MÁ HƯƠNG
Đoạn hồi ký kể về hình ảnh người mẹ cách mạng – má Hương ở thôn Long Khánh, một cơ sở nuôi giấu bộ đội trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Chồng má tham gia kháng chiến và tập kết ra Bắc sau Hiệp định Genève 1954, còn má và con trai ở lại miền Nam, nhiều lần bị chính quyền Sài Gòn bắt bớ, tra tấn nhưng vẫn kiên trung, không khai báo, không từ bỏ cách mạng. Trong những năm chiến tranh, má Hương vừa nuôi giấu bộ đội, chăm sóc thương binh, vừa làm “trinh sát làng”, thu thập tin tức từ vùng tạm chi
Tên “Cái” của má là gì chúng tôi cũng chẳng ai hay, mọi người trong đơn vị thường gọi má là má Hương và cũng có người gọi là má Ngọc. Hương là tên người chồng của má, ông tham gia kháng chiến hồi 1949-1950, là cán bộ huyện An Lão. Sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết, ông cùng đoàn cán bộ của tỉnh ra tập kết ở miền Bắc. Còn Ngọc là tên người con trai duy nhất của ông bà, khi ông đi tập kết, Ngọc mới được 2 tuổi.
Chúng tôi nghe má kể lại, khoảng từ năm 1957 đến cuối 1959, bọn chính quyền Nguỵ ở cơ sở ra sức bắt bớ giam cầm, tra tấn những người trong các gia đình mà chúng gọi là “Kháng chiến cũ”. Đối với má, mỗi năm cũng phải 3, 4 lần chúng gọi lên quận giam giữ, tra hỏi, đánh đập, bắt phải khai báo về việc liên lạc với chồng và bắt má làm giấy li khai ông Hương, vì ông hoạt động kháng chiến, là “phản bội Quốc gia”. Mỗi lần chúng tra tấn, thân hình má tím bầm ngày càng tiều tuỵ, có lần chết đi sống lại. Nhờ có sự giác ngộ cao độ về lòng căm thù bè lũ cướp nước và bọn bán nước, má Hương tỏ ra là người “bướng bỉnh”, chẳng bao giờ khai ra một điều gì có hại cho Cách mạng. Bọn mật vụ cứ nghe tên má ở thôn Long Khánh là chúng đã “ngán ngẩm” rồi, chúng bảo “Con mụ này ngoan cố” lắm, đánh mấy cũng không hề khai báo được chút gì, cũng không làm giấy li khai “Cộng sản”.
Từ cuối năm 1972 trở đi, đơn vị chúng tôi lấy thôn Long Khánh làm hậu cứ. Thôn Long Khánh nằm sát trục đường chiến lược số 5 từ Bình Định qua Quảng Ngãi, cách thị trấn, quận lỵ An Lão chừng 4,5km. Sau chiến dịch, đơn vị lại về đây củng cố rút kinh nghiệm và chuẩn bị mọi mặt cho những trận đánh tiếp sau. Ở nhà má Hương, bọn tôi được má chăm sóc quý mến như chính đứa con má sanh ra.
Mỗi khi ở mặt trận về, má chú ý xem, những đứa nào trong số chúng tôi vắng mặt. Đứa nào vắng là má đã “nghi nghi” rồi. Má nói “đánh nhau thì phải mất mát tránh sao khỏi, cầu mong cho tụi bay tai qua nạn khỏi là má mừng rồi”.
Bao giờ cũng vậy, mỗi khi chúng tôi từ trận địa về, má cũng nấu nồi xôi hoặc bí lắm cũng luộc mấy củ mì (sắn), thắp hương khấn tổ tiên rồi gọi tất cả bọn tôi tới “liên hoan”, má gọi đó là “Mừng thắng lợi”. Má bảo “Nhà má nghèo lắm, không có gì giúp các con bằng vật chất, má chỉ có tinh thần và giúp được việc gì thì má sẵn lòng”.
Bữa “liên hoan” hôm nay thiếu thằng Quyết, má hơi buồn. Má bảo: “Tụi bay giấu má chứ thằng Quyết nó hi sinh rồi. Tội nghiệp cho nó, có được mai táng tử tế không”. Tối đó má lại nấu xôi và cắt một nải chuối đã ương ương ngoài vườn. Xôi chuối đặt lên một cái bàn nhỏ thắp hương, má lầm bầm khấn khấn, vái vái hương hồn thằng Quyết. Sau đó má lại gọi mọi người đến ăn, má bảo không ăn là chê của má, là có tội với người đã ra đi. Tụi bay phải ăn, có nhiều ăn nhiều, có ít ăn ít cho má vui.
Quyết là lớp thanh niên còn rất trẻ, quê ở Yên Dũng, tỉnh Hà Bắc (cũ). Học xong phổ thông tình nguyện vào Nam chiến đấu, được bổ sung về đơn vị. Hiền lành, chịu khó lại bảnh trai, cả đơn vị ai cũng quý mến. Đặc biệt má Hương thì coi Quyết như đứa con đẻ ra, có cái gì cũng dành phần “thằng Út”. Làm vườn về kiếm được củ mì (sắn) cho vào bếp nướng cũng dành cho thằng Út. Má bảo má không có con gái, nhưng sau thắng lợi, nếu thằng Út nó ưng thì má làm mai đứa cháu gái của má cho, rồi ở đây với má.
Chúng tôi ở nhà má, ngày nào cũng vậy, má ra vườn, lên nương, ra bờ suối hái đủ thứ rau: rau muống, rau dền, rau tàu bay, rau sắn, rau dệu v.v... gọi là rau tập tàng hàng rổ mang về cho nuôi quân. Má bảo để “bồi dưỡng” cho tụi nó. Chiều đến cầm cái giỏ, má lại “lang thang” đi ra gần thị trấn An Lão để nghe ngóng và nắm tình hình, vì ở cái thị trấn miền núi này có các “bà buôn” từ thị trấn Bồng Sơn và thị xã Quy Nhơn về. Địch có làm gì là các bà nắm được hết, bởi ta có cơ sở ở vùng tạm chiếm cung cấp tin tức qua hệ thống các “bà buôn”. Cứ như thế hết ngày này qua ngày khác, công việc của má cứ đều đều, có nhiều tin má cung cấp rất có giá trị, giúp cho ta chủ động đối phó với địch, vừa giành thắng lợi vừa bớt tổn thất. Mọi người phong cho má danh hiệu “Trinh sát làng”.
Ngọc là đứa con trai duy nhất của má. Khi ba Hương đi tập kết, Ngọc mới 2 tuổi chưa biết gì, lúc chúng tôi về ở nhà má thì Ngọc đã ở tuổi thanh niên. Ngọc hăng hái hoạt động, đã tham gia làm liên lạc cho xã đội. Ban đêm tham gia tuần tra, canh gác để bảo vệ vùng giải phóng. Khi có công văn của xã đội, dù khó khăn mấy Ngọc cũng hoàn thành. Đã mấy lần Ngọc gặp tôi nằng nặc xin vào Bộ đội Giải phóng, Ngọc nói: “Ở nhà buồn lắm, nhất là khi bộ đội hành quân đi thì buồn ơi là buồn”. Nhưng khốn nỗi, má Hương có chồng đi tập kết, ở nhà má chỉ có mỗi mình Ngọc nên các anh ở xã có ý định giữ Ngọc ở lại hoạt động để bồi dưỡng nguồn Xã Đội trưởng khi cần và lại nữa, để má đỡ trống vắng. Vì theo các đơn vị ở địa phương cho biết thì Ngọc là một trong số thanh niên trung kiên của địa phương. Hỏi ý kiến má thì má chỉ trả lời: “Tao chỉ có mình nó. Bọn bay muốn làm sao cũng được. Vào Quân Giải phóng cũng được, ở nhà hoạt động cũng được, miễn sao nó xứng đáng với ba nó ngoài kia, nó hoạt động tốt là má mừng”.
Những lúc yên tĩnh, má ngồi nhai trầu và giãi bày tâm sự, má bảo: “giá như nó chấp hành đúng Hiệp định thì đâu đến nỗi. Chỉ hai năm sau hiệp thương thống nhất đất nước làm sao tụi tao phải khổ thế này, tụi bay làm gì phải ngoài ấy vào đây mà gian khổ, hi sinh như vậy. Tất cả là do bọn cướp nước và quân bán nước mà thôi”. Trầm ngâm một lúc, má nói tiếp: “Các con có biết không, cái thôn Long Khánh này rất rộng, người rất đông, đất đai màu mỡ, xóm làng trù phú như thế mà bây giờ thì trông thật hoang tàn, chỉ còn lưa thưa mươi lăm gia đình. Ruộng đất thì hoang hoá, cây cối thì bom pháo, chất độc hoá học nó làm trụi sạch trơn. Ôi, không đánh thì nó cũng làm khổ dân mình, cho nên phải đánh. Cụ Hồ đã dạy phải quyết giành lấy Độc lập, Tự do kia mà. Đánh thì hao người tốn của, có hao người tốn của thì mới mong có ngày hoà bình. Má chỉ mong sao đến ngày đó, lúc đó có chết cũng sướng”. Nghe những lời tâm sự của má, lòng chúng tôi như nghẹn lại. Vâng thưa má, chúng con hiểu, phải đánh để giành lấy độc lập tự do, mất độc lập tự do là mất tất cả.
Thế rồi chiến dịch Xuân Hè 1975 đến, chúng tôi lại ra đi. Trước ngày chúng tôi lên đường, má lại nấu xôi, lần này má nấu xôi trộn dừa nạc. Cúng tổ tiên xong má lại gọi tất cả vào ăn, thằng nào vắng má để phần. Vừa ăn má vừa dặn dò: “Các con ra trận nhớ về đông đủ nghe, tụi bay đi má buồn lắm đó. Má dặn điều này, ra trận đánh nhau phải cẩn thận đó nghe, cẩn thận không bao giờ thừa, má chỉ mong thắng trận trở về đông đủ là má mừng rồi...”. Chúng tôi đều im lặng, thấm từng lời má nói. Chính má đã lo cho chúng tôi tất cả, má lo cho chúng tôi như đứa con đẻ của mình. Bỗng tôi lại nhớ đến bài thơ của nhà thơ Tố Hữu:
“Bao bà cụ từ tâm làm mẹ
Yêu quý con như đẻ con ra”
Lại nhớ đến người mẹ già của tôi ở miền quê xa xôi, chắc giờ đây mẹ cũng trông mong tôi “chân cứng đá mềm” và lại nữa, mong đến ngày toàn thắng trở về. Thế là chiến dịch Xuân Hè 1975 ấy, chúng tôi đi và cứ thế đi mãi cho tới chân trời góc biển, đến nơi tận cùng Tổ quốc, vì “vận nước” đã đến rồi. Thời cơ bao nhiêu năm cuộc chiến đấu đầy hi sinh gian khổ, ngày thắng lợi hoàn toàn đã đến rồi, không thể chần chừ được nữa. Giải phóng xong Bình Định chúng tôi được vinh dự tham gia chiến dịch cuối cùng mang tên Bác – Chiến dịch Hồ Chí Minh, cùng các đơn vị bạn đánh đuổi giặc như thế “chẻ tre”. Ngày 30-4, lúc 11 giờ 30 phút, Sài Gòn giải phóng, cờ Cách mạng phần phật bay trên nóc toà nhà “Dinh độc lập” thì đạo quân của chúng tôi có mặt tại thành phố Vũng Tàu, thành phố xinh đẹp trên bờ biển Đông ấy, dưới ánh nắng vàng rực rỡ hoà quyện với màu xanh của biển cả đã chứng kiến sự thất bại thảm hại của chế độ Nguỵ Sài Gòn do đế quốc Mỹ đã dựng lên. Hôm nay, đầy đường đầy bãi, đâu đâu cũng thấy giày đinh, mũ sắt, vũ khí trang bị vứt ngổn ngang toàn của Mỹ, đã trở thành bãi rác khổng lồ. Sau ngày đó chúng tôi cùng nhân dân dọn dẹp để khỏi ô uế mùi chiến tranh, dọn để mảnh đất này mãi mãi xanh tươi, cho nước biển Đông này mãi mãi trong xanh.
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, chúng tôi lại về làng Long Khánh, về thăm má Hương. Vừa đến đầu làng, thì bà con trong thôn ùa ra đón, ai ai cũng mừng mừng tủi tủi. Riêng má Hương, đôi mắt đỏ hoe, má hỏi cụ thể từng người có khỏe không, có đứa nào sao không. Bây giờ hết giặc rồi, tụi bay có về với má, với bà con ở cái làng Long Khánh này nữa không. Chắc giải phóng rồi tụi bay về phố xá ở chứ gì? Má vừa nói vừa suy ngẫm những điều gì sâu kín.
Thế là từ đó chúng tôi xa má Hương, xa làng Long Khánh thân yêu ấy. Chính má và mảnh đất ấy đã bao năm chở che nuôi dưỡng chúng tôi, tạo cho chúng tôi sức mạnh và niềm tin tất thắng. Tôi còn nhớ đã nhiều lần, đồng chí Nguyễn Trọng Dy, Chính uỷ trung đoàn tôi thường nói với mọi người trong đơn vị: “Mỗi suy nghĩ, mỗi việc làm của các bà má miền Nam nói chung và má Hương ở thôn Long Khánh nói riêng làm cho chúng ta cứng cáp hơn, vững vàng hơn trong cuộc chiến đấu đầy khó khăn gian khổ này. Đó chính là sức mạnh tinh thần chỉ có cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mới có”. Thời gian đã 35 năm rồi, chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng, nhưng hình ảnh má Hương và thôn Long Khánh thân yêu không bao giờ tôi quên được.


