LŨY PHÁO ĐÀI TÂN PHÚ ĐÔNG - BẢN HÙNG CA KIÊN TRUNG NƠI CỬA BIỂN
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu từng căn dặn:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.”
Lời dạy sâu sắc của Người không chỉ là lời nhắc nhở về cội nguồn, mà còn là hồi kèn thúc giục niềm tự hào tự tôn dân tộc trong lòng mỗi thế hệ. Hai tiếng “Việt Nam” thiêng liêng ấy được kết tinh từ bốn ngàn năm văn hiến, được đánh đổi bằng máu xương và lòng quả cảm của biết bao lớp cha anh đi trước để giữ gìn toàn vẹn từng tấc đất biên cương. Trong dòng chảy lịch sử đầy kiêu hãnh đó, mảnh đất Tân Phú Đông ngày nay (tiền thân là vùng đất Phú Tân, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xưa) đã ghi dấu những trang sử vàng oanh liệt của nghĩa quân chống thực dân Pháp xâm lược dưới ngọn cờ đại nghĩa của Anh hùng dân tộc Bình Tây Đại Nguyên soái Trương Định. Giữa vùng đất cuối nguồn sông Tiền lộng gió, Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia Lũy Pháo Đài sừng sững hiện lên như một tượng đài bất tử của tinh thần yêu nước và ý chí bất khuất của nhân dân Nam Bộ.
Trong hệ thống di sản lịch sử phong phú của vùng đất duyên hải, Lũy Pháo Đài giữ một vị trí đặc biệt tôn nghiêm, gắn liền với quần thể các khu di tích khởi nghĩa Trương Định - phong trào vũ trang đã làm rung chuyển bộ máy cai trị của thực dân Pháp những năm đầu chúng đặt chân xâm lược nước ta. Di tích tọa lạc tại vị trí chiến lược gần bờ sông Cửa Tiểu (thuộc ấp Pháo Đài, xã Tân Phú Đông ngày nay). Địa thế sông nước hiểm yếu này không chỉ thuận lợi cho việc giao thông, tham quan về nguồn bằng cả đường thủy lẫn đường bộ, mà năm xưa, đây chính là “yết hầu” phòng thủ quân sự quan trọng bậc nhất của cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo các nguồn tư liệu chính luận của Tiến sĩ Nguyễn Phúc Nghiệp (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang), lịch sử của Lũy Pháo Đài gắn liền với dòng chảy thăng trầm của công cuộc phòng thủ đất nước dưới triều Nguyễn. Để bảo vệ cửa biển Cửa Tiểu trước các mối nguy xâm lấn, năm Minh Mạng thứ 15 (1834), Triều đình nhà Nguyễn đã cho xây dựng tại đây một công sự phòng thủ kiên cố mang tên Đồn Từ Linh. Đồn được đắp bằng đất bám theo địa hình, chu vi khoảng 60 trượng (378 m), cao 05 thước 05 tấc (2,57 m) và mở hai cửa thông thương. Vào các năm Thiệu Trị thứ 3 và thứ 7 (1843 – 1847), công trình tiếp tục được gia cố, sửa chữa lại nhằm tăng cường hỏa lực phòng duyên.
Tuy nhiên, Đồn Từ Linh chỉ thực sự đi vào huyền thoại hào hùng và trở thành chứng nhân bất tử kể từ khi thành Định Tường thất thủ vào tháng 4 năm 1861. Trước thế giặc mạnh, Anh hùng dân tộc Trương Định đã khôn khéo rút quân về vùng Tân Hòa xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài. Nhận thấy tầm nhìn chiến lược của Đồn Từ Linh trong việc kiểm soát cửa biển, ông đã tiếp quản và cải biến nơi đây thành một chiến lũy quân sự vững chắc, trang bị hệ thống súng thần công cỡ lớn hướng ra biển, từ đó công trình mang tên gọi lịch sử: Chiến lũy Pháo Đài. Vị trí đặt các khẩu thần công năm xưa nằm hiên ngang hướng ra ngã ba rạch Đồn và sông Cửa Tiểu, sẵn sàng giáng đòn sấm sét vào tàu chiến tinh nhuệ của quân xâm lược Pháp.
Về mặt kiến trúc quân sự, Lũy Pháo Đài là một công trình sáng tạo độc đáo của cha ông ta. Bờ thành đất được đắp cao và dày theo hình lục lăng (lục giác) với 6 cạnh cân đối khá đều nhau. Trên mặt thành đất, nghĩa quân cho trồng me ken dày để giữ đất; chính giữa lõi lòng đồn là giếng nước ngọt và cây trôm cổ thụ che bóng mát cho binh sĩ bám trụ. Hướng Đông - Nam của Pháo Đài nổi bật với gò Thổ Sơn - một gò đất tròn cao đến 21m, đường kính khoảng 15-20m, giữ vai trò làm đài quan sát tầm xa giúp nghĩa quân chủ động nắm bắt mọi di biến động của tàu giặc từ ngoài khơi xa.
Bao bọc xung quanh chiến lũy là một hệ thống phòng thủ tự nhiên kiên cố bằng những cánh rừng kè, đước, dừa nước, bần và chà là gai chằng chịt, ngăn chặn mọi ý đồ đổ bộ ủi bãi xung phong của bộ binh địch. Đặc biệt, để tối ưu hóa sức mạnh của hỏa lực thần công, Trương Định đã nương theo lòng sông Cửa Tiểu (thời bấy giờ hẹp hơn hiện tại) chỉ đạo quân dân đổ đá hàn ngang dòng nước tạo nên công trình Đập Đá Hàn ở hướng Tây của chiến lũy. Con đập này là một nét tài tình trong nghệ thuật quân sự: nó vừa làm giảm tốc độ tiến quân của tàu chiến Pháp, vừa ép tàu địch dạt sang bờ Trại Cá, biến chúng thành những chiếc bia cố định cho pháo binh của nghĩa quân tiêu diệt. Chống chọi giữa mưa bom bão đạn, Chiến lũy Pháo Đài đã cùng nghĩa quân kiên cường trấn giữ một cửa ngõ huyết mạch, khẳng định tầm nhìn chiến lược vĩ đại của cha ông ta trong công cuộc bảo vệ vùng trời, vùng biển quê hương.
Gần hai thế kỷ trôi qua, dấu tích hoa lửa năm xưa vẫn âm thầm sống mãi trong lòng đất mẹ. Một minh chứng xúc động diễn ra trong quá trình thi công làm đường vào khu di tích sau này, gàu múc của chiếc xe Kobe ở độ sâu khoảng 1,4 m tại hướng Đông (hướng quay ra biển) dưới chân đồn Lũy đã đào lên được 2 viên gạch cổ có kết cấu lạ lùng. Hai viên gạch ấy đã được trân trọng trao tặng cho Bảo tàng tỉnh để lưu giữ. Sự xuất hiện của báu vật cổ xưa này như một tiếng vọng thiêng liêng từ quá khứ, chứng minh cho một thời kỳ chiến đấu bi tráng, kiên cường của quân và dân ta trên mảnh đất này.
Ghi nhận những giá trị lịch sử to lớn và ý nghĩa đặc biệt của chiến lũy nơi cửa biển phương Nam, năm 1987, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã chính thức công nhận Lũy Pháo Đài là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia. Đây không chỉ là sự ghi nhận về mặt pháp lý đối với một công trình quân sự cổ, mà còn là sự tôn vinh đối với tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất và khí phách kiên cường của nghĩa quân Trương Định cùng nhân dân vùng Gò Công - Tân Phú Đông trong những năm tháng chống ngoại xâm đầy bi tráng.
Đến năm 2000, Nhà bia di tích được đầu tư xây dựng khang trang, trang nghiêm giữa không gian lộng gió bên dòng Cửa Tiểu. Công trình cao 9,4m, diện tích 84m², mang kiến trúc mái ngói cổ kính kết hợp cùng những hàng cột bê tông vững chãi, nền được tôn cao hơn mặt đất 02m như biểu tượng cho sự trường tồn của lịch sử và khí phách dân tộc. Cũng tại nơi đây, hai khẩu súng thần công cổ đã được phục chế, hướng thẳng ra cửa biển như vẫn ngày đêm canh giữ non sông, gợi nhắc về một thời kỳ “gươm súng chưa nguôi hồn giữ nước”.
Đặc biệt, ngày 18/7/2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 694/QĐ-TTg công nhận Di tích lịch sử Các địa điểm Khởi nghĩa Trương Định tại thị xã Gò Công, huyện Gò Công Đông và huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang là Di tích quốc gia đặc biệt. Sự kiện ấy không chỉ khẳng định giá trị to lớn của phong trào kháng Pháp do Anh hùng dân tộc Trương Định lãnh đạo, mà còn tiếp tục khắc sâu vị trí thiêng liêng của Lũy Pháo Đài trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam.
Ngày nay, Lũy Pháo Đài không chỉ là một di tích lịch sử đơn thuần, mà đã trở thành một không gian văn hóa – giáo dục truyền thống giàu ý nghĩa; một “địa chỉ đỏ” thiêng liêng để các thế hệ đoàn viên, thanh niên và nhân dân tìm về tri ân tiền nhân, hun đúc lòng yêu nước, bồi đắp lý tưởng sống và khơi dậy khát vọng dựng xây quê hương giàu đẹp. Giữa tiếng sóng Cửa Tiểu vẫn ngày đêm vọng về từ biển lớn, Lũy Pháo Đài hôm nay như một tượng đài bất tử của lòng dân, của tinh thần giữ nước và của khí phách Việt Nam muôn đời không khuất phục.
Đối với tuổi trẻ đoàn viên, thanh niên xã Tân Phú Đông hôm nay, Lũy Pháo Đài không chỉ là một danh thắng lịch sử rêu phong, mà là ngọn lửa thiêng sưởi ấm lý tưởng sống, nhắc nhở về bài học lập thân, lập nghiệp sâu sắc: “Làm chính trị cốt ở lòng dân”. Nếu cha ông năm xưa đã dùng máu xương, đất đá để đắp lũy giữ đất, giữ biển, thì thế hệ trẻ ngày nay phải lấy tri thức, khoa học công nghệ làm vũ khí để dựng xây quê hương. Tuổi trẻ xã nhà nguyện ra sức học tập, phát huy tinh thần xung kích, đi đầu trong chuyển đổi số, cải cách hành chính cấp cơ sở và giữ gìn an ninh trật tự địa bàn, biến khát vọng và tinh thần phụng sự nhân dân thành những hành động thiết thực, đưa quê hương Tân Phú Đông ngày càng giàu mạnh, văn minh, trường tồn cùng đất nước./.


