Lý Viết Mưu – Người chiến sĩ ôm bộc phá trườn qua lửa đạn ở Đông Khê
Trong trận Đông Khê tháng 9-1950, Lý Viết Mưu là chiến sĩ bộ binh thuộc Đại đội 675, Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316. Bị thương nhiều lần khi mang bộc phá tiến vào lô-cốt địch, ông vẫn cố trườn lên đưa khối thuốc nổ vào sát mục tiêu, phá tan hỏa lực địch và hy sinh. Sau đó, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.
Thời kỳ lịch sử: Kháng chiến chống thực dân Pháp – Chiến dịch Biên giới Thu – Đông 1950, trận Đông Khê, tháng 9-1950.
1. Người chiến sĩ trẻ của Cao Bằng
Lý Viết Mưu, còn được một số tài liệu ghi là Lý Văn Mưu, là người dân tộc Tày, quê ở xã Độc Lập, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Theo Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng tỉnh Cao Bằng, ông sinh năm 1934 và hy sinh năm 1950.
Trước khi nhập ngũ, ông đã tham gia công tác thiếu niên ở địa phương phục vụ kháng chiến từ khi còn rất trẻ.
Tháng 3-1950, Lý Viết Mưu nhập ngũ.
Khi hy sinh, ông là chiến sĩ bộ binh thuộc Đại đội 675, Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316.
Như vậy, cuộc đời quân ngũ của Lý Viết Mưu chỉ kéo dài trong một thời gian rất ngắn.
Nhưng chính trong khoảng thời gian ấy, ông đã bước vào một trong những trận đánh quyết liệt nhất của Chiến dịch Biên giới.
Đông Khê.
2. Đông Khê – trận đánh mở đầu Chiến dịch Biên giới
Năm 1950, Bộ Chỉ huy quyết định mở Chiến dịch Biên giới Thu – Đông.
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất là cụm cứ điểm Đông Khê, nằm trên Đường số 4.
Đông Khê có vị trí chiến lược đặc biệt.
Nếu đánh chiếm được nơi này, quân ta có thể phá vỡ một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ của quân Pháp trên tuyến biên giới.
Vì vậy, 6 giờ sáng ngày 16-9-1950, quân ta bắt đầu tiến công Đông Khê.
Trận đánh kéo dài qua nhiều ngày.
Ngày đầu tiên, quân ta lần lượt đánh chiếm các vị trí vòng ngoài nhưng chưa thể tiêu diệt toàn bộ cứ điểm.
Đến chiều 17-9, cuộc tiến công vào khu trung tâm được mở rộng.
Trên các hướng, bộ đội ta phải đối mặt với hệ thống công sự, lô-cốt và hỏa lực mạnh của quân Pháp.
Đây là lúc những người lính bộc phá phải tiến lên.
Chú thích ảnh: Hình ảnh khu di tích cứ điểm Đông Khê hiện nay và tư liệu về trận đánh. Di tích Đông Khê hiện được bảo tồn, phục dựng để ghi nhớ trận đánh mở đầu Chiến dịch Biên giới năm 1950. Ảnh hiện nay chỉ dùng để hình dung địa hình, không phải ảnh chụp trận đánh.
3. Người lính mang khối bộc phá
Trong đêm 17-9-1950, các đơn vị của Trung đoàn 174 tiếp tục tiến công.
Lý Viết Mưu thuộc mũi tiến công của Đại đội 675, Tiểu đoàn 251.
Nhiệm vụ của ông là mang bộc phá đánh vào lô-cốt địch.
Đó là công việc đặc biệt nguy hiểm.
Người mang bộc phá phải tiếp cận rất gần mục tiêu trong khi hỏa lực đối phương tập trung bảo vệ lô-cốt.
Không có khoảng cách an toàn.
Không có nhiều cơ hội quay lại.
Theo tư liệu của Báo Quân đội nhân dân, trong lúc xông lên, Lý Viết Mưu nhiều lần bị thương vào bụng và chân.
Ông quỵ xuống.
Nhưng chưa dừng lại.
Ông lại cố gắng đứng lên.
Rồi tiếp tục trườn về phía trước.
Chú thích ảnh: Ảnh và tranh tái hiện chiến sĩ bộc phá trong kháng chiến chống Pháp chỉ được sử dụng để minh họa bối cảnh. Không có căn cứ để khẳng định nhân vật trong ảnh là Lý Viết Mưu.
4. Trườn lên trong khi đã bị thương
Đây là khoảnh khắc làm nên câu chuyện về Lý Viết Mưu.
Ông đã bị thương.
Cơ thể không còn đủ sức đứng lên bình thường.
Nhưng khối bộc phá vẫn phải được đưa tới mục tiêu.
Theo tư liệu của Báo Quân đội nhân dân, Lý Viết Mưu cắn răng chịu đau, cố trườn lên và đẩy khối thuốc đến sát hầm địch.
Không có những lời nói dài.
Không có một khoảnh khắc được chuẩn bị trước.
Chỉ có một người lính bị thương đang cố đưa khối thuốc nổ đến đúng vị trí.
Tư liệu của tỉnh Cao Bằng cũng ghi nhận ông đã nhiều lần gục xuống vì bị địch bắn nhưng vẫn cố trườn lên đưa bộc phá vào lỗ châu mai, nhằm ngăn chặn hỏa lực từ lô-cốt và mở đường cho bộ đội xung phong.
Đó là một chi tiết rất quan trọng.
Bởi hành động của ông không chỉ nhằm phá một công sự.
Nó nhằm tạo cửa mở cho cả đơn vị.
5. Khối bộc phá phát nổ
Lý Viết Mưu tiếp tục tiến lên.
Khối thuốc nổ được đưa tới sát hầm địch.
Rồi bộc phá phát nổ.
Theo Báo Quân đội nhân dân, vụ nổ còn kích nổ thêm ba khối bộc phá gần đó, khiến hầm ngầm của địch bị phá tan.
Hỏa lực của lô-cốt bị vô hiệu hóa.
Đó chính là thời cơ mà những người lính phía sau chờ đợi.
Quân ta lập tức ào lên.
Lý Viết Mưu đã hoàn thành nhiệm vụ.
Nhưng ông không còn trở về.
Ông hy sinh ngay trong trận đánh.
Một người lính trẻ đã nằm lại ở Đông Khê.
Nhưng cửa mở mà ông tạo ra đã giúp đồng đội tiếp tục tiến công.
Chú thích ảnh: Các lô-cốt và công sự được bảo tồn tại cụm di tích cứ điểm Đông Khê ngày nay. Đây là ảnh di tích hiện tại, không phải ảnh chụp thời điểm Lý Viết Mưu chiến đấu.
6. Một trận đánh – ba người anh hùng
Điều đặc biệt của trận Đông Khê là trong cùng một trận đánh, nhiều chiến sĩ đã lập những chiến công đặc biệt xuất sắc.
Ba cái tên thường được nhắc cùng nhau là:
Lý Viết Mưu.
La Văn Cầu.
Trần Cừ.
La Văn Cầu bị thương nặng ở cánh tay nhưng tiếp tục ôm bộc phá tiến lên.
Trần Cừ, Đại đội trưởng, bị thương nhưng đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai, tạo thời cơ cho đồng đội xung phong.
Còn Lý Viết Mưu, sau nhiều lần bị thương, vẫn cố trườn lên đưa bộc phá sát hầm địch.
Ba người.
Ba hướng chiến đấu.
Ba cách hy sinh và chiến đấu khác nhau.
Nhưng đều diễn ra trong trận Đông Khê.
Báo Quân đội nhân dân ghi nhận rằng tại Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua tháng 5-1952, Lý Viết Mưu, La Văn Cầu và Trần Cừ đều được tặng hoặc truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
7. Từ người lính đã hy sinh đến người Anh hùng
Lý Viết Mưu hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.
Theo hồ sơ được tỉnh Cao Bằng công bố, ông sinh năm 1934, hy sinh năm 1950, quê ở Độc Lập, Quảng Hòa.
Ông chưa kịp trải qua nhiều năm quân ngũ.
Chưa kịp chứng kiến chiến thắng của Chiến dịch Biên giới.
Chưa kịp nhìn thấy Điện Biên Phủ.
Chưa kịp bước sang một cuộc đời hòa bình.
Nhưng chiến công của ông không bị lãng quên.
Theo hồ sơ của tỉnh Cao Bằng, ngày 7-5-1955, Quốc hội truy tặng Lý Viết Mưu Huân chương Quân công hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Đây là điểm cần ghi chính xác.
Một số bài viết về trận Đông Khê dùng cách diễn đạt rằng Lý Viết Mưu và hai đồng đội được “tặng và truy tặng” danh hiệu Anh hùng tại Đại hội tháng 5-1952.
Trong khi hồ sơ nhân vật do tỉnh Cao Bằng công bố ghi rõ mốc 7-5-1955 đối với quyết định truy tặng Lý Viết Mưu. Vì vậy, trong câu chuyện này, tôi ưu tiên mốc có trong hồ sơ địa phương và không khẳng định ông được truy tặng ngay tại Đại hội năm 1952.
Chú thích ảnh: Ảnh tư liệu về Đại hội Chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất năm 1952. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia xác nhận Đại hội diễn ra từ ngày 1 đến 6-5-1952 tại Việt Bắc. Ảnh dùng để minh họa bối cảnh phong trào thi đua, không khẳng định Lý Viết Mưu xuất hiện trong ảnh.
8. Người nằm lại để cửa mở cho đồng đội
Điều khiến câu chuyện Lý Viết Mưu đáng nhớ không chỉ là ông đã hy sinh.
Mà là cách ông chiến đấu trong những giây phút cuối cùng.
Ông bị thương.
Nhưng vẫn tiến lên.
Ông không còn đủ sức đứng.
Nhưng vẫn trườn.
Khối bộc phá vẫn được đưa tới mục tiêu.
Và khi tiếng nổ vang lên, lô-cốt bị phá, hỏa lực bị chặn.
Những người lính phía sau có thể tiến lên.
Chiến tranh đôi khi được quyết định bởi những khoảnh khắc như vậy.
Một người tiến thêm vài mét.
Một khối bộc phá đặt đúng vị trí.
Một lô-cốt bị phá.
Một cửa mở được tạo ra.
Và phía sau cửa mở ấy là cả một đội hình đang chờ thời cơ.
Lý Viết Mưu đã không nhìn thấy những người lính tiến qua cửa mở ấy.
Nhưng chính hành động của ông đã góp phần tạo ra con đường cho họ.
Chú thích ảnh: Ảnh tư liệu về bộ đội trong Chiến dịch Biên giới Thu – Đông 1950, dùng để minh họa hoạt động tiến công của bộ đội. Không gán Lý Viết Mưu vào bất kỳ ảnh nào nếu không có chú thích xác nhận.
9. Đông Khê hôm nay
Hơn bảy thập niên đã trôi qua.
Đông Khê ngày nay không còn là một chiến trường.
Những lô-cốt, công sự từng là nơi diễn ra cuộc chiến đã trở thành một phần của cụm di tích cứ điểm Đông Khê.
Các hạng mục được phục dựng để thế hệ sau có thể hình dung trận đánh năm xưa.
Đến đây, người ta có thể nhìn thấy những dấu tích của hệ thống phòng thủ.
Nhưng điều quan trọng nhất không nằm ở những khối bê tông hay những đoạn hào.
Nó nằm ở những cái tên.
Lý Viết Mưu.
La Văn Cầu.
Trần Cừ.
Và hàng trăm, hàng nghìn người lính khác đã chiến đấu ở Đông Khê.
Báo Cao Bằng ghi nhận cụm di tích Đông Khê hiện là nơi tưởng niệm những người đã chiến đấu và hy sinh trong trận đánh.
Chú thích ảnh: Cụm di tích cứ điểm Đông Khê tại Cao Bằng hiện nay, gồm các công sự, lô-cốt và không gian tưởng niệm. Nguồn ảnh dùng để minh họa địa điểm lịch sử hiện tại.
Lời kết – Người lính đã trườn đến tận lô-cốt
Lý Viết Mưu không có một cuộc đời dài.
Ông sinh năm 1934.
Đến năm 1950, khi Chiến dịch Biên giới diễn ra, ông đã nằm lại ở Đông Khê.
Nhưng trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, ông đã làm một việc mà lịch sử không quên.
Ngày 17-9-1950, giữa trận đánh Đông Khê, ông mang bộc phá tiến về phía lô-cốt địch.
Đạn bắn.
Ông bị thương.
Ông ngã xuống.
Nhưng lại đứng lên.
Rồi lại ngã.
Và cuối cùng, khi không thể đứng được nữa, ông trườn lên.
Từng chút một.
Đưa khối thuốc nổ đến sát hầm địch.
Rồi tiếng nổ vang lên.
Lô-cốt bị phá.
Hỏa lực địch bị chặn.
Đồng đội tiến lên.
Còn Lý Viết Mưu nằm lại.
Có thể chúng ta sẽ không bao giờ biết chính xác ông đã nghĩ gì trong những giây phút cuối cùng.
Vì vậy, không nên thêm vào câu chuyện những lời nói hay suy nghĩ mà tài liệu không ghi lại.
Điều chúng ta biết chắc là ông đã bị thương nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục đưa bộc phá tới mục tiêu.
Và chính điều đó đã đủ để nói về lòng dũng cảm của người lính trẻ.
Đó cũng là nguyên tắc chúng ta cần giữ khi kể những câu chuyện thời hoa lửa:
Không cần thêm thắt để lịch sử trở nên xúc động.
Bởi sự thật đã đủ xúc động rồi.
Một người lính trẻ.
Một khối bộc phá.
Một lô-cốt.
Một trận đánh.
Và một cuộc đời dừng lại ở tuổi còn rất trẻ.
Ngày nay, khi đứng trước những dấu tích còn lại của Đông Khê, chúng ta không thể nhìn thấy người lính Lý Viết Mưu năm xưa.
Nhưng chúng ta có thể hình dung con đường mà ông đã đi.
Một con đường hướng về phía hỏa lực địch.
Một con đường mà ông đã đi đến tận cùng.
Và từ nơi ấy, một cánh cửa đã được mở cho đồng đội.
Lý Viết Mưu không trở về sau trận Đông Khê.
Nhưng cái chết của ông không phải là một sự biến mất.
Tên ông được ghi lại.
Chiến công được ghi lại.
Quê hương ông ghi nhớ.
Và hôm nay, chúng ta kể lại câu chuyện ấy để một người lính trẻ đã nằm xuống hơn bảy mươi năm trước vẫn còn được gọi tên.
Không phải để ca ngợi chiến tranh.
Mà để hiểu chiến tranh đã lấy đi những gì.
Một người thanh niên.
Một tuổi trẻ.
Một tương lai chưa kịp sống.
Và cũng để hiểu vì sao hòa bình hôm nay đáng quý đến thế.
Bởi phía sau hai chữ “hòa bình” là những con người từng đi vào nơi nguy hiểm nhất và không trở về.
Lý Viết Mưu là một trong số họ.
Xin được cúi đầu trước người chiến sĩ trẻ của Cao Bằng – người đã trườn qua lửa đạn để đưa khối bộc phá đến lô-cốt Đông Khê, mở đường cho đồng đội và nằm lại ở tuổi thanh xuân.



