Bài viết

Lý Thường Kiệt- anh hùng dân tộc

Hưng Yên20/11/2025Trần ĐĂng Tuấn (đoàn xã hưng hà)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Lý Thường Kiệt- anh hùng dân tộc

Lý Thường Kiệt (1019 – 1105). Ông vốn họ Ngô, tên Tuấn, tự là Thường Kiệt, quê ở làng An Xá, huyện Quảng Đức (nay làng Cơ Xá, Gia Lâm, Hà Nội). Sau ông cùng gia đình sang ở tại phường Thái Hòa, huyện Thọ Xương, thành Thăng Long nay là Hà Nội. Ông là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, cháu 5 đời của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập- Hoàng tử trưởng của Tiền Ngô Vương Ngô Quyền

Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống học hành và làm quan. Thuở nhỏ ông rất thông minh, chăm đọc sách binh thư, chăm luyện tập võ nghệ. Năm ông 13 tuổi (1031) thì người cha của ông đi tuần vùng biên giới Thanh Hoa bị bệnh và mất. Năm 18 tuổi (1036) mẹ của ông cũng qua đời. Khi hết tang, ông được Triều đình bổ vào chức Kỵ mã hiệu úy (một chức quan võ nhỏ trong đội quân cưỡi ngựa của triều đình).Năm 23 tuổi (1041), vì có vẻ mặt tươi đẹp, vóc người khỏe mạnh cân đối ông được bổ vào ngạch Quân thị (Hoàng môn chi hậu). Vì yêu mến tài năng và đức hạnh của ông, Vua Lý Thái Tổ nhận ông làm con nuôi, từ đó tên ông được đổi thành là Lý Thường Kiệt. Hằng ngày ông ở bên Vua, giúp Vua rất nhiều việc. Việc nào tốt thì ông hiến tâu,việc nào xấu thì ông can ngăn. Thời gian sau ông được thăng lên chức Đô tri Nội thị sảnh. Vì có nhiều công lao đó đến khi Lý Thánh Tông lên ngôi, ông được phong chức Thái Bảo và được trao cho Tiết việt (cờ tiết và búa phủ Việt - tượng trưng cho quyền thay mặt vua xử lý các công việc ở bên ngoài).Năm 1069, để dẹp yên biên giới phía Nam, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống, vua Lý Thánh Tông và Lý Thường Kiệt chủ trương phát quân đi đánh Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt được cử làm Nguyên soái, lĩnh ấn tiên phong đem theo 5 vạn quân và vài trăm chiến thuyền tiến vào phương nam. Quân đội do Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy đã thu được thắng lợi to lớn, bắt sống được chúa nước Chiêm là Chế Củ. Vì có công lớn lên Lý Thường Kiệt được thăng chức Thái Phó, tước khai Quốc công, Lý Thường Kiệt trở thành một vị tướng đánh đông dẹp bắc, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc dưới thời Lý, khi đó Lý Thường Kiệt 51 tuổi. Ít lâu sau ông được Triều đình trao chức Thái úy, tổng chỉ huy quân đội. Cùng với Thái sư Lý Đạo Thành, ông ra sức giúp Vua xây dựng nước Đại Việt thành một quốc cường thịnh và văn hiến.

Đầu năm 1072, Lý Thánh Tông mất, Thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên nối ngôi đó là vua Lý Nhân Tông, Hoàng Thái hậu Thượng Dương và sau đó là Linh Nhân Hoàng Thái hậu Ỷ Lan buông rèm nghe chính. Lý Thường Kiệt cầm giữ binh quyền phò giúp vua nhỏ tuổi.

Để lo đối phó với âm mưu xâm lược của quân Tống, Lý Thường Kiệt tìm cách ổn định tình hình trong nước, đặc biệt là củng cố sự đoàn kết trong nội bộ triều đình. Ông cho mời Lý Đạo Thành trở lại triều chính giữ chức Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự, trông coi việc chính trị và nội trị.

Lúc này, ý đồ xâm lược của phong kiến nhà Tống đối với Đại Việt ngày càng rõ rệt và trắng trợn. Triều đình nhà Tống ra sức biến Ung Châu, các cửa biển Khâm Châu, Liên Châu (Quảng Đông) và các trại biên giới thành những khu căn cứ quân sự và hậu cần làm bàn đạp tiến công Đại Việt. Biết trước được âm mưu xâm lược từ phương Bắc, Lý Thường Kiệt chủ trương đối phó một cách chủ động và quyết liệt. Ông thường nói: “Nếu ngồi yên đợi giặc thì chi bằng đem quan ra trước để chặn mũi nhọn của giặc”. Đó là tư tưởng chiến lược khá độc đáo và sáng tạo “Tiến công trước để tự vệ”. Thực hiện chủ trương này, ngày 27 tháng 10 năm 1075 cuộc tiến công của quân đội Đại Việt vào các căn cứ của quân Tống ở vùng biên giới bắt đầu.

Với lực lượng 10 vạn quân, sau 42 ngày đêm công phá dữ dội đầy mưu trí và quả cảm, quân đội của Lý Thường Kiệt đã chiếm được Ung Châu. Sau khi đã phá thành Ung Châu, tiêu hủy những phương tiện chiến tranh của quân Tống, Lý Thường Kiệt đưa đại quân về nước rồi ra sức chuẩn bị kháng chiến. Quân đội được ông tổ chức lại và luyện tập thường xuyên, tăng cường điều tra tình hình giặc, xây dựng phòng tuyến ở phía bắc Kinh thành Thăng Long để chặn giặc – lịch sử vẫn gọi là phòng tuyến sông Cầu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn