Bài viết

Lý Thái Tông

Lý Thái Tông (chữ Hán: 李太宗 29 tháng 7 năm 1000 – 3 tháng 11 năm 1054) là vị hoàng đế thứ hai của triều đại nhà Lý trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì đất nước trong 27 năm, từ 1028 đến khi qua đời vào năm 1054. Ông được đánh giá là một vị hoàng đế tài giỏi, thời đại của ông, con ông là Lý Thánh Tông, cháu ông là Lý Nhân Tông được xem là thời thịnh vượng của nhà Lý, sử gọi thời kỳ này là Bách niên Thịnh thế (百年盛世).

An Giang07/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

"Hoàng đế Thái Tông được mô tả là uy dũng hơn người, từ khi còn là thái tử thì đã quen việc chiến chinh, trải qua loạn tam vương mà lên ngôi, khi trị vì thì anh minh, sáng suốt, bách chiến bách thắng, công danh rạng rỡ triều Lý, làm tiền đề cho các đời sau phát triển phồn thịnh. Vua củng cố quyền lực cho nhà Lý, trong nước thì dùng chính sách hòa thân - gả công chúa cho các quan Châu mục để giữ tình hòa hiếu, đồng thời dẹp loạn đảng Nùng Trí Cao và các cuộc nội loạn khác; bên ngoài thì chinh phạt Chiêm Thành, Ai Lao. Đối với quần thần, vua thường tỏ ra nhân từ, như việc không xử tội các vương làm loạn trong loạn tam vương mà còn phục chức, lại thưởng phạt bề tôi phân minh. Đối với nhân dân, vua luôn chăm lo đời sống nhân dân, khuyến khích sản xuất nông nghiệp, nhiều lần miễn thuế cho dân, ban hành bộ luật Hình thư cùng nhiều điều luật khác giúp ổn định trật tự xã hội, lại cho xây dựng nhiều công trình đền, chùa giúp Phật giáo hưng thịnh. Đối với kẻ thù bại trận như Chiêm Thành, vua lại còn mở đức hiếu sinh, nghiêm cấm binh lính tàn sát bừa bãi. Sử gia đánh giá ông như Hán Quang Vũ Đế đánh đâu được đấy, công tích đánh dẹp uy nghi, công sức giúp ổn định tình hình biên cương loạn lạc còn vượt hơn cả Đường Thái Tông.

Tuy vua có phần quá sùng đạo Phật, với kẻ phản nghịch thì có lúc lại nhân từ quá độ, nhưng sử gia hậu thế như Ngô Sĩ Liên lại cho rằng đấy chính là đức để truyền lâu dài cho hậu thế. Các sử gia hậu thế cũng lấy việc vua hay khoe khoang thái quá để chê trách ông ""chưa hiền"".

Lý Thái Tông tên khai sinh là Lý Phật Mã (李佛瑪), còn có tên khác là Lý Đức Chính (李德政), là đích trưởng tử của Lý Thái Tổ. Ông sinh vào ngày 29 tháng 7 năm 1000 (âm lịch 26 tháng 6 âm lịch năm Canh Tý) vào niên hiệu Ứng Thiên thứ 7, ở phủ Trường Yên tại kinh đô Hoa Lư, Ninh Bình, lúc này Lý Thái Tổ vẫn còn làm quan dưới triều nhà Tiền Lê.

Về mẹ của vua, trong chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư viết:

Về sau, các nhà nghiên cứu lịch sử dựa theo các thần tích, thần phả Hán Nôm ở khu vực Cố đô Hoa Lư khẳng định mẹ Lý Phật Mã là Lê Thị Phất Ngân, con gái vua Lê Đại Hành và hoàng hậu Dương Vân Nga. Như vậy, ông chính là cháu ngoại của Lê Đại Hành và Dương Vân Nga.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, khi hoàng tử Phật Mã mới sinh, ở phủ Trường Yên có con trâu của nhà dân tự nhiên thay sừng khác, người có trâu ấy cho là điềm không lành, lấy làm lo ngại. Có người giỏi chiêm tinh, bói toán đi qua nhà người ấy cười mà nói rằng: ""Đó là điềm đổi mới thôi, can dự gì đến nhà anh"" thì người ấy mới hết lo. Việt sử lược lại chép thêm rằng người bói toán này còn nói rằng đây là điềm năm Sửu sinh người làm thiên tử. Tuy nhiên, hoàng tử phật Mã lại sinh năm Tý. Tương truyền thuở nhỏ ông đã có 7 nốt ruồi sau gáy như chòm sao thất tinh (sao Bắc Đẩu).

Khi còn nhỏ, cùng bọn trẻ con chơi đùa, Lý Phật Mã đã có thể sai bảo được chúng, bắt chúng đi dàn hầu trước sau và hai bên như nghi vệ các quan theo hầu thiên tử. Lý Công uẩn, lúc bấy giờ vẫn còn làm tướng triều Lê, thấy thế vui lòng, nhân nói đùa rằng: ""Con nhà tướng nên bắt chước việc quân, cần gì phải kẻ rước người hầu?"", Phật Mã tuy còn ít tuổi nhưng trả lời ngay rằng: ""Kẻ rước người hầu thì có xa lạ gì với con nhà tướng? Nếu xa lạ thì sao ngôi vị không ở mãi họ Đinh mà lại về họ Lê, đều do mệnh trời thôi"". Lý Công Uẩn lấy chuyện ấy làm kinh lạ, từ đấy càng yêu quý hơn.

Cuối năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua, tức vua Lý Thái Tổ, chính thức lập ra nhà Lý. Vua cha lập con trưởng Lý Phật Mã làm Đông cung Thái tử. Năm 1010, khi hoàng tử Phật Mã đã lên 10 tuổi, triều đình nhà Lý dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội ngày nay).

Năm 13 tuổi (1012), thái tử được phong hiệu là Khai Thiên vương (開天王), lập phủ ở ngoài nội cung để được làm quen với các quan lại và dân chúng. Trong thời gian làm Thái tử, ông nhiều lần được cử làm tướng cầm quân đi dẹp loạn và đều lập được công.

Năm 1019, thái tử được trao quyền Nguyên soái, cầm quân vào nam đánh Chiêm Thành ở trại Bố Chính. Khi đại quân vượt biển, đến núi Long Tỵ, có rồng vàng hiện ra trên thuyền ngự, ông đi đến đỡ lấy rồng. Trận này quân nhà Lý thắng lớn, chém được tướng Chiêm, người Chiêm chết đến quá nửa.

Năm 1024, thái tử cầm quân đi đánh Phong châu. Năm 1025, ông đi đánh Diễn châu, lập được công lao hiển hách, Thái Tổ Hoàng đế rất hài lòng.

Năm 1027, thái tử lên phía bắc đánh châu Thất Nguyên (Lạng Sơn). Cùng năm ấy, ông ban áo ngự cho một đạo sĩ tên Trần Tuệ Long (陳慧隆) ở quán Nam Đế quán. Đêm ấy có ánh sáng hiện lên khắp quán, Tuệ Long hoảng hồn dậy thì thấy rồng vàng ở trên mắc áo. Mọi người đều cho rằng đấy là mệnh trời, thái tử Lý Phật Mã quả đúng là mang mệnh thiên tử."

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn