Khác

LÝ THƯỜNG KIỆT: NGƯỜI ĐEM QUÂN ĐÁNH SANG ĐẤT TỐNG ĐỂ PHÁ THẾ TRẬN XÂM LƯỢC

Chủ trương tiên phát chế nhân, đánh sang Ung Châu, Khâm Châu trước khi lui về giữ phòng tuyến sông Như Nguyệt.

Hà Nội17/08/2026Đỗ Thị Quỳnh Trang (Đoàn UBND tỉnh)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, sinh năm 1019 tại làng An Xá, thuộc kinh thành Thăng Long (khu vực nay gần phố Cầu Đất, ven Hồ Tây, Hà Nội). Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống, cha là Ngô An Ngữ. Từ nhỏ ông được rèn luyện cả văn lẫn võ, đến khi trưởng thành được tiến cử vào triều, giữ nhiều chức vụ dưới các đời vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và được ban quốc tính họ Lý cùng tên Thường Kiệt.

Năm 1069, ông theo vua Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Chế Củ, buộc Chiêm Thành cắt ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (vùng Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay) dâng cho Đại Việt.

Trước nguy cơ nhà Tống chuẩn bị đại quân xâm lược, cuối năm 1075, Lý Thường Kiệt cùng Tông Đản chủ động đem quân đánh sang đất Tống, phá hủy các căn cứ hậu cần tại Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu (thuộc Quảng Tây, Quảng Đông ngày nay), làm chậm và rối loạn kế hoạch chuẩn bị xâm lược của đối phương. Đây là chiến thuật được ông lý giải bằng nguyên tắc ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân đánh trước để chặn thế mạnh của địch.

Năm 1077, quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy tiến sang xâm lược Đại Việt. Lý Thường Kiệt bố trí phòng tuyến dọc sông Như Nguyệt (sông Cầu ngày nay, đoạn qua Bắc Ninh, Bắc Giang), chặn đứng quân Tống suốt nhiều tháng. Tương truyền tại đây, để khích lệ tinh thần quân sĩ, ông cho người ngâm bài thơ trong đền thờ ban đêm với câu mở đầu "Nam quốc sơn hà Nam đế cư", được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc.

Sau nhiều tháng cầm cự không phá được phòng tuyến, quân Tống suy yếu vì bệnh dịch và thiếu lương. Lý Thường Kiệt chủ động đề nghị giảng hòa, quân Tống rút về nước, giữ được nền độc lập mà không cần kéo dài chiến sự hao tổn thêm cho cả hai bên.

Về cuối đời, Lý Thường Kiệt còn trấn giữ vùng Thanh Hóa nhiều năm, có công trong việc trị thủy, giúp dân khai hoang. Ông mất năm 1105, thọ 86 tuổi. Đền thờ Lý Thường Kiệt hiện có tại nhiều nơi ông từng trấn nhậm, trong đó đền thờ ở phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa vẫn được người dân hương khói, còn tên ông được đặt cho nhiều tuyến phố lớn ở các thành phố trên cả nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn