Lý Thường Kiệt- anh hùng dân tộc

Lý Thường Kiệt (1019 – 1105). Ông vốn họ Ngô, tên Tuấn, tự là Thường Kiệt, quê ở làng An Xá, huyện Quảng Đức (nay làng Cơ Xá, Gia Lâm, Hà Nội). Sau ông cùng gia đình sang ở tại phường Thái Hòa, huyện Thọ Xương, thành Thăng Long nay là Hà Nội. Ông là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, cháu 5 đời của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập- Hoàng tử trưởng của Tiền Ngô Vương Ngô Quyền
Đầu năm 1072, Lý Thánh Tông mất, Thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên nối ngôi đó là vua Lý Nhân Tông, Hoàng Thái hậu Thượng Dương và sau đó là Linh Nhân Hoàng Thái hậu Ỷ Lan buông rèm nghe chính. Lý Thường Kiệt cầm giữ binh quyền phò giúp vua nhỏ tuổi.
Để lo đối phó với âm mưu xâm lược của quân Tống, Lý Thường Kiệt tìm cách ổn định tình hình trong nước, đặc biệt là củng cố sự đoàn kết trong nội bộ triều đình. Ông cho mời Lý Đạo Thành trở lại triều chính giữ chức Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự, trông coi việc chính trị và nội trị.
Lúc này, ý đồ xâm lược của phong kiến nhà Tống đối với Đại Việt ngày càng rõ rệt và trắng trợn. Triều đình nhà Tống ra sức biến Ung Châu, các cửa biển Khâm Châu, Liên Châu (Quảng Đông) và các trại biên giới thành những khu căn cứ quân sự và hậu cần làm bàn đạp tiến công Đại Việt. Biết trước được âm mưu xâm lược từ phương Bắc, Lý Thường Kiệt chủ trương đối phó một cách chủ động và quyết liệt. Ông thường nói: “Nếu ngồi yên đợi giặc thì chi bằng đem quan ra trước để chặn mũi nhọn của giặc”. Đó là tư tưởng chiến lược khá độc đáo và sáng tạo “Tiến công trước để tự vệ”. Thực hiện chủ trương này, ngày 27 tháng 10 năm 1075 cuộc tiến công của quân đội Đại Việt vào các căn cứ của quân Tống ở vùng biên giới bắt đầu.
Với lực lượng 10 vạn quân, sau 42 ngày đêm công phá dữ dội đầy mưu trí và quả cảm, quân đội của Lý Thường Kiệt đã chiếm được Ung Châu. Sau khi đã phá thành Ung Châu, tiêu hủy những phương tiện chiến tranh của quân Tống, Lý Thường Kiệt đưa đại quân về nước rồi ra sức chuẩn bị kháng chiến. Quân đội được ông tổ chức lại và luyện tập thường xuyên, tăng cường điều tra tình hình giặc, xây dựng phòng tuyến ở phía bắc Kinh thành Thăng Long để chặn giặc – lịch sử vẫn gọi là phòng tuyến sông Cầu.



