Lý Thường Kiệt - nhà quân sự kiệt xuất
Cả lịch sử và dân gian đều ghi nhận người viết bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên cho Việt Nam là Lý Thường Kiệt. Với lời thơ đanh thép, “Nam quốc sơn hà” chính thức tuyên bố với tập đoàn phong kiến phương Bắc rằng “Nam Quốc” là một nước độc lập, ngang hàng với quốc gia phương Bắc, nếu xâm phạm bờ cõi nước Nam thì giặc Bắc chỉ có nước thua tơi bời.
Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt, sinh năm 1019, mất năm 1105, thọ 86 tuổi. Ông là người Thăng Long gốc, vốn xuất thân ở làng An Xá, huyện Quảng Đức, sống tại phường Thái Hòa (thuộc khu vực Bách Thảo, Hà Nội hiện nay). Bố ông là Ngô An Ngữ, một quan võ giữ chức Sùng ban Lan tướng vào đầu triều Lý, còn mẹ ông là người họ Hàn. Gia đình sinh được hai con trai là Ngô Tuấn và Ngô Hiến, người em sau này cũng trở thành quan võ và được ban quốc thích tên là Lý Thường Hiến. Năm 13 tuổi Ngô Tuấn mồ côi cha, được gia đình người cô mang về nuôi dạy chu đáo. Vốn là con nhà võ, ông chăm chỉ luyện tập võ nghệ và nổi tiếng văn võ song toàn. Đến năm 18 tuổi, mẹ ông đột ngột qua đời, ông đứng ra lo việc hiếu vẹn toàn nên được hàng xóm ngợi khen là người con chí hiếu.
Năm 20 tuổi, Ngô Tuấn lấy vợ tên là Thuần Khanh. Đến năm 21 tuổi, ông gác tình riêng xin vào đội kỵ binh của nhà vua với mong muốn góp sức bảo vệ bờ cõi và được phong làm Kỵ mã Hiệu úy. Sau 3 năm, vua Lý thấy ông khôi ngô, đĩnh đạc, học rộng hiểu nhiều lại khiêm tốn, thận trọng nên cho vào cung bổ làm thị vệ hầu cận. Do quy định ngặt nghèo thời phong kiến, để nhập cung hầu vua, ông phải tự yếm. Nhờ học rộng tài cao, trung trinh hiếu nghĩa, ông nhanh chóng được vua Lý tin cẩn giao nhiều trọng trách, liên tục thăng quan và được ban quốc thích, lấy tên tự ghép lại thành Lý Thường Kiệt. Công trạng của ông nhiều khó kể xiết, từ dẹp nội loạn tới bình Chiêm, phạt Tống. Trong cuộc bình Chiêm, ông lãnh quân tiên phong truy bắt vua Chế Củ, buộc vua Chiêm hàng và dâng 3 châu. Khi nhà Tống nhăm nhe xâm lược Đại Việt, Lý Thường Kiệt chỉ huy 40 vạn quân thủy cùng voi chiến kết hợp với 60.000 bộ binh do Tôn Đản chỉ huy tạo thế gọng kìm tấn công phủ đầu vào đất Tống, phá tan tiền đồn ở Ung Châu. Đáp trả, nhà Tống xua 100.000 quân, 10.000 ngựa và 200.000 dân phu tiến đánh Đại Việt.
Chính trong trận chiến tại phòng tuyến sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã sáng tác bài “thơ thần” Nam quốc sơn hà nổi tiếng. Quân Tống sa vào trận địa bị cắt hoàn toàn đường viện trợ, lương thảo thiếu thốn, không hợp thủy thổ nên mỏi mệt ốm chết rất nhiều. Quân Đại Việt liên tục tập kích khiến quan quân nhà Tống hãi hùng tột cùng, mười phần chết đến sáu, bảy phần. Đêm đêm, Lý Thường Kiệt cho người ngâm nga bài thơ thần từ đền thờ Trương Hống, Trương Hát với lời thơ trầm bổng nhưng uy lực khiến quân Tống càng kinh hồn bạt vía:
Nam quốc sơn hà Nam quốc sơn hà, Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Lời dịch: Sông núi nước Nam Sông núi nước Nam, vua Nam ở, Rành rành định phận tại sách trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm? Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Biết quân Tống đã ở vào thế không thể chịu đựng thêm, để tránh họa binh đao làm lụy tới dân chúng hai nước, Lý Thường Kiệt bèn sai người đi nghị hòa. Chỉ huy quân Tống là Quách Quỳ như vớ được cọc, vội chấp nhận giảng hòa rồi rút tàn quân về nước trong hoảng hốt. Với những chiến công lẫy lừng, Lý Thường Kiệt được phong làm Phụ quốc thái phó, dao thụ chư trấn tiết độ, đồng trung thư môn hạ, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, phụ quốc thượng tướng quân, tước Khai quốc công, sau lại được phong làm Thái úy.
Lý Thường Kiệt mất năm 1105, thọ 87 tuổi. Thương tiếc ông, vua Lý Nhân Tông ban cho ông chức Nhập nội điện đô tri kiểm hiệu thái úy bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt quốc công, thực ấp 1 vạn hộ, đồng thời cho em trai ông là Lý Thường Hiến kế phong tước hầu.



