện. Đọc những dòng viết ấy, ta thấy một Nguyễn Văn Thạc rất đời thường: có lúc nhớ nhà, có lúc buồn, có lúc tự vấn chính mình, có lúc khao khát được yêu thương. Nhưng vượt lên trên tất cả là một tinh thần đẹp đẽ: sống phải có ích, tuổi trẻ phải biết cống hiến, con người phải biết đi về phía điều cao cả.
Rồi anh vào chiến trường Quảng Trị.
Nơi ấy, mùa hè năm 1972 là một trong những vùng đất khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Bom đạn cày xới từng tấc đất. Nhiều người lính trẻ đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất xanh. Có người chưa kịp viết thư về nhà. Có người chưa kịp gọi tên mẹ lần cuối. Có người mãi mãi nằm lại bên dòng sông, bờ ruộng, con đường, chiến hào mà không kịp thấy ngày đất nước thống nhất.
Nguyễn Văn Thạc cũng nằm trong thế hệ ấy.
Anh hy sinh ngày 30 tháng 7 năm 1972 tại chiến trường Quảng Trị. Khi ấy, anh chưa tròn hai mươi tuổi. Một tuổi đời quá trẻ. Một tâm hồn còn quá nhiều ước mơ. Một cuốn nhật ký còn nhiều trang chưa viết tiếp. Một tình yêu, một tương lai, một đời người đang rộng mở bỗng dừng lại giữa khói lửa chiến tranh.
Nhưng có những con người khi ngã xuống lại không hề mất đi.
Nguyễn Văn Thạc đã ra đi, nhưng những trang nhật ký của anh còn ở lại. Những dòng chữ ấy giống như một ngọn đèn nhỏ được thắp lên từ chiến trường, soi vào tâm hồn bao thế hệ hôm nay. Qua đó, chúng ta hiểu hơn rằng những người lính năm xưa không phải là những tượng đài xa cách. Họ cũng từng là những học sinh, sinh viên, những chàng trai cô gái biết yêu, biết mơ, biết nhớ, biết đau. Chính vì yêu cuộc sống tha thiết nên họ mới sẵn sàng hy sinh để bảo vệ cuộc sống ấy cho Nhân dân, cho đất nước.
Câu chuyện về Nguyễn Văn Thạc khiến người đọc xúc động bởi vẻ đẹp rất trong trẻo của tuổi trẻ Việt Nam thời chiến. Anh không chỉ để lại hình ảnh một người lính ngã xuống nơi chiến trường, mà còn để lại chân dung một thế hệ: thế hệ biết sống có lý tưởng, biết đặt câu hỏi về ý nghĩa đời mình, biết biến tình yêu Tổ quốc thành hành động cụ thể.
Hôm nay, đất nước đã hòa bình. Những người trẻ không còn phải rời giảng đường để bước ngay vào chiến trường như Nguyễn Văn Thạc năm xưa. Nhưng câu chuyện của anh vẫn còn nguyên giá trị. Nó nhắc chúng ta rằng tuổi trẻ không nên sống hời hợt, không nên để tháng năm trôi qua trong vô nghĩa. Tuổi trẻ cần có ước mơ, có trách nhiệm, có lòng nhân ái, có khát vọng cống hiến và có bản lĩnh trước khó khăn.
Noi gương Nguyễn Văn Thạc hôm nay không phải là đi vào bom đạn, mà là học tập nghiêm túc, lao động sáng tạo, sống trung thực, biết yêu thương gia đình, quê hương, biết làm những việc tốt cho cộng đồng và biết giữ cho trái tim mình luôn hướng về những điều đẹp đẽ.
Nguyễn Văn Thạc đã dừng lại ở tuổi hai mươi.
Nhưng cũng chính vì thế, anh mãi mãi trẻ trung trong ký ức dân tộc.
Mãi mãi là người lính trẻ của Quảng Trị.
Mãi mãi là chàng trai Hà Nội mang theo trang nhật ký ra chiến trường.
Mãi mãi là một ngọn lửa trong lòng tuổi trẻ Việt Nam.
Giữa thời hoa lửa, có một người lính đã viết đời mình bằng những dòng nhật ký trong sáng và bằng sự hy sinh lặng lẽ. Người lính ấy mang tên Nguyễn Văn Thạc — người đã sống một tuổi hai mươi ngắn ngủi, nhưng đẹp đến vô cùng.



